Lỗ Ban Ký Sự - Chương 7: Báo Ứng Nhãn Tiền

Trời chưa sáng rõ, sương mù từ dòng kênh bên ngoài đã tràn qua tường hoa, phủ lên sân gạch đại viện họ Tống một màn ẩm ướt lờ mờ. Tống Quý Sơn đứng ở…

Nội dung chương

Trời chưa sáng rõ, sương mù từ dòng kênh bên ngoài đã tràn qua tường hoa, phủ lên sân gạch đại viện họ Tống một màn ẩm ướt lờ mờ. Tống Quý Sơn đứng ở gian tiền sảnh, hai mắt đỏ ngầu tơ máu vì thức trắng cả đêm, vội vã chỉ trỏ đám gia nhân thu xếp hành lý.

Trên chiếc bàn bát tiên giữa sảnh, hai chiếc hòm gỗ mun mở toang nắp, bên trong lấp lánh ánh bạc của từng thỏi ngân lượng xếp ngay ngắn thành từng hàng. Hai trăm lượng bạc trắng nguyên đai nguyên kiện, nặng trịch, phát ra hơi lạnh ngắt của kim loại. Số bạc này gấp đôi toàn bộ tiền công mà đội thợ mộc của Ngụy thợ cả bị quỵt năm năm về trước, kèm theo tiền thuốc men và bồi thường dưỡng lão.

Cạnh hòm bạc là một phong thư bằng giấy xuyến đỏ, bên trong là bức thư do chính tay Tống Quý Sơn nắn nót viết từng chữ, đóng dấu triện đỏ tươi của gia tộc họ Tống. Trong thư ghi rõ từng hành vi xảo trá, ức hiếp người làm nghề năm xưa, cúi đầu nhận tội và cầu xin sự tha thứ từ Ngụy gia.

Tống Quý Sơn quay sang người cháu họ tên là Tống Thuận, giọng khàn đặc dặn dò:

- Cháu theo đường thủy, đi thuyền nhanh nhất về mạn nam Thái Hồ. Tìm cho bằng được nhà Ngụy thợ cả ở thôn Ngô Gia. Tới nơi, trước hết dập đầu tạ tội trước cổng, sau đó tự tay dâng hai hòm bạc này cùng bức thư sám hối cho ông ấy. Dù Ngụy lão gia có mắng chửi, có nhổ nước bọt vào mặt, cháu cũng phải quỳ gối chịu đựng, tuyệt đối không được lộ ra nửa phần bất kính. Chờ Ngụy lão gia nhận bạc và ký vào giấy biên nhận này, cháu mới được quay đầu thuyền trở về.

Tống Thuận vội vàng chắp tay vâng dạ, cùng hai tên gia đinh lực lưỡng khiêng hai hòm bạc xuống bến nước sau nhà, tiếng mái chèo khua nước vội vã vang lên rồi xa dần trong màn sương sớm.

Thẩm Mặc Đẩu ngồi ở chiếc ghế dựa bằng gỗ trắc bên hiên, lặng lẽ nhìn đoàn người rời đi. Trên chiếc bàn con bên cạnh lão, chiếc túi vải thô xám tro bọc con búp bê gỗ liễu vẫn nằm im lìm. Thỉnh thoảng, từ đáy túi lại phát ra một tiếng "cộc" đanh gọn, ngắt quãng, như một lời nhắc nhở kiên nhẫn mà lạnh lùng.

Ba ngày trôi qua trong sự ngột ngạt bao trùm khắp đại viện họ Tống.

Tống Quý Sơn không dám bước chân ra khỏi ngõ, việc buôn bán tơ lụa ở các bến thuyền đều giao phó cho người khác quản lý. Mỗi bữa ăn, gã chỉ nuốt nổi nửa bát cháo hoa, cả ngày đi đi lại lại quanh chiếc túi vải thô đặt ở giữa sân, chắp tay lầm rầm khấn vái. Tiếng gõ trong túi vải thô cứ cách nửa canh giờ lại vang lên một nhịp, nhắc cho gã nhớ rằng sợi dây oan nghiệt treo trên đầu nhà họ Tống vẫn chưa đứt.

Đến chập tối ngày thứ tư, tiếng bước chân dồn dập ngoài cổng lớn phá tan bầu không khí u tịch.

Tống Thuận đầu tóc bù xù, áo quần lấm lem bùn đất, thở không ra hơi chạy xộc vào trong sân, hai tay nâng cao một tờ giấy xuyến màu vàng nhạt có vết mực son đỏ chót:

- Chú hai! Con về rồi! Ngụy lão gia đã nhận bạc! Đây là giấy biên nhận và lời tha thứ của ông ấy!

Tống Quý Sơn lao tới giật lấy tờ giấy, hai tay run rẩy mở ra xem. Trên mặt giấy xuyến thô ráp, bên cạnh dấu điểm chỉ bằng mực đỏ là một dòng chữ viết bằng than củi có phần nguệch ngoạc: "Bạc nhận đủ, oán nợ kiếp này xem như đã dứt."

Thẩm Mặc Đẩu đứng dậy, cầm lấy tờ giấy soi dưới ánh đèn lồng, kiểm tra kỹ từng nét chữ rồi khẽ gật đầu:

- Oán khí đã chịu mở đường. Chuẩn bị lò than và chảo dầu, giờ tý đêm nay phá pháp.

Đúng canh ba, giữa khoảng sân gạch rộng lớn của đại viện, một chiếc bếp lò dã chiến đắp bằng gạch chỉ đỏ đã được nhóm lửa từ sớm. Than hoa đượm hồng, không bốc khói mà tỏa ra sức nóng hừng hực. Đặt trên lò than là một chiếc chảo gang sâu lòng cỡ lớn, bên trong chứa đầy dầu mè hòa lẫn với dầu trẩu thô.

Dưới sức nóng của ngọn lửa than, mặt dầu bắt đầu lăn tăn sủi bọt, tỏa ra mùi ngai ngái nồng đặc, khói mỏng bốc lên cuồn cuộn giữa đêm thanh vắng.

Tống Quý Sơn cùng người nhà họ Tống đứng nép ở mép hành lang, ai nấy đều nín thở, hai mắt trố ra nhìn về phía chảo gang đang sôi ùng ục giữa sân.

Thẩm Mặc Đẩu mặc chiếc áo chẽn bằng vải chàm sẫm màu, tay trái cầm cây thước câu mun viền đồng, tay phải cầm chiếc túi vải thô xám. Lão bước từng bước vững chãi lại gần miệng chảo gang, cởi bỏ sợi dây gai tẩm dầu trẩu buộc miệng túi.

Bức tượng gỗ liễu lộ ra dưới ánh lửa bập bùng. Cánh tay phải của con búp bê vẫn đang co giật từng chập, bàn tay gỗ mòn vẹt giơ lên hạ xuống trong không trung.

Thẩm Mặc Đẩu giơ cây thước câu lên cao, trầm giọng cất lời tụng đọc quy lệ Lỗ Ban môn:

- Gỗ lấy từ rừng thiêng, mộng ghép theo thước tắc. Kẻ làm nghề đổ mồ hôi đổi bát cơm manh áo, kẻ dựng nhà giữ lòng thành đổi chốn bình an. Oán cởi theo lẽ, nợ dứt theo tình, Lỗ Ban đệ tử quy vị, mộng tan khóa mở, tro bụi về với đất trời!

Dứt lời, lão mộc sư vung tay ném thẳng con búp bê gỗ liễu vào chính giữa chảo dầu đang sôi sùng sục.

Xèo!

Một tiếng nổ chát chúa vang lên làm mặt dầu bắn tung tóe. Ngay khi khúc gỗ liễu chìm vào trong lớp dầu sôi đặc quánh, một âm thanh khàn đặc, the thé bỗng nhiên rít lên từ đáy chảo. Nghe rợn người như tiếng thở dài trút bỏ đau đớn cùng cực của một người vừa thoát khỏi gông cùm ngàn cân.

Dầu sôi cuộn trào dữ dội, bọt trắng sủi lên cuồn cuộn trùm kín lấy thân tượng. Khói trắng từ mặt chảo bốc lên nghi ngút, kỳ lạ thay không tản ra ngay mà tụ lại thành một làn khói dày đặc, uốn lượn giữa không trung kết thành hình một bàn tay gầy guộc. Các ngón tay co lại như đang gõ vào một cánh cửa vô hình ba tiếng rõ rệt.

Sau ba tiếng gõ trong hư không, ngọn gió đêm từ bờ kênh thổi thốc qua sân viện, cuốn làn khói trắng tan biến vào bóng tối thăm thẳm.

Trong chảo gang, bức tượng gỗ liễu cháy đen rụi, vỡ vụn thành từng mảnh than vụn trôi dạt trên mặt dầu nguội dần.

Cùng lúc đó, trong căn buồng ngủ phía sau, tấm vách gỗ thông phát ra một tiếng "rắc" giòn tan, như thể có một chiếc chốt ngầm bên trong vừa tự động bật mở.

Đại viện họ Tống hoàn toàn chìm vào sự yên tĩnh tuyệt đối. Tiếng gõ lộc cộc đè nặng lên tâm trí mọi người suốt bao ngày qua đã biến mất không còn dấu vết.

Sáng ngày hôm sau, khi Thẩm Mặc Đẩu đang thu dọn hòm đồ nghề ở gian khách, Tống Thuận từ bên ngoài hớt hải chạy vào, gương mặt xen lẫn kinh ngạc và hoảng sợ:

- Lão mộc sư! Chú hai! Lạ lùng lắm!

Tống Quý Sơn đang bưng chén trà, vội đặt xuống bàn:

- Có chuyện gì? Mau nói!

Tống Thuận thở hổn hển kể lại:

- Người của con ở lại mạn nam Thái Hồ vừa đánh điện tín và gửi thư bồ câu về báo tin. Đêm qua, đúng vào lúc canh ba, Ngụy thợ cả đang ngủ thì nằm mơ thấy cánh cửa phòng bật mở, có một người thợ mộc bước vào bảo công việc ở Nam Tầm đã xong rồi, về nhà thôi. Sáng sớm nay thức dậy, cánh tay phải bị phế suốt năm năm của ông ấy bỗng nhiên cử động lại được, các khớp ngón tay không còn đau buốt, có thể tự cầm đũa ăn cơm và cầm búa đục như người bình thường!

Tống Quý Sơn nghe vậy thì kinh ngạc mở to hai mắt, miệng lẩm bẩm:

- Thần kỳ đến thế sao...

- Chưa hết đâu chú hai!

Tống Thuận nuốt nước bọt, hạ thấp giọng:

- Còn một chuyện nữa... Sáng nay lão Chu, viên quản gia cũ của nhà ta, người năm xưa cầm đầu đám gia đinh dùng gậy đánh gãy tay Ngụy thợ cả ấy... Lão ta vừa đi chợ sớm qua cầu đá bến Tây, trời không mưa, cầu không trơn, thế mà lão lại trượt chân ngã lộn nhào xuống bờ kè. Tay phải đập trúng tảng đá xanh, gãy gập làm hai đoạn, xương đâm lòi cả ra ngoài da, thầy thuốc bảo đời này coi như phế hẳn cánh tay đó rồi!

Tống Quý Sơn nghe xong rụng rời chân tay, ngồi phịch xuống ghế, mồ hôi lạnh toát ra như tắm.

Kẻ chịu oan ức thì khỏi bệnh, kẻ gieo ác thì gãy tay đúng vào vị trí năm xưa từng đánh người. Báo ứng của Lỗ Ban môn đến nhanh và chuẩn xác đến từng phân tấc, không sai chạy một mảy may nào.

Thẩm Mặc Đẩu khóa nắp chiếc hòm đồ nghề bằng gỗ mun, khẽ cất giọng trầm đục:

- Trời đất có cán cân, nghề mộc có mực thước. Đánh người tàn phế thì trả bằng cánh tay, nợ công người ta thì trả bằng bạc trắng. Lão Chu kia phải gánh phần nghiệp do chính tay lão gây ra, đó là lẽ công bằng.

Tống Quý Sơn lúc này hoàn toàn tỉnh ngộ, vội vàng quỳ sụp xuống chân Thẩm Mặc Đẩu, run rẩy nói:

- Ơn cứu mạng của lão mộc sư, họ Tống này đời đời không dám quên. Tôi xin thề từ nay về sau tuyệt đối không bao giờ làm điều thất đức, ức hiếp kẻ yếu nữa.

Ngay trong tuần đó, Tống Quý Sơn cho bán bớt một kho tơ lụa lớn ở đầu trấn. Lấy toàn bộ số tiền thu được đem phát chẩn gạo cho dân nghèo quanh vùng và góp tiền tu sửa lại cây cầu đá ở bến kênh. Ở góc vườn sau của đại viện, gã cho thợ dựng một am thờ nhỏ bằng gỗ bách, bên trong đặt bài vị thờ phụng Lỗ Ban Tiên Sư và các bậc tiền bối ngành mộc, ngày ngày đích thân thắp hương sám hối.

Đêm hôm ấy, trong căn phòng khách tĩnh mịch, ngọn đèn dầu lạc tỏa ánh sáng vàng êm dịu.

Thẩm Mặc Đẩu ngồi bên bàn, chậm rãi mở cuốn sổ bọc da thú màu nâu sẫm. Lão lấy thỏi mực tàu mài nhẹ trên nghiên đá, chấm đầu bút lông thỏ rồi lật giở đến trang giấy ghi chép về phép trấn ếm người gỗ trong vách.

Lão mộc sư đưa bút định ghi lại ngày tháng và cách thức hóa giải vụ yếm gỗ liễu ở trấn Nam Tầm. Nhưng khi ngọn bút lông vừa chạm vào mặt giấy xuyến thô ráp, mực đen bỗng tự động loang ra, tự uốn lượn thành từng nét chữ cổ kính, sắc sảo như vết khắc bằng dao:

Nợ đòi bằng gõ, gõ xong thì thôi. Bảy chữ hiện xong rồi nhạt dần, chìm vào thớ giấy như chưa từng tồn tại.

Từng nét chữ hiện lên rành rọt rồi ngấm sâu vào thớ giấy, tỏa ra một mùi hương mộc nồng đượm.

Thẩm Mặc Đẩu dừng bút, nhìn chằm chằm vào dòng chữ vừa hiện. Bàn tay phải của lão khẽ run lên một nhịp. Lão cúi đầu nhìn ngón tay trỏ của mình, nơi có một đốt ngón tay đã bị cụt từ mấy mươi năm trước, vết sẹo tròn nhẵn thóe lên một cơn nhức buốt âm ỉ quen thuộc. Ký ức về sư phụ và những món nợ nghề nghiệp năm xưa lại chập chờn hiện về trong đáy mắt.

Lão mộc sư khẽ thở dài, định gấp cuốn sổ lại để chuẩn bị hành trang sáng mai lên đường.

Ngay lúc bìa da thú chuẩn bị khép lại, dưới đáy trang giấy trắng tiếp theo của cuốn sổ. Từng vệt mực đen tuyền bỗng từ từ rỉ ra từ bên trong thớ giấy, chầm chậm lan ra như những rễ cây đang đâm chồi trong đêm lạnh.

Dòng chữ mới hiện rõ mồn một dưới ánh đèn dầu le lói, nét mực còn ươn ướt chưa kịp khô: Quế hương chín rồi.

Chương khác

Xem thêm