Lỗ Ban Ký Sự - Chương 5: Tiếng Gõ Trong Tường

Gió mùa thu thổi qua những rặng liễu rủ dọc bờ kênh trấn Nam Tầm, cuốn theo mùi bùn non ngai ngái và mùi tơ tằm luộc chín nồng nặc từ các xưởng dệt hai…

Nội dung chương

Gió mùa thu thổi qua những rặng liễu rủ dọc bờ kênh trấn Nam Tầm, cuốn theo mùi bùn non ngai ngái và mùi tơ tằm luộc chín nồng nặc từ các xưởng dệt hai bên bờ sông. Trấn Nam Tầm đất chật người đông, nổi danh khắp cõi Giang Nam nhờ nghề ươm tơ dệt lụa. Những dãy nhà gạch ngói san sát, tường quét vôi trắng đã ngả màu rêu mốc, mái ngói âm dương uốn lượn như vảy cá xếp tầng dưới bầu trời xám xịt lúc hoàng hôn.

Thẩm Mặc Đẩu một tay cầm chiếc thước câu bằng gỗ mun viền đồng, vai quẩy chiếc hòm đồ nghề mộc cũ kỹ, bước qua cây cầu đá hình bán nguyệt bắc ngang con rạch lớn. Lão lần theo địa chỉ ghi trên tờ giấy manh mà người giao thiệp đưa cho, tìm đến một đại viện ba gian hai chái nằm nép mình ở cuối con ngõ lát đá xanh thuộc phường Dệt.

Trước cổng căn nhà lớn treo hai chiếc lồng đèn lụa hình quả bí, lớp lụa căng mặt ngoài đã rách bươm, bụi than bám đen kịt chung quanh miệng đèn. Cánh cổng gỗ lim đóng chặt, then cài then chốt nặng trềnh trệch. Thẩm Mặc Đẩu gõ ba tiếng đanh gọn lên vòng đồng gắn giữa cổng.

Một lát sau, tiếng bước chân lẹp xẹp vang lên bên trong. Cửa hé mở một khe nhỏ, một gã đàn ông trạc ngoài bốn mươi tuổi ló đầu ra nhìn.

Người này mặc áo cộc tay bằng lụa đắt tiền nhưng vạt áo xộc xệch, cúc áo cài lệch một nấc. Khuôn mặt gã hốc hác, da dẻ xám ngoét như tro tàn, hai hốc mắt thâm quầng sâu hoắm, lòng trắng vằn lên những tia máu đỏ lòm. Đó chính là Tống Quý Sơn, chủ xưởng dệt họ Tống nức tiếng cả vùng phố lụa.

Vừa nhìn thấy chiếc hòm đồ nghề mộc và cây thước câu trên tay Thẩm Mặc Đẩu, đôi mắt đờ đẫn của Tống Quý Sơn chợt sáng lên. Gã vội vàng mở toang cánh cổng, nắm chặt lấy ống tay áo lão mộc sư kéo tuột vào trong sân:

- Thẩm sư phó! Cuối cùng ngài cũng tới! Mau, mau vào trong nhà cứu mạng cả nhà tôi!

Sân trong của Tống gia lát gạch Bát Tràng vuông vức, hai bên kê ngay ngắn những giàn phơi khung cửi và sào treo lụa. Những dải lụa màu mộc chưa nhuộm rủ dài xuống đất, nhưng chẳng ai buồn thu dọn, để mặc cho sương chiều làm ẩm ướt, bốc lên mùi chua nồng của kén tằm úng nước. Cả cơ ngơi rộng lớn toát ra vẻ tiêu điều, lạnh lẽo đến kỳ quặc, không hề có lấy một tiếng thoi đưa lách cách vốn là nhịp sống quen thuộc của một nhà dệt lớn.

Tống Quý Sơn dẫn Thẩm Mặc Đẩu vào gian nhà chính, run rẩy rót một chén trà nguội ngắt mời lão. Tay gã run bần bật làm nước trà sánh cả ra mặt bàn gỗ gụ.

- Tống gia chủ, trong thư nhờ cậy ông nói trong nhà có chuyện quái dị

Thẩm Mặc Đẩu đặt thước câu lên bàn, nhìn thẳng vào vẻ mặt hoảng loạn của chủ nhà:

- Rốt cuộc xảy ra chuyện gì mà một thương nhân lớn như ông lại ra nông nỗi này?

Tống Quý Sơn ngồi sụp xuống ghế, hai bàn tay ôm chặt lấy đầu, giọng khàn đặc:

- Thẩm sư phó, căn nhà này... có ma! Không, nói đúng hơn là vách buồng ngủ của tôi bị ma ám! Ba tháng nay, không có đêm nào tôi chợp mắt được quá nửa canh giờ.

Gã bắt đầu kể, giọng run rẩy đứt quãng. Ngôi nhà này do gã xây cất lại vào mùa đông năm ngoái sau một vụ làm ăn lớn trúng đậm. Gian nhà chính và phòng ngủ đều dùng gỗ tốt, thợ dựng khung xà vững chãi, mộng mẹo kín khít. Mọi chuyện êm đẹp suốt nửa năm đầu, xưởng dệt làm ăn phát đạt, tiền của đổ về như nước.

Thế nhưng bắt đầu từ đầu mùa thu năm nay, tai họa liên tiếp ập xuống đầu Tống gia.

Mỗi đêm, cứ đúng vào giờ Tý chuyển sang giờ Sửu. Ngoài đường canh ba vừa điểm xong tiếng trống cuối cùng, từ sâu bên trong vách gỗ ngăn giữa buồng ngủ của Tống Quý Sơn và gian hành lang phía sau lại bắt đầu phát ra âm thanh lạ lùng.

- Ban đầu nó chỉ là những tiếng cộc cộc rất khẽ

Tống Quý Sơn nuốt nước bọt, cổ họng giật giật:

- Âm thanh đều đặn, cách nhau đúng nửa nhịp thở, hệt như có người đứng ngoài cửa lấy đốt ngón tay gõ nhẹ vào ván gỗ xin vào phòng. Tôi nghĩ là người làm trong nhà có việc gấp, liền ngồi dậy ra mở then cửa buồng. Nhưng mở cửa ra, hành lang tối om, không một bóng người. Tôi quay vào giường nằm xuống, tiếng gõ lại nổi lên ngay lập tức, lần này to hơn, vang dội hơn, từng tiếng cộc cộc nện thẳng vào đầu giường nằm của tôi!

Suốt ba tháng ròng rã, không sót một đêm nào tiếng gõ ấy ngưng nghỉ. Cứ canh ba bắt đầu, tiếng gõ vang lên liên tục cho tới tận khi gà gáy sáng canh năm mới im bặt. Tống Quý Sơn ban đầu tưởng là chuột gặm vách, cho dỡ từng thanh nẹp chân tường ra rải bả, nhưng vách gỗ trống trơn không có một hạt phân chuột. Gã lại rước thầy cúng về dán bùa trừ tà đỏ rực khắp vách, nhưng bùa dán lên chưa đầy ba ngày đã tự bong tróc rơi xuống đất, còn tiếng gõ ban đêm thì ngày một dữ dội, dồn dập như tiếng búa nện.

Mất ngủ kinh niên khiến thần trí Tống Quý Sơn suy sụp hoàn toàn. Ban ngày gã lú lẫn tính nhầm sổ sách, buôn ba chuyến lụa lớn lên mạn Tô Châu thì hụt cả ba chuyến vì giao hàng trễ hẹn, bạn hàng quen đồng loạt cắt đứt mối làm ăn. Cách đây mười ngày, xưởng dệt phía sau bất cẩn để tàn lửa bén vào kho tơ, thiêu rụi hơn hai mươi cây lụa thượng hạng.

Vợ gã vì quá sợ hãi và kiệt quệ tinh thần nên sinh ra cáu bẳn, suốt ngày nghi kỵ chồng giấu của cải cho nhân tình bên ngoài rồi rước họa về nhà. Cơm chẳng lành canh chẳng ngọt, hai vợ chồng cãi vã, đập phá đồ đạc liên miên.

Đang lúc Tống Quý Sơn than thở, một người phụ nữ trẻ tay bế một đứa bé trai chừng bốn, năm tuổi từ gian trong bước ra. Khuôn mặt người vợ cũng hốc hác, bơ phờ, đôi mắt đỏ hoe ngấn nước. Đứa bé trên tay ả gầy rộc, hai má hóp lại, cổ khẳng khiu như cọng rơm, đôi mắt to tròn dại đi vì thiếu ngủ.

Nhìn thấy người lạ mang hòm đồ nghề thợ mộc, đứa bé bỗng nhiên chỉ ngón tay khẳng khiu về phía vách buồng ngủ, cất giọng the thé ngọng nghịu:

- Chú gỗ... chú gỗ trong tường lại sắp thức dậy rồi. Đêm nào chú ấy cũng khóc... Chú ấy bảo chân chú ấy đau lắm, chú ấy mỏi tay lắm...

Người mẹ giật mình, vội vàng lấy vạt áo bịt miệng con trai lại, kéo thằng bé nép sát vào người mình, cả thân hình ả run lên bần bật.

Thẩm Mặc Đẩu nhíu mày. Lão đứng dậy, bước lại gần đứa trẻ, hạ giọng hỏi nhẹ nhàng:

- Cháu bé, cháu nhìn thấy chú gỗ ở đâu? Chú ấy nói gì với cháu?

Thằng bé nhìn vẻ mặt hiền từ của lão mộc sư già, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào góc vách gỗ sát mép giường lớn trong buồng ngủ:

- Chú ấy ở trong đó... Chú ấy đứng một chân, tay giơ lên gõ cộc cộc... Chú ấy bảo phòng tối quá, chú ấy muốn ra ngoài...

Tống Quý Sơn nghe con nói thì mặt cắt không còn giọt máu, ôm chặt lấy trán gào lên:

- Thẩm sư phó! Ngài nghe thấy chưa? Thằng bé nhà tôi từ nhỏ vốn yếu bóng vía, nó nhìn thấy thứ dơ bẩn trong nhà rồi! Ngài là mộc sư hiểu luật Lỗ Ban, xin ngài cứu lấy đứa con độc nhất của tôi!

Thẩm Mặc Đẩu không vội trả lời. Lão xách chiếc thước câu bước vào gian buồng ngủ chính của Tống gia.

Căn buồng rộng chừng hai gian, trần nhà đóng ván mộng kín kẽ. Đồ đạc trong phòng toàn bằng danh mộc đắt tiền nhưng xếp đặt bừa bãi, gối chăn xộc xệch. Toàn bộ bức vách phía tây ngăn giữa buồng ngủ và hành lang hậu được ghép bằng những tấm ván gỗ thông bản rộng một thước. Dày hai phân, mộng âm dương ghép chặt chẽ, bên ngoài quét một lớp dầu bóng màu cánh gián phẳng phiu.

Thẩm Mặc Đẩu rút chiếc búa con cán ngắn từ trong hòm đồ nghề ra. Lão bắt đầu dùng chuôi gỗ của búa gõ nhẹ từng nhịp dọc theo các thớ gỗ của bức vách, từ trên đỉnh xà ngang rà dần xuống tận chân nẹp sát nền gạch.

Cốc... cốc... cốc...

Âm thanh phát ra từ thân gỗ thông rất vang và trong trẻo. Đó là tiếng kêu của loại gỗ khô ráo, không bị mối mọt đục khoét hay rỗng ruột.

Thế nhưng, khi chuôi búa của Thẩm Mặc Đẩu gõ tới tấm ván thứ ba tính từ góc phòng bên phải:

- đúng vị trí đầu giường ngủ của Tống Quý Sơn

- âm thanh bỗng nhiên đổi khác.

Bộp... bịch...

Tiếng kêu trầm đục và nghẽn lại, giống như phía sau tấm ván này có một vật cản lớn đang chèn chặt lấy khoang rỗng bên trong.

Thẩm Mặc Đẩu cúi rạp người xuống, đưa mắt nhìn thật sát vào bề mặt tấm ván thứ ba. Lão đưa ngón tay cái thô ráp miết nhẹ dọc theo đường vân gỗ.

Dưới ánh sáng le lói hắt vào từ cửa sổ, mắt nghề sắc bén của lão mộc sư lập tức nhận ra điểm bất thường. Toàn bộ bức vách đều dùng gỗ thông ba mươi năm tuổi, thớ thẳng, vân mịn màu vàng rơm. Riêng tấm ván thứ ba lại có vân gỗ xoắn vặn ngược chiều, màu gỗ sẫm hơn hẳn một bậc, rõ ràng là một khúc gỗ thông già khác tuổi bị cố tình trà trộn vào trong lúc ráp khung.

Chưa hết, tại đường mộng ghép giữa tấm ván thứ ba và cột cái, mép khe hở có một vệt sáp ong màu nâu xám được trét rất khéo léo để che giấu dấu vết đục đẽo chắp vá.

Thẩm Mặc Đẩu quay người lại, nhìn thẳng vào mắt Tống Quý Sơn đang đứng bồn chồn ngoài cửa buồng:

- Tống gia chủ, lúc dựng ngôi nhà này vào mùa đông năm ngoái, ông thuê đội thợ mộc nào thi công?

Tống Quý Sơn giật thót người, ánh mắt lảng tránh nhìn xuống mũi giày thêu, hai bàn tay xoắn chặt vào nhau:

- À... chuyện đó... Là một đội thợ lưu động từ mạn bắc sông Trường Giang dạt xuống. Họ làm xong việc, nhận tiền rồi đi ngay trong đêm giao thừa. Tôi... tôi buôn bán bận rộn, đâu có nhớ rõ tên họ của từng người.

- Thợ dựng một đại viện ba gian bề thế thế này ít nhất phải có năm bảy người, làm việc ròng rã bốn năm tháng trời trong nhà ông.

Thẩm Mặc Đẩu nhấn mạnh từng chữ, giọng lạnh băng:

- Ông là chủ nhà, ăn ở chung đụng, trả tiền công từng kỳ. Lẽ nào không nhớ nổi họ tên người thợ cả?

Mồ hôi hột trên trán Tống Quý Sơn rỉ ra nhiều hơn, gã ấp úng:

- Tôi... tôi chỉ nhớ người thợ cả mang họ Ngụy, trạc ngũ tuần, tính tình lầm lì ít nói. Làm xong nhà thì họ rời đi luôn, không để lại tông tích gì cả. Thẩm sư phó, chuyện thợ thuyền đó thì có can hệ gì tới tiếng ma gõ cửa trong vách này chứ?

Thẩm Mặc Đẩu khẽ nhếch mép, không vạch trần vẻ gian dối lộ liễu của gã chủ nhà. Trong nghề mộc Lỗ Ban, phàm là những ngôi nhà tự nhiên phát sinh dị tượng sau khi xây cất xong, chín phần mười đều bắt nguồn từ ân oán giữa chủ nhà và thợ dựng. Nhưng khi chân tướng chưa lộ rõ, quy củ của môn phái không cho phép lão tùy tiện phán xét.

- Được rồi

Thẩm Mặc Đẩu gật đầu:

- Tối nay tôi sẽ ở lại trong buồng ngủ này canh gác. Cứ đợi đến canh ba, nghe rõ tiếng gõ rồi sẽ biết bên trong vách gỗ này đang chứa thứ gì.

Tống Quý Sơn nghe vậy thì vừa mừng vừa sợ, vội vã sai người làm dọn dẹp buồng ngủ, mang chăn đệm sạch sẽ trải ra giường rồi dắt vợ con dọn sang gian nhà phụ phía đông lánh nạn.

Màn đêm buông xuống rất nhanh trên trấn Nam Tầm.

Những ngọn đèn dầu dọc theo các con phố tơ lụa lần lượt tắt ngấm. Tiếng sóng vỗ ì ọp vào chân kè đá bên bờ kênh hòa lẫn với tiếng gió rít qua những khe ngói trên mái nhà. Không gian trong đại viện họ Tống đặc quánh một màu đen u tịch, chỉ còn tiếng tích tắc khô khốc của chiếc đồng hồ quả lắc đặt ở gian ngoài.

Trong buồng ngủ chính, Thẩm Mặc Đẩu không thắp đèn lồng lớn mà chỉ châm một ngọn đèn dầu lạc nhỏ đặt ở góc phòng xa nhất, tim đèn vặn nhỏ bằng hạt đỗ, tỏa ra ánh sáng vàng vọt tù mù.

Lão mộc sư ngồi xếp bằng trên một chiếc ghế đẩu bằng gỗ thông, đặt ngay đối diện với tấm vách gỗ kỳ lạ. Chiếc hòm đồ nghề mở sẵn nắp để dưới chân, cuốn sổ da thú màu nâu sẫm nằm ngay ngắn bên cạnh cây thước câu mun viền đồng.

Tống Quý Sơn vì quá sốt ruột và lo sợ nên không dám đi ngủ, gã lén lút lẻn vào phòng, ngồi co ro ở góc giường lớn. Hai tay ôm chặt lấy đầu gối, trùm kín chiếc chăn bông lên tận cổ nhưng hàm răng vẫn va vào nhau lập cập vì lạnh và sợ.

Thời gian trôi qua nặng nề như từng giọt chì nóng rớt xuống mặt đá.

Xa xa ngoài đầu ngõ, tiếng mõ điểm canh của người phu tuần đêm bắt đầu vọng lại.

Cốc... cốc... cheng!

Ba tiếng gõ chập chùng, kéo dài đơn độc trong đêm vắng.

Đã đúng canh ba.

Ngay khi dư âm tiếng mõ điểm canh vừa dứt hẳn ngoài ngõ, không khí trong gian buồng ngủ bỗng nhiên lạnh toát. Ngọn lửa nhỏ của cây đèn dầu lạc ở góc phòng chao đảo dữ dội, ngả sang màu xanh lét rồi rụt lại chỉ còn bằng đầu tăm hương. Mùi dầu bóng trên vách gỗ biến mất, thay vào đó là mùi gỗ mục ẩm ướt nồng nặc xộc thẳng vào mũi, hệt như mùi của một cỗ quan tài lâu năm vừa bị đào xới lên khỏi lòng đất sình lầy.

Tống Quý Sơn rúm người lại dưới lớp chăn bông, hai mắt trợn trừng nhìn trân trân vào góc tường.

Cộc.

Một tiếng gõ khô khốc, đanh gọn vang lên từ bên trong thớ gỗ của tấm ván thứ ba.

Cộc. Cộc. Cộc.

Âm thanh nối tiếp nhau nổi lên, nhịp nhàng, đều đặn đến rợn người. Tiếng gõ không phải phát ra từ bề mặt ngoài của tấm ván, mà phát ra từ tận sâu bên trong khoang rỗng nằm giữa hai lớp ván ngăn. Mỗi một tiếng gõ nện xuống đều mang theo một lực rung nhẹ làm bụi gỗ li ti bám trên kẽ mộng bay lả tả ra ngoài không khí.

Nhịp điệu của tiếng gõ ấy nghe vô cùng quen thuộc đối với một người thợ mộc cả đời cầm búa như Thẩm Mặc Đẩu. Đó chính là nhịp búa gõ đục khi người thợ đang tỉ mẩn khoét từng đường mộng gỗ, cứ hai tiếng gõ ngắn lại đến một tiếng nện dài dứt khoát.

Tống Quý Sơn run rẩy chỉ tay vào vách tường, muốn há miệng kêu cứu nhưng cổ họng nghẹn ứ lại, không phát ra được thành tiếng.

Thẩm Mặc Đẩu đứng dậy, bước từng bước chân nhẹ bẫng lại gần tấm ván gỗ thứ ba. Ánh mắt lão chăm chú quan sát bề mặt thớ gỗ dưới ánh đèn le lói.

Tiếng gõ bên trong vách tường càng lúc càng dồn dập, mạnh mẽ hơn, như thể thứ gì đó đang dùng hết chút tàn lực cuối cùng để đập phá lớp ván gỗ hòng thoát thân ra ngoài.

Thẩm Mặc Đẩu nghiêng đầu, áp sát tai phải vào mặt ván gỗ lạnh ngắt.

Gỗ thông truyền âm cực tốt. Qua lớp ván dày hai phân, lão không chỉ nghe thấy tiếng gõ "cộc cộc" đanh thép của một khúc gỗ đặc nện vào thân ván, mà còn nghe thấy một âm thanh khác kinh hãi hơn gấp bội.

Từ trong khoảng trống hẹp hòi, tối tăm và ngột ngạt sau lớp vách, rõ ràng đang phát ra tiếng thở dốc hổn hển, đứt quãng của một con người. Tiếng thở ấy nghe nặng nề, mệt nhọc và đau đớn cùng cực. Giống hệt như tiếng thở hắt ra của một người phu mộc đang phải gồng mình vác một súc gỗ ngàn cân giữa trời đông giá rét mà không được phép đặt xuống nghỉ ngơi.

Lão mộc sư nín thở, lắng nghe từng nhịp thở mỏi mòn đang hòa lẫn với từng nhịp gõ khô khốc bên trong lòng gỗ.

Ngay lúc Thẩm Mặc Đẩu vừa khẽ dịch tai định lùi lại để lấy đồ nghề kiểm tra mép mộng, thì tiếng gõ bỗng nhiên dừng bặt.

Không gian trong phòng ngủ rơi vào một sự tĩnh lặng tuyệt đối đến nghẹt thở.

Rồi, từ khe hở nhỏ trét sáp ong ở chân tấm ván, một giọng nói non nớt, the thé và lạnh buốt như hơi thở từ dưới đáy mồ bỗng cất lên rành rọt từng tiếng:

- Mở cửa cho chú... chú mỏi tay rồi...

Chương khác

Xem thêm