Lỗ Ban Ký Sự - Chương 11: Búp Bê Gầm Giường

Nắng sớm rọi xuống dòng kênh nhỏ chảy quanh nội thành Tô Châu, biến mặt nước xanh sẫm thành một dải lụa lấp lánh mảnh vỡ bạc. Những chiếc thuyền nan chở…

Nội dung chương

Nắng sớm rọi xuống dòng kênh nhỏ chảy quanh nội thành Tô Châu, biến mặt nước xanh sẫm thành một dải lụa lấp lánh mảnh vỡ bạc. Những chiếc thuyền nan chở rau củ và tơ lụa trôi chầm chậm qua gầm cầu vòm cuốn, tiếng mái chèo khua nước bì bõm hòa vào tiếng rao hàng lanh lảnh từ các ngõ hẻm lát đá xanh.

Thẩm Mặc Đẩu xốc lại quai đeo hòm đồ nghề mộc bằng gỗ thông đã bóng nước sơn nâu sẫm, bước từng bước vững chãi lên nhịp cầu đá nhỏ bắc qua con rạch rẽ vào khu viên lâm phía tây. Trong túi áo bông bên ngực trái, mẩu gỗ mun xù xì mà sư phụ lão để lại trong ngăn kéo hòm nghề lúc nãy vẫn còn âm ỉ tỏa nhiệt. Vết nhựa cây đỏ sẫm rỉ ra đã khô lại, để lại một mùi nồng hắc lạ lùng quyện vào lớp vải thô.

Khi lão vừa đặt chân lên đỉnh vòm cầu, một bóng người từ mé rặng liễu rủ ven bờ đột ngột bước ra, đứng chắn ngay giữa lối đi hẹp.

Đó là một gã đàn ông mặc áo vải thô màu chàm bạc phếch, đầu đội nón lá rách vành che khuất nửa khuôn mặt. Gã đứng im lìm, hai tay buông thõng, bờ vai gầy guộc nhưng các khớp xương cổ tay thô ráp bè bè, ngón trỏ và ngón cái phủ đầy những vết chai sần dày cộp đặc trưng của người cả đời cầm cưa cầm đục.

Thẩm Mặc Đẩu dừng bước, chiếc thước câu bằng gỗ mun trong tay lão hơi hạ thấp xuống theo phản xạ.

Gã đàn ông không ngẩng mặt lên nhìn, cũng không hé môi phát ra nửa âm thanh. Gã vươn bàn tay nứt nẻ, gân guốc chộp lấy cổ tay Thẩm Mặc Đẩu. Lực tay gã siết mạnh đến mức những thớ thịt trên cổ tay lão mộc sư lõm xuống một vệt đỏ. Trước khi Thẩm Mặc Đẩu kịp rút tay về, gã đã nhét vào lòng bàn tay lão một mẩu giấy xơ xác rồi buông ra.

Gã lùi lại hai bước thật nhanh, xoay người rẽ thẳng vào lối mòn lách qua rặng giả sơn bằng đá Thái Hồ lởm chởm bên hông cầu. Thẩm Mặc Đẩu bước vội qua mép lan can đá nhìn xuống, chỉ thấy một vạt áo chàm lướt qua khóm trúc rậm rạp rồi mất hút vào ngõ sâu hun hút. Không để lại một tiếng động nào ngoài tiếng lá khô xào xạc dưới chân gió.

Thẩm Mặc Đẩu mở lòng bàn tay. Mảnh giấy ráp thô màu vàng nghệ, bên trên viết hai chữ mực tàu đen nhánh: "Thôi phủ".

Ngay dưới hai chữ ấy là nét vẽ một con dao mộc loại cán ngắn lưỡi vát nhọn hoắt, sống dao có ba ngấn răng cưa sắc lẹm. Nét vẽ dứt khoát, dùng chính đầu nhọn của lưỡi dao chấm mực vạch lên thớ giấy, tạo thành một vết rách nhỏ xuyên thủng sang mặt sau.

Lão mộc sư khẽ vuốt phẳng mẩu giấy, xếp gọn lại rồi nhét vào cạp quần. Lão ngẩng đầu nhìn về phía những rặng tường vôi trắng quét mái ngói cong vút ẩn hiện sau những tán tùng cổ thụ cách đó vài dãy phố.

Gia tộc họ Thôi ở đất Tô Châu này vốn là một cự tộc danh giá. Chủ nhân đương thời là Thôi Trừng Lễ, một vị quan tứ phẩm vừa cáo lão hồi hương được ba năm, nắm trong tay nhiều phường dệt lụa và trang trại trồng trà trù phú dọc sông Tiền Đường. Một bức thư gửi gắm thông qua người quen trước khi lão rời bến thuyền sớm nay cũng nhắc đến việc Thôi lão gia đang ráo riết tìm kiếm một tay thợ mộc am tường kết cấu nhà cổ để xem xét trạch viện.

Đi qua hai ngã rẽ lát đá hoa cương, cánh cổng gỗ lim sơn then đen nhánh của Thôi phủ hiện ra sừng sững dưới bóng râm của hai cây hòe cổ thụ. Trước bậc tam cấp bằng đá xanh, hai con lân đá ngồi chầu phủ đầy rêu phong xám xịt.

Thẩm Mặc Đẩu bước lên gõ vòng đồng ba tiếng.

Cửa ngách khẽ mở, một gia nhân trung niên thò đầu ra nhìn lão mộc sư từ đầu đến chân. Khi nhìn thấy chiếc hòm đồ nghề gỗ thông mộc mạc và thanh thước câu mun cắp bên hông, người này vội vàng cúi chào:

- Lão trượng có phải là Thẩm mộc sư do Triệu chưởng quầy ở bến đông giới thiệu tới không? Lão gia nhà tôi đã dặn dò từ sáng sớm, mời lão trượng vào ngay cho.

Đi qua ba lớp sân vườn rộng thênh thang với những hồ sen cạn nước mùa đông, những hòn non bộ chạm khắc rồng phượng cầu kỳ và những dãy hành lang uốn khúc quanh co lát gạch hoa. Thẩm Mặc Đẩu được dẫn vào gian phòng khách lớn ở trung đường.

Ngồi trên chiếc ghế thái sư bằng gỗ hồng sắc ở vị trí chủ tọa là một người đàn ông ngoài ngũ tuần, tóc mai đã điểm bạc nhưng nét mặt vẫn giữ vẻ uy nghiêm chốn quan trường. Đó chính là Thôi Trừng Lễ. Dẫu khoác trên mình chiếc áo cẩm bào lót lông cáo đắt tiền, đôi mắt ông ta vẫn trũng sâu, viền mắt thâm quầng và đôi gò má hóp lại lộ rõ vẻ mệt mỏi cùng cực. Khắp phòng khách bốc lên mùi trầm hương thơm nồng nặc trộn lẫn mùi thuốc bắc đắng ngắt.

Thấy Thẩm Mặc Đẩu bước vào, Thôi Trừng Lễ vội vã đứng dậy, xua tay cho gia nhân lui ra ngoài rồi chắp tay bước tới:

- Thẩm mộc sư, rốt cuộc ông cũng tới rồi. Triệu chưởng quầy khen ngợi tài nghệ mộc kinh của ông không tiếc lời, bảo rằng nếu trên cõi đời này còn ai nhìn ra được những điều khuất tất trong thớ gỗ rui kèo thì chỉ có ông mà thôi.

Thẩm Mặc Đẩu đặt hòm đồ nghề xuống góc chân cột, chắp tay đáp lễ:

- Lão Thôi quá lời. Kẻ hèn này chỉ là thợ cưa đục kiếm cơm qua ngày, biết chút ít lệ luật cổ của nghề mộc mà thôi. Nghe nói phủ thượng có chuyện chẳng lành liên quan đến rui mè rui cột?

Thôi Trừng Lễ thở dài một tiếng sầu não, mời lão ngồi xuống ghế bên cạnh. Giọng ông hạ thấp đầy căng thẳng:

- Không giấu gì Thẩm sư phó, chuyện trong nhà ta nửa năm nay thực sự đã đến bờ vực tuyệt vọng. Từ tiết lập thu năm ngoái, phu nhân của ta và đứa con gái út vừa tròn mười sáu tuổi bỗng nhiên đổ bệnh nặng. Ban đầu chỉ là những cơn sốt nhẹ về chiều, rồi sau đó chuyển thành chứng suy nhược kỳ quái. Da dẻ hai mẹ con cứ ngày một vàng vọt, thịt da teo tóp như cành cây khô, đêm nào cũng lên cơn co giật, mê sảng khóc lóc kêu đau đớn khắp lồng ngực.

Ông ta dừng lại, bưng chén trà nóng lên. Ngụm trà nhỏ trấn tĩnh đôi tay đang run rẩy:

- Ta đã mời khắp các danh y từ phủ Giang Ninh đến Tô Châu, dùng không biết bao nhiêu nhân sâm ngàn năm, lộc nhung thượng hạng, nhưng thuốc vào miệng đều nôn ra hết. Thầy lang lắc đầu bảo lục phủ ngũ tạng không có bệnh nhưng sinh khí cứ tự rỉ ra ngoài từng ngày. Ta lại mời cả đạo sĩ Mao Sơn, pháp sư núi Long Hổ về lập đàn cúng tế, dán bùa trừ tà đỏ rực khắp các cửa sổ. Nhưng bùa vừa dán lên được nửa đêm thì tự cháy thành tro, bệnh tình của phu nhân lại càng thêm trầm trọng. Có người mách rằng khí sắc trong viện bị đè nén, rất có thể do kết cấu gỗ trong phòng ngủ phạm phải điều cấm kỵ của thợ mộc xưa.

Thẩm Mặc Đẩu lặng lẽ lắng nghe, ngón tay khẽ gõ nhịp trên mặt bàn gỗ:

- Căn phòng ngủ của Thôi phu nhân được dựng từ khi nào? Có đồ đạc gì mới sửa chữa hoặc thay thế trong vòng một năm trở lại đây không?

Thôi Trừng Lễ lắc đầu quầy quậy:

- Nhà này là tổ nghiệp ba đời để lại, rui xà rường cột đều dùng gỗ lim già ngâm bùn mười năm, vững như bàn thạch. Duy chỉ có mùa hè năm ngoái, nhân dịp mừng thọ năm mươi của phu nhân, ta có cho thợ đóng mới một chiếc giường bát bảo bằng gỗ sưa đỏ đặt ở chính phòng viện phía tây. Giường đóng xong được nửa tháng thì phu nhân dọn vào ở, rồi tai ương bắt đầu từ đó.

Thẩm Mặc Đẩu đứng dậy, cầm lấy thanh thước câu mun:

- Phiền Thôi lão gia dẫn đường sang tây viện. Thuật mộc xem hình định khí, phải tận mắt nhìn thấy vật mới luận được căn nguyên.

Tây viện của Thôi phủ là một khu nhà ba gian lợp ngói vảy rồng, nằm nép mình dưới bóng một cây liễu cổ thụ rũ cành rậm rạp. Vừa bước qua bậc cửa vòm hình bán nguyệt dẫn vào sân trong, một luồng khí ẩm ướt, lạnh buốt phả thẳng vào mặt Thẩm Mặc Đẩu, dù ánh mặt trời buổi trưa đang rọi thẳng đứng trên đỉnh đầu.

Bên trong gian chính phòng, tất cả các cánh cửa sổ gỗ chạm chữ vạn đều bị đóng chặt, che kín bằng hai lớp rèm gấm dày cộp màu xám tro. Không khí trong phòng ngột ngạt đến khó thở, mùi thuốc bắc sắc đặc quánh quyện chặt lấy mùi xạ hương và mùi mồ hôi chua nồng của người ốm lâu ngày.

Trên chiếc giường lớn đặt ở góc trong cùng của căn phòng, sau tấm màn lụa mỏng buông rủ, thấp thoáng bóng dáng hai người phụ nữ đang nằm bất động. Tiếng thở dốc yếu ớt đứt quãng như tiếng kéo bễ hỏng vang lên đều đặn trong không gian tĩnh mịch.

Thẩm Mặc Đẩu không vội bước lại gần giường, lão đứng yên ở giữa phòng, ngước mắt quan sát kỹ lưỡng hệ thống xà ngang, rui mè phía trên trần nhà. Toàn bộ khung gỗ của căn phòng đều là gỗ lim già đen bóng, mộng khít khao, không hề có dấu hiệu xê dịch hay đục đẽo chắp vá mới.

Lão dời tầm mắt, nhìn thẳng vào chiếc giường bát bảo bằng gỗ sưa đỏ đang ngự trị ở gian trong.

Chiếc giường này quả thực là một kiệt tác của nghề mộc chạm trổ. Bốn cột trụ lớn làm bằng gỗ sưa nguyên khối đỏ rực như màu máu khô, vân gỗ uốn lượn như những dải mây cuộn. Phần mái vòm của giường chạm lộng hình cúc trúc mai điểu vô cùng tinh xảo. Từng đường mộng bích và mộng ngàm ở bốn góc ghép nối hoàn hảo đến mức không thể tìm thấy một kẽ hở nào để lách vừa một sợi tóc.

Tuy nhiên, khi Thẩm Mặc Đẩu bước lại gần mép giường trong khoảng cách ba bước chân, luồng khí lạnh buốt bỗng nhiên tăng lên gấp bội. Cái lạnh này không đến từ gió lùa bên ngoài, mà bốc ra từ chính khối gỗ sưa đỏ rực kia. Nó buốt giá và nhớp nháp, bám chặt vào da thịt như sương mù đêm đông trên mặt sông.

Lão mộc sư cúi người, đưa thanh thước câu mun lướt dọc theo thành giường. Khi đầu thước chạm vào thanh giằng ngang phía dưới vạt giường, bàn tay lão bỗng cảm thấy một độ rung nhẹ truyền qua thân thước.

Thẩm Mặc Đẩu quỳ một gối xuống nền gạch xanh mát lạnh, áp sát mặt vào khe hở giữa gầm giường và sàn nhà.

Bên dưới gầm giường tối om, phủ một lớp bụi mỏng xám xịt. Nhưng trong không gian ẩm thấp ngột ngạt ấy, thoang thoảng bay ra một mùi hương cực kỳ mờ nhạt, gần như bị mùi thuốc bắc lấn át hoàn toàn. Đó là mùi mực tàu tươi trộn lẫn với mùi sáp ong cũ đã khô đặc từ lâu.

Thẩm Mặc Đẩu nheo mắt, đưa tay sờ dọc theo đường gờ gỗ phía dưới gầm. Đầu ngón tay lão cảm nhận được một vệt dầu trơn láng bôi dọc theo thớ gỗ sưa, hoàn toàn khác biệt với lớp sơn quang dầu phủ bên ngoài khung giường.

Lão đứng dậy, phủi bụi trên đầu gối, quay sang Thôi Trừng Lễ đang đứng co ro bên cạnh với vẻ mặt đầy lo lắng:

- Chiếc giường này do nhóm thợ nào đóng? Khi đóng giường, có xảy ra xích mích hay bất hòa gì với thợ cả không?

Thôi Trừng Lễ khựng lại một chút, ánh mắt hơi né tránh, ấp úng đáp:

- Chuyện... chuyện này do quản gia trong phủ đứng ra thuê mướn thợ. Nhóm thợ mộc từ phủ Thường Châu đến làm việc tại xưởng sau vườn suốt ba tháng ròng. Tiền công cơm áo ta đều chu cấp đầy đủ, không thiếu một đồng nào. Thẩm sư phó, có phải chiếc giường này có vấn đề phong thủy không?

Thẩm Mặc Đẩu nhìn thẳng vào mắt vị quan hưu trí, lão không vội vạch trần sự ngập ngừng ấy. Lão lắc đầu thản nhiên bảo:

- Phong thủy trạch viện không có lỗi. Gỗ sưa là loại gỗ chí dương, trừ tà nạp phúc, đặt trong phòng ngủ lẽ ra phải giúp thân thể tráng kiện, khí huyết lưu thông. Nhưng chiếc giường này của quý phủ khí lạnh ngưng tụ không tan, mộc khí nghịch chuyển. Đêm nay, lão cần ở lại trông coi trong căn phòng này, quan sát khí vận lúc nửa đêm mới có thể định rõ manh mối.

Thôi Trừng Lễ nghe vậy vội vã gật đầu lia lịa:

- Được, được! Ngay cạnh đây có một gian sương phòng ngăn bằng vách gỗ, thông thẳng sang phòng này. Lão trượng cứ nghỉ ngơi ở đó, cần trà nước hay nến đèn gì cứ việc bảo gia nhân.

Đêm mùa đông ở Tô Châu buông xuống rất nhanh. Gió lạnh từ ngoài sông thổi vào khu lâm viên qua những kẽ lá liễu, rít lên từng hồi u uất như tiếng người than khóc.

Cả Thôi phủ chìm vào bóng tối sâu thẳm. Trong gian chính phòng của tây viện, ngọn đèn dầu hạt lạc đặt trên bàn con tỏa ra ánh sáng vàng vọt tù mù, leo lét trước những cơn gió lùa qua khe cửa.

Thẩm Mặc Đẩu ngồi khoanh chân trên chiếc phản gỗ hẹp ở gian sương phòng bên cạnh. Cánh cửa thông giữa hai phòng được khép hờ, để lộ một khe sáng nhỏ vừa đủ để quan sát chiếc giường bát bảo gỗ sưa. Lão đặt chiếc hòm đồ nghề mở nắp bên cạnh, thỏi mực tàu và phiến đá mài đã được chuẩn bị sẵn sàng, thanh thước câu mun nằm ngang trên hai đầu gối lão.

Thời gian trôi qua chậm chạp trong tiếng đồng hồ nước nhỏ giọt đều đặn ngoài hành lang.

Đến canh ba, tiếng mõ cầm canh từ bờ kênh xa xa vọng lại ba tiếng "cắc... tùng... tùng" khô khốc rồi chìm lịm vào màn sương.

Nhiệt độ trong phòng đột ngột tụt xuống thấp đến mức hơi thở của Thẩm Mặc Đẩu phả ra thành những làn khói trắng mỏng. Ngọn lửa đèn dầu hạt lạc trên bàn bỗng chao đảo mạnh, ngọn lửa đỏ chuyển dần sang màu xanh lét ma quái rồi lụi hẳn đi, chỉ còn một đốm than đỏ le lói trên đầu bấc.

Thẩm Mặc Đẩu mở bừng mắt, hai tay siết chặt lấy thân thước câu.

Từ bên gian phòng ngủ chính, một âm thanh kỳ dị bắt đầu vang lên phá vỡ sự tĩnh lặng nghẹt thở.

Đó là tiếng kim loại cọ xát vào thớ gỗ cứng rất khẽ nhưng vô cùng rõ ràng.

*Két... két... kẹt...*

Âm thanh ấy vang lên chầm chậm, rít từng hồi khô khốc, giống như có một bàn tay vô hình đang cầm chiếc kìm sắt siết chặt một cây đinh dài, từng vòng từng vòng xoắn sâu vào trong ruột gỗ. Cứ mỗi lần tiếng "kẹt" vang lên, khung giường gỗ sưa lại khẽ rung lên bần bật, kéo theo tiếng ván gỗ kêu răng rắc dưới sức ép khủng khiếp.

*Két... kẹt...*

Âm thanh mỗi lúc một dồn dập hơn, đâm thẳng vào màng nhĩ buốt nhói.

Cùng lúc đó, trên chiếc giường bát bảo, tấm rèm gấm bắt đầu lay động dữ dội dù trong phòng không hề có gió.

Thôi phu nhân đang nằm trên giường bỗng nhiên bật dậy. Hai mắt bà ta trợn ngược trắng dã, hai tay cào cấu điên cuồng vào lồng ngực mình qua lớp áo lụa dày, như thể có hàng ngàn mũi kim đang đâm xuyên qua da thịt. Miệng bà ta há to, phát ra những tiếng rên rỉ đau đớn đến xé lòng:

- Đau... đau quá! Ngực ta... tim ta bị đâm nát rồi!

Bên cạnh, cô con gái nhỏ cũng bắt đầu co giật toàn thân, lăn lộn trên đệm gấm, mồ hôi ướt đẫm trán, miệng ú ớ không thành tiếng.

Tiếng động kinh hoàng làm kinh động cả phủ. Thôi Trừng Lễ cùng đám gia nhân và thị nữ tay cầm đèn lồng hớt hải đẩy cửa xông vào phòng. Nhìn thấy cảnh tượng thê thảm của vợ con, Thôi Trừng Lễ hoảng loạn chạy nhào tới mép giường, giữ chặt lấy hai tay phu nhân gào khóc:

- Phu nhân! Nàng tỉnh lại đi! Mau lấy nước nóng! Lấy nhân sâm ngậm cho phu nhân!

Thị nữ luống cuống bưng bát nước thuốc tới gần, nhưng vừa bước đến chân giường, chiếc bát sứ trên tay ả bỗng nứt toác làm đôi, nước thuốc đen ngòm đổ lênh láng xuống sàn gạch.

Thẩm Mặc Đẩu từ sương phòng sải bước bước qua ngưỡng cửa, đôi mắt lão nhìn chằm chằm vào thanh giằng ngang phía chân giường, nơi tiếng kim loại siết vào gỗ vẫn đang rít lên từng hồi âm ỉ dưới gầm sâu.

Đúng lúc Thôi Trừng Lễ ôm chặt lấy vai vợ cố lay gọi, Thôi phu nhân bỗng vươn hai bàn tay gầy trơ xương chộp lấy cổ áo chồng, miệng trào ra một ngụm bọt mép lẫn vệt máu đỏ tươi. Đôi mắt mờ đục của bà ta nhìn trừng trừng vào khoảng không tối tăm dưới chân giường, gào thét lên bằng một giọng khàn đặc, the thé đến rợn người:

- A Thọ! A Thọ... đừng đóng đinh nữa... tha cho ta... A Thọ ơi...!

Tiếng gào thét vừa dứt, toàn thân phu nhân mềm nhũn ra, ngã gục xuống đệm gấm bất tỉnh nhân sự.

Cả căn phòng bỗng chốc rơi vào một sự im lặng tuyệt đối. Gương mặt Thôi Trừng Lễ trong ánh đèn lồng lập tức biến sắc, từ vẻ lo lắng chuyển sang trắng bệch như người chết trôi, hai môi ông ta run lẩy bẩy không thốt nên lời.

Thẩm Mặc Đẩu đứng sừng sững bên cạnh bàn trà, ngón tay lão khẽ miết lên mặt chiếc thước câu mun lạnh ngắt, ánh mắt sắc như dao nhìn thẳng vào khuôn mặt đang cắt không còn hột máu của vị quan hưu trí.

Chương khác

Xem thêm