Lỗ Ban Ký Sự - Chương 8: Lá Quế Đón Thu
Gió bấc thổi dọc theo con kênh đào cổ trấn Phong Kiều, cuốn theo lớp sương mù bảng lảng là là mặt nước đục ngầu phù sa. Đầu đông, cây cối hai bên bờ đã…
Nội dung chương
Gió bấc thổi dọc theo con kênh đào cổ trấn Phong Kiều, cuốn theo lớp sương mù bảng lảng là là mặt nước đục ngầu phù sa. Đầu đông, cây cối hai bên bờ đã trút sạch lá, cành que khẳng khiu trơ trọi vươn lên nền trời xám xịt như những nét mực khô trên giấy bản. Dọc theo con đường lát đá xanh dẫn vào chợ trấn, hơi lạnh ngấm sâu vào từng kẽ đá, bốc lên buốt rát lòng bàn chân của người lữ khách bộ hành.
Ở góc ngã ba dẫn ra bến đò ngang, khói bếp từ căn nhà ba gian lợp ngói âm dương của góa phụ Hà thị đã bốc lên từ lúc gà gáy le te.
Đó là một nếp nhà nhỏ hẹp, cột kèo bằng gỗ tạp đã ngả màu xám tro vì năm tháng dầm mưa dãi nắng. Phía trước hiên nhà, một chiếc chõ đồ bánh bao bằng nan tre đan dày bốc lên từng luồng hơi nước trắng muốt, mang theo mùi bột mì ủ men chua dịu và mùi mỡ hành béo ngậy. Bà Hà thị quấn chiếc khăn vải xanh trên đầu, hai tay thoăn thoắt xếp từng chiếc bánh bao nhân củ cải thịt băm trắng tròn vào chiếc khay gỗ đã mòn nhẵn góc cạnh.
Mấy người phu khuân vác ở bến thuyền ghé vào mua bánh. Họ vừa hà hơi sưởi ấm đôi bàn tay nứt nẻ vừa rôm rả trò chuyện:
- Bà Hà này, dạo này nhà bà đúng là có tổ tiên phù hộ, gặp toàn chuyện may mắn đến khó tin. Hôm qua tôi ra hiệu cầm đồ đầu phố, nghe lão chưởng quỹ Triệu khoe rằng lão vừa cho bà mượn hai mươi đồng bạc trắng để nhập bột thượng hạng mà không thèm tính một phân tiền lãi. Lão Triệu nổi tiếng là kẻ vắt cổ chày ra nước, vậy mà lại mở lòng bồ tát với mẹ con bà, thật là chuyện lạ nghìn năm có một!
Một người đàn ông chèo đò đứng cạnh phụ họa:
- Đâu chỉ có hiệu cầm đồ! Nghe đâu tiệm gạo Phúc Hưng ở chợ trên cũng vừa chở đến tận cửa nhà bà ba bao gạo trắng dẻo, bảo là biếu không cho cậu ấm tẩm bổ để chuẩn bị lên tỉnh thi Hương vào mùa thu năm tới. Cậu Cảnh Thư nhà bà đỗ đầu kỳ thi huyện lần này, bảng vàng dán ở nha môn rực rỡ cả một góc phố, ai nấy đều khen ngợi nức nở. Một người mẹ góa bụa thức khuya dậy sớm nặn từng cái bánh bao nuôi con ăn học, nay con đỗ thủ khoa, đúng là trời xanh không phụ lòng người tốt!
Bà Hà thị nghe người ta khen ngợi con mình thì hai gò má nhăn nheo ửng hồng, khóe mắt ánh lên niềm hạnh phúc thuần phác. Bà lấy chiếc tạp dề bằng vải thô lau vội đôi bàn tay còn dính bột trắng, vừa gói bánh vào lá chuối khô đưa cho khách vừa khiêm tốn đáp:
- Các bác quá lời rồi. Thằng Cảnh Thư nhà tôi tính tình siêng năng, đêm nào cũng chong đèn đọc sách đến tận canh tư. Còn chuyện các chủ tiệm trong trấn giúp đỡ, âu cũng là do người ta thương tình cảnh hai mẹ con côi cút, thấy cháu nó hiếu học nên giơ tay nâng đỡ một phen. Ơn sâu nghĩa nặng ấy, mẹ con tôi luôn tạc dạ ghi lòng, chỉ mong sau này cháu nó nên người để đền đáp lại xóm làng.
Trong góc hiên nhà, sau cánh cửa liếp nửa khép nửa mở, một thiếu niên trạc mười bảy tuổi đang ngồi ngay ngắn bên chiếc bàn gỗ mộc. Cậu mặc chiếc áo dài bằng vải thô màu chàm đã bạc màu ở hai bên cùi chỏ, chăm chú nắn nót từng nét chữ mực tàu lên trang giấy thi. Gương mặt thiếu niên sáng sủa, vầng trán cao rộng toát lên vẻ thông tuệ, nhưng đôi mắt vẫn giữ được nét hiền lành, chất phác của con nhà lao động nghèo.
Thẩm Mặc Đẩu dừng chân bên mép đường lát đá, hạ chiếc hòm đồ nghề bọc góc đồng xuống bên cạnh chân ghế đẩu. Lão mộc sư kéo lại chiếc áo bông vá vai, đưa mắt quan sát căn nhà nhỏ.
Căn nhà này làm theo lối ba gian truyền thống của vùng sông nước Giang Nam, khung nhà dùng gỗ thông tạp, tường gạch mộc trát vôi rơm, mái lợp ngói máng âm dương đã phủ một lớp rêu xanh xám. Một nếp nhà nghèo khó, đơn sơ đến mức không thể tìm thấy một chi tiết chạm trổ hay hoành phi câu đối nào sang trọng. Thế nhưng, giữa không gian buốt giá của buổi sớm mùa đông, khi mọi mùi vị tanh nồng của bùn sông và ẩm mốc của rêu phong bốc lên nồng nặc, một luồng hương thơm rất lạ lại thoang thoảng bay qua mũi lão.
Đó là mùi thơm ngòn ngọt, thanh tao và ấm áp của hoa quế chín rộ vào cành độ giữa mùa thu.
Thẩm Mặc Đẩu khẽ nhíu mày. Bây giờ đã là tháng mười một âm lịch, gió bấc thổi rát mặt, sương muối phủ trắng ngọn cỏ bên bờ kênh. Khắp vùng Phong Kiều không còn một bóng hoa quế nào nở trên cành, cớ sao lại có mùi hương quế thuần khiết và nồng đượm đến vậy?
Lão bước lại gần quán bánh bao, cất giọng trầm khàn:
- Chủ quán, cho tôi hai chiếc bánh bao nóng và xin một bát nước sôi để nguội.
- Có ngay đây, thưa lão trượng!
Bà Hà thị xởi lởi mở nắp chõ, gắp ra hai chiếc bánh bao nóng hổi còn bốc khói. Bà đặt bánh vào chiếc đĩa sành mẻ mép rồi bưng ra một bát nước vối nóng để lên bàn cho lão:
- Trời lạnh thế này mà lão trượng phải đi đường xa vất vả quá. Lão dùng bánh cho ấm bụng.
Thẩm Mặc Đẩu gật đầu cảm tạ. Lão lấy một chiếc bánh bao bẻ làm đôi, khói nóng phả vào mặt mang theo vị ngọt của bột và thịt. Lão cắn một miếng, nhai chậm rãi, trong khi ánh mắt vẫn lặng lẽ nhìn lên kết cấu vì kèo của mái hiên.
Bộ khung xà của căn nhà làm bằng gỗ thông đã cũ, các mối mộng ghép khá khít khao nhưng tay nghề chỉ ở mức trung bình, không phải do thợ cả lừng danh nào dựng nên. Tuy nhiên, khi tầm mắt của Thẩm Mặc Đẩu chạm đến phần mái ngói âm dương, con ngươi của lão bỗng co lại.
Tính từ mép hiên chạy ngược lên phía nóc nhà, hàng ngói máng thứ ba bên phía tay trái hơi nhô cao lên khoảng nửa phân so với các hàng ngói lân cận. Chỗ nhô lên rất kín đáo, nếu không phải là người thợ mộc cả đời cầm thước ngắm từng đường xà kẻ chỉ thì người thường chỉ nghĩ đó là do ngói bị kênh vì gió mưa xê dịch. Nhưng Thẩm Mặc Đẩu nhìn ra ngay: viên ngói cái ở vị trí đó đã được kê cao bằng một lớp lót có chủ ý, hướng miệng ngói mở chếch về phương Đông Nam, đón đúng hướng gió mát và ánh mặt trời buổi sớm.
Mùi hương quế nhạt thoang thoảng trong không khí phát ra từ chính khe hở của hàng ngói thứ ba ấy.
Thẩm Mặc Đẩu húp một ngụm nước nóng, đặt bát sành xuống bàn rồi nhìn bà Hà thị, chậm rãi hỏi:
- Căn nhà này của bà, phần mái ngói trông vẫn còn ngay ngắn lắm. Hẳn là mới được sửa chữa lại cách đây chưa lâu?
Bà Hà thị đang nhào lại thau bột, nghe lão hỏi vậy liền cười đáp:
- Lão trượng thật tinh mắt. Nhà này vốn là của ông nhà tôi để lại, dựng từ hai mươi năm trước. Tám năm về trước, trận bão lớn mùa thu làm tốc mất một mảng ngói, nước mưa dột chảy lênh láng khắp gian giữa, ướt cả sách vở của cháu Cảnh Thư. Khi ấy nhà tôi nghèo rớt mồng tơi, trong túi không có nổi mười đồng tiền kẽm để mua ngói mới, may nhờ có một người thợ mộc lang đi qua sửa giúp cho.
- Thợ mộc lang sao?
Thẩm Mặc Đẩu gõ nhẹ đầu ngón tay lên mặt bàn gỗ:
- Vâng, một người thợ mộc lang xứ khác đi qua đây.
Ánh mắt bà Hà thị chùng xuống, nhớ lại chuyện cũ:
- Hôm đó trời mưa tầm tã, gió rét căm căm. Người thợ ấy trạc ngoài bốn mươi tuổi, vác hòm đồ nghề đi ngang qua cửa nhà tôi thì bỗng ngã quỵ xuống bên vệ đường vì lên cơn sốt rét và đói lả. Tôi thấy người ta lâm nạn giữa trời đông gió rét nên không đành lòng, vội dìu người ấy vào nhà, nấu một nồi cháo gừng nóng cho ăn. Nhường chiếc giường gỗ trong buồng ấm cho người ấy nằm nghỉ suốt ba ngày liền.
Bà Hà thị vừa kể vừa đưa tay chỉ về phía góc sân:
- Nhà nghèo chẳng có thuốc thang gì quý giá, tôi chỉ có mấy chiếc bánh bao nóng và cháo trắng cầm hơi. Sau ba ngày, người thợ ấy cắt được cơn sốt, tỉnh táo trở lại. Thấy trên trần nhà tôi dột nát, người ấy không nói không rằng, tự mình mang thang tre và đồ nghề ra, gom hết những mảnh ngói vỡ còn sót lại. Tỉ mẩn gọt đẽo từng thanh rui mè bằng gỗ thông rồi lợp lại toàn bộ mái nhà cho mẹ con tôi suốt hai ngày ròng rã.
- Khi làm xong, người ấy không lấy một đồng tiền công nào sao?
Thẩm Mặc Đẩu hỏi thêm:
- Người ấy nhất quyết không nhận tiền.
Bà Hà thị lắc đầu, giọng xúc động:
- Tôi có gom góp được mấy chục đồng tiền kẽm đưa cho, người ấy gạt đi bảo rằng bát cháo gừng và chiếc giường ấm trong cơn hoạn nạn đáng giá hơn ngàn lượng bạc. Sáng hôm sau, khi mẹ con tôi thức dậy thì người thợ mộc ấy đã thu dọn hòm đồ nghề rời đi từ sớm, chỉ để lại một mái nhà vững chãi không còn rỉ một giọt nước mưa nào suốt tám năm qua.
Thẩm Mặc Đẩu lặng im lắng nghe. Ngón tay trỏ bị cụt một đốt của lão khẽ miết lên mặt bàn gỗ thông mòn nhẵn.
Trong cuốn sổ da thú của Lỗ Ban môn truyền lại, có hai mươi bảy điều yếm thắng. Người đời thường chỉ biết đến những thuật trấn áp hung hiểm nhằm báo thù, hãm hại gia chủ, làm cho suy bại lụi tàn. Nhưng ít ai biết rằng, Lỗ Ban Kinh còn có mười điều cát tường, dùng để ban phúc, chiêu tài, hộ mạng cho những người có ân nghĩa sâu nặng. Những phép cát tường này không thể dùng tiền bạc mà mua được, bởi người thợ mộc khi hạ phép phải dùng chính âm đức và tâm nguyện chí thành của bản thân để kết nối với linh khí của trời đất.
Mùi lá quế giữa mùa đông buốt giá chính là dấu hiệu của một trong những phép cát tường ấy.
Trời về chiều, gió lạnh thổi mỗi lúc một gắt. Sương mù từ dòng sông bốc lên dày đặc, bao trùm khắp ngõ ngách của cổ trấn Phong Kiều. Khách mua bánh bao thưa dần, chỉ còn tiếng chổi quét sân lẹt xẹt của cậu học trò Hà Cảnh Thư.
Thấy Thẩm Mặc Đẩu vẫn ngồi trầm ngâm bên bàn trà, bà Hà thị thấy chiếc áo bông mỏng manh của lão chẳng đủ cản gió lạnh. Bà bước lại gần ân cần nói:
- Lão trượng, trời đã tối mịt rồi, bến đò ngang mùa này ngừng chạy sớm vì sương mù dày. Trong trấn quán trọ lại đắt đỏ, nếu lão không chê nhà nghèo chật chội, xin mời lão nghỉ lại gian nhà kho chứa củi sau bếp của nhà tôi một đêm. Trong đó tuy đơn sơ nhưng kín gió, có sẵn đệm rơm sạch sẽ và củi khô sưởi ấm.
Thẩm Mặc Đẩu ngẩng đầu nhìn người đàn bà góa bụa với nét mặt phúc hậu, rồi khẽ gật đầu:
- Vậy làm phiền bà chủ quán rồi.
Gian nhà kho nằm ngay phía sau chái bếp, vách đóng bằng những tấm ván gỗ tạp thô mộc, bên trong chất đầy những bó củi dẻ khô ráo và mấy bao bột mì dự trữ. Ở góc phòng có một chiếc phản gỗ nhỏ trải lớp rơm nếp dày dặn, tỏa ra mùi thơm ngai ngái của đồng ruộng quê mùa.
Cậu thiếu niên Cảnh Thư bưng vào một chiếc chậu đồng đựng than củi cháy hồng rực, đặt cẩn thận ở giữa phòng rồi lễ phép cúi đầu:
- Lão trượng dùng chậu than này sưởi ấm cho đỡ buốt. Đêm đông ở sông nước này lạnh lắm, nếu cần thêm chăn ấm xin lão cứ gọi con.
- Đa tạ cậu. Cậu cứ ra ngoài học bài đi, đừng để lỡ dở việc đèn sách.
Thẩm Mặc Đẩu nhìn cậu học trò, trong lòng thầm tán thưởng khí chất điềm đạm, khiêm cung của đứa trẻ:
Đêm Phong Kiều tĩnh mịch như tờ. Tiếng mõ cầm canh từ phía điếm canh đầu trấn thỉnh thoảng lại vọng lại qua màn sương lạnh.
Cốc. Cốc. Cốc.
Tiếng mõ điểm canh một, rồi canh hai. Không gian xung quanh chìm sâu vào giấc ngủ, chỉ còn tiếng cành cây khô gãy răng rắc ngoài vườn vì sương muối bám nặng.
Thẩm Mặc Đẩu ngồi xếp bằng trên phản gỗ, lưng tựa vào vách ván, hai mắt nhắm hờ. Cuốn sổ bọc da thú màu nâu sẫm đặt ngay ngắn trên đầu gối lão.
Khi tiếng mõ điểm canh ba vừa dứt, không khí trong gian nhà kho bỗng nhiên ấm sực lên một cách kỳ lạ. Luồng gió lạnh luồn qua khe vách ván bị đẩy lùi bởi một luồng khí ấm áp, ngọt ngào lan tỏa từ phía trên mái ngói dội xuống.
Mùi hương hoa quế ban sáng vốn chỉ thoang thoảng, nay theo từng khắc canh ba trôi qua lại càng lúc càng trở nên nồng đượm. Đó không phải là mùi hương nhân tạo của phấn sáp hay dầu thơm trần tục. Là hương vị thanh khiết của những tán quế cổ thụ ngậm trọn tinh hoa của đất trời mùa thu, vừa ấm nồng vị ngọt, vừa thanh tao mùi gỗ bách. Hương thơm lượn lờ quanh các vì kèo, bao bọc lấy toàn bộ gian nhà nhỏ như một tấm lụa vô hình che chở cho giấc ngủ của hai mẹ con người góa phụ.
Thẩm Mặc Đẩu hít sâu luồng hương ấm, dần dần chìm vào trạng thái nửa tỉnh nửa mơ.
Trong cơn mộng mị mông lung, lão nhìn thấy một bóng người thợ mộc gầy gò, mặc chiếc áo vải thô màu xám tro bạc thếch, đầu quấn dải khăn đã sờn rách. Hình bóng thợ ấy đang đứng trên chiếc thang tre dựng bên hiên nhà dưới trời mưa phùn lất phất của tám năm về trước.
Gương mặt người thợ mộc lấm lem bùn đất và tái nhợt vì cơn sốt rét vừa dứt, nhưng đôi mắt lại sáng trong và ấm áp lạ thường. Bàn tay thô ráp, đầy những vết sẹo do đục bạt cứa vào của ông ta cẩn thận nhấc viên ngói máng ở hàng thứ ba lên. Dưới lớp rui mè bằng gỗ thông mới gọt, người thợ lấy từ trong ngực áo ra một chiếc lá quế khô màu vàng óng bọc trong mảnh giấy điều đỏ thắm.
Ông ta đặt chiếc lá quế vào khe ngói một cách cung kính, hai bàn tay áp chặt lên viên ngói, miệng lẩm bẩm những lời nguyện cầu thầm kín:
Bát cháo cứu mạng lúc cơ hàn, một manh chiếu ấm trả ân sâu. Nguyện cho mái nhà này đời đời ấm êm, quý nhân khắp chốn đưa tay đỡ, văn tinh rực sáng chốn môn đình.
Lời khấn nguyện vừa dứt, người thợ mộc mỉm cười thanh thản, từ từ khép viên ngói lại. Phủi sạch lớp bụi gỗ trên tay rồi bước xuống thang, bóng hình dần dần hòa tan vào làn mưa bụi trắng xóa của mùa thu năm ấy.
Thẩm Mặc Đẩu khẽ giật mình mở mắt.
Gian phòng kho vẫn tĩnh lặng, chậu than củi ở giữa phòng đã tàn chỉ còn lại lớp tro xám phủ lên những đốm than đỏ le lói. Ngoài trời, tiếng gà gáy le te đầu tiên đã báo hiệu trời sắp rạng. Mùi hương quế trong phòng vẫn chưa tan hết, đọng lại một vị ngọt dịu nơi đầu lưỡi.
Lão mộc sư khoác lại chiếc áo bông, đẩy nhẹ cánh cửa liếp bước ra sân sau.
Trời vừa hửng sáng, sương sớm đọng thành từng hạt nước trong vắt trên những cành cây trơ trụi. Gió bấc vẫn thổi từng cơn buốt giá, nhưng khi Thẩm Mặc Đẩu ngẩng đầu nhìn lên mái nhà nhỏ ba gian, một cảnh tượng kỳ lạ đập ngay vào mắt lão.
Ở hàng ngói thứ ba tính từ mép hiên vào, nơi viên ngói nhô cao đón nắng đông, một dòng nước vàng óng như trà quế đặc đang rỉ ra từ mép ngói. Nước chậm rãi chảy dài xuống mép rui mè gỗ thông, đọng thành vệt lấp lánh dưới ánh bình minh vừa hé rạng.