Lỗ Ban Ký Sự - Chương 12: Bát Tự Thần Chú
Trời vừa hửng sáng, sương mù từ mặt nước sông ngòi Tô Châu dâng lên bao phủ khắp các mái ngói âm dương của Thôi phủ. Gió bấc thổi qua những tán liễu trụi…
Nội dung chương
Trời vừa hửng sáng, sương mù từ mặt nước sông ngòi Tô Châu dâng lên bao phủ khắp các mái ngói âm dương của Thôi phủ. Gió bấc thổi qua những tán liễu trụi lá ngoài sân hoa, tạo nên những tiếng xào xạc khô khốc đập vào then cửa gỗ.
Trong gian phòng ngủ tây viện, không khí ngột ngạt mùi thuốc bắc héo úa và mùi ẩm mốc bốc lên từ những khe ván sàn. Thôi phu nhân sau cơn cuồng loạn nửa đêm đã kiệt sức nằm thiếp đi trên đệm gấm, gương mặt xám ngoét không còn lấy một giọt máu, lồng ngực thỉnh thoảng giật lên từng cơn ngắt quãng.
Thẩm Mặc Đẩu đứng bên mép giường, tay cầm thanh thước câu mun gõ nhẹ từng nhịp xuống nền gạch xanh. Lão quay sang nhìn Thôi Trừng Lễ đang đứng co ro bên cạnh, giọng nói đanh lại:
- Tháo hết gấm vóc, khiêng đệm ra ngoài. Lật từng thanh vạt giường lên cho tôi.
Thôi Trừng Lễ run rẩy gật đầu, vội vẫy tay gọi bốn gã gia đinh lực lưỡng vào phòng. Đám người cẩn thận dỡ từng lớp màn lụa, khiêng tấm đệm bông dày cộm cùng phu nhân chuyển tạm sang chiếc sập gỗ ở gian sương phòng.
Mặt vạt giường bằng gỗ dâu lộ ra, những thanh dát được bào nhẵn bóng nhưng nhiều chỗ đã xuất hiện những vết nứt chân chim kéo dài theo thớ gỗ.
Thẩm Mặc Đẩu bước tới, đặt chiếc hòm đồ nghề lên mặt ghế đẩu. Lão rút chiếc vồ gỗ nhỏ cùng chiếc đục sắt mỏng trong ngăn kéo, khom lưng bắt đầu gõ nhẹ dọc theo bốn cạnh khung giường.
Tiếng gỗ vang lên đều đặn. Cứ mỗi lần đầu vồ chạm vào thân gỗ sưa, lão lại nghiêng tai lắng nghe âm vang truyền lại từ bên trong.
*Cốc... cốc... cốc...*
Tiếng gõ ở đầu giường vang lên đanh và chắc. Nhưng khi lão chuyển chiếc vồ xuống thanh xà dọc phía chân giường bên tay phải, nơi đêm qua phát ra tiếng rít kim loại rợn người, âm thanh bỗng trầm đục hẳn lại.
*Bộp... bộp...*
Thẩm Mặc Đẩu dừng tay. Lão cúi sát mắt xuống thanh xà dọc bằng gỗ sưa đỏ sẫm. Bề mặt gỗ thoạt nhìn phẳng phiu, phủ một lớp sơn then bóng loáng, các đường vân mây uốn lượn liền mạch không có tì vết. Tuy nhiên, khi ngón tay thô ráp của lão miết chậm rãi qua chỗ cách mộng góc chừng nửa thước, lão cảm nhận được một gờ nổi nhỏ li ti, chỉ mỏng bằng sợi tóc.
Lão cầm chiếc đục mỏng, khéo léo dùng mũi thép cạo nhẹ lớp sơn bên ngoài.
Một đường ghép hình chữ nhật nhỏ bằng bao diêm hiện ra. Kẻ làm mộng đã dùng loại keo da trâu trộn mạt cưa gỗ sưa để trét kín khe hở, sau đó quét sơn then che đậy, mắt thường tuyệt đối không thể nhận ra.
- Đưa chiếc kìm nhọn và ngọn đèn dầu lại đây.
Thẩm Mặc Đẩu trầm giọng ra lệnh.
Thôi Trừng Lễ vội vã bưng đĩa đèn dầu hạt lạc tới gần, bàn tay cầm đĩa đèn run lên bần bật khiến dầu sóng sánh ra ngoài mép đĩa.
Thẩm Mặc Đẩu cắm mũi đục vào mép mộng, dùng búa gõ nhẹ vào cán đục. Miếng nẹp gỗ mỏng bật ra, để lộ một hốc trống được khoét sâu vào tận tim của thanh xà giường.
Mùi bùn ao ươn ướt hòa lẫn mùi gỉ sắt nồng nặc lập tức xộc thẳng vào mũi.
Nằm gọn trong lòng hốc gỗ là một vật thể dị dị quái quái dài chừng nửa gang tay.
Thẩm Mặc Đẩu lấy kìm kẹp chặt vật đó, từ từ lôi ra ngoài rồi đặt lên một tấm vải thô trắng trải sẵn trên mặt bàn tròn.
Đó là một hình nhân bằng gỗ liễu mục, thân hình được đẽo gọt vụng về nhưng bốn chi và đầu mình rõ rệt. Toàn thân hình nhân bị quấn chặt kín mít bằng những sợi chỉ ngũ sắc gồm năm màu xanh, đỏ, trắng, đen, vàng đan chéo chằng chịt vào nhau như mạng nhện.
Kinh hãi nhất là ngay giữa ngực hình nhân, một cây đinh sắt dài ba phân rỉ sét đen ngòm bị đóng ngập sâu từ trước ra sau, mũi đinh nhọn hoắt xuyên thủng qua lưng, trồi ra một đoạn dài.
Thẩm Mặc Đẩu lấy mũi dao trổ cẩn thận gạt từng lớp chỉ ngũ sắc bị ẩm mốc bám đầy quanh thân gỗ.
Dưới lớp chỉ, trên ngực và lưng hình nhân hiện ra những dòng chữ viết bằng son chu sa trộn lẫn mực tàu đen nhánh. Bên ngực trái khắc rõ họ tên cùng bát tự ngày tháng năm sinh của Thôi phu nhân. Dọc sống lưng hình nhân, tám chữ Hán sắc nhọn như dao rạch thẳng vào thớ gỗ liễu.
Thân này mục thì mệnh này hết.
Nhìn thấy bát tự của vợ mình cùng dòng chữ rùng rợn ấy, Thôi Trừng Lễ lảo đảo lùi lại hai bước, lưng đập mạnh vào cột nhà, hai chân mềm nhũn suýt ngã quỵ xuống đất. Đám gia nhân đứng quanh phòng mặt mày tái mét, ai nấy đều dạt ra xa, không dám nhìn thẳng vào hình nhân quái ác trên bàn.
Thẩm Mặc Đẩu đặt con dao xuống bàn. Ánh mắt lão lạnh lùng nhìn thẳng vào Thôi Trừng Lễ:
- Búp bê gỗ liễu ngâm nước bùn, quấn chỉ ngũ sắc khóa hồn phách, đinh sắt ba phân xuyên thẳng tâm mạch, lại khắc bát tự người sống kèm lời nguyền tuyệt mệnh. Đây là thuật Đoạt Mệnh Xuyên Tâm tàn độc nhất trong các phép trấn yếm Lỗ Ban. Người bị yếm mỗi đêm sẽ thấy ngực đau như bị đinh cắm, mộng thấy người đòi mạng, ba tháng thì thổ huyết, sáu tháng thì tủy cạn tim khô mà chết.
Lão dừng một nhịp, giọng nói trầm xuống đầy uy lực:
- Đêm qua phu nhân gào thét gọi tên A Thọ. Thôi lão gia, kẻ thù nào đã đặt vật này vào chiếc giường gỗ của nhà ông?
Thôi Trừng Lễ run rẩy quỳ sụp xuống nền gạch lạnh ngắt, hai tay ôm lấy đầu, mồ hôi trên trán túa ra như tắm. Lão quan hưu trí từng một thời thét ra lửa ở nha môn nay co rúm lại như một kẻ tử tội đợi ngày hành quyết.
- Thẩm lão sư phụ... xin cứu lấy nhà tôi... Tôi có tội... thật sự là tôi mang tội lớn rồi!
Thôi Trừng Lễ run rẩy kể lại câu chuyện xảy ra bảy năm về trước.
Năm đó, Thôi Trừng Lễ vừa từ quan về quê Tô Châu mua đất dựng hoa viên. Để phô trương sự giàu sang và quyền thế, ông ta cho mời đội thợ mộc giỏi nhất vùng về đóng một bộ giường bát bảo bằng gỗ sưa đỏ quý hiếm để đặt trong chính phòng tây viện.
Trong nhóm thợ có một thiếu niên chừng mười lăm mười sáu tuổi, dáng người gầy gò, mặt mũi đen nhẻm, tên gọi là A Thọ. Ai ở xóm thợ cũng chỉ biết cậu ta là đứa trẻ mồ côi đi theo phụ việc xách đồ nghề, xẻ gỗ cho thợ cả, không ai rõ quê quán gốc gác ở đâu.
Khi bộ giường sắp hoàn thành, thợ cả giao cho A Thọ gọt giũa và chạm khắc hoa văn cành liễu uốn lượn ở bốn góc trụ giường. A Thọ làm việc miệt mài suốt ba ngày đêm, nhưng đến khi nghiệm thu, Thôi Trừng Lễ nhìn thấy cành liễu chạm khắc hơi rủ xuống chứ không vươn thẳng theo ý mình. Cho rằng hoa văn như vậy mang điềm suy bại, Thôi Trừng Lễ nổi trận lôi đình.
- Lúc đó tôi hồ đồ... cậy mình có quyền thế...
Thôi Trừng Lễ đấm ngực thùm thụp, giọng nghẹn lại:
- Tôi đã cầm chiếc chén trà sứ ném thẳng vào mặt cậu ta. Cạnh chén vỡ đập trúng miệng A Thọ, làm gãy ba chiếc răng cửa, máu chảy đầm đìa khắp cằm. Cậu ta đau đớn quỳ xuống van xin, nhưng tôi không những không nghe mà còn sai gia đinh đánh cậu ta một trận nhừ tử rồi quỵt sạch toàn bộ tiền công ba tháng ròng rã.
Cơn mưa rào mùa hè năm đó trút xuống như thác đổ. Đám gia nhân Thôi phủ đã lôi A Thọ, lúc bấy giờ cả người đầy thương tích và máu me, ném thẳng ra ngoài cổng ngõ giữa trời mưa tầm tã.
A Thọ nằm gục trên nền đá xanh ướt sũng, hai tay ôm lấy miệng đầy máu, nhìn trừng trừng vào cánh cổng gỗ lim đóng chặt của Thôi phủ suốt nửa ngày trời rồi mới lết từng bước rời đi.
- Tôi cứ ngỡ một đứa trẻ tha phương cầu thực như nó sau trận đòn đó sẽ bỏ đi xứ khác... Ai ngờ trước khi bị đuổi, nó đã khoét rỗng thanh xà giường giấu vật này vào tự lúc nào...
Thôi Trừng Lễ gục đầu xuống sàn, nước mắt nước mũi trào ra:
- Đúng lúc đó, từ bên sương phòng bỗng vang lên tiếng ho khan yếu ớt. Đúng lúc đó, từ bên sương phòng bỗng vang lên tiếng ho khan yếu ớt.
Thôi phu nhân đã tỉnh lại tự bao giờ. Dưới sự dìu đỡ của thị nữ, bà ta vịn tay vào khung cửa sương phòng, bước từng bước run rẩy bước ra. Khuôn mặt bà ta hốc hác, đôi mắt trũng sâu nhìn vào hình nhân gỗ trên bàn, trong mắt ánh lên sự kinh hãi tột cùng xen lẫn nỗi xót xa.
- Lão gia... ông ác quá...
Phu nhân nghẹn ngào, giọng nói thều thào như gió thoảng qua khe cửa:
- Hèn chi... suốt ba tháng qua, cứ hễ chợp mắt đến canh ba là tôi lại mơ thấy giấc mộng đó... Hèn chi... suốt ba tháng qua, cứ hễ chợp mắt đến canh ba là tôi lại mơ thấy giấc mộng đó...
Thôi Trừng Lễ ngẩng đầu lên nhìn vợ:
- Phu nhân... nàng mơ thấy gì?
Thôi phu nhân thở dốc, hai bàn tay gầy gò bấu chặt vào ngực áo mình:
- Tôi thấy một thiếu niên mặc manh áo vải thô rách rưới, ướt sũng nước mưa. Toàn thân cậu ta lạnh ngắt như băng, miệng đầy máu tươi, hai hàm răng gãy nham nhở. Cậu ta đứng ngay đầu giường, hai mắt trừng trừng nhìn thẳng vào tim tôi. Cậu ta cầm một chiếc búa sắt và một cây đinh dài, cứ thế từng nhát từng nhát đóng thẳng vào lồng ngực mình... Cứ mỗi nhát búa giáng xuống, ngực tôi lại thắt lại, đau đớn như bị dao cứa, muốn hét lên mà không cất nổi thành lời...
Cả căn phòng rơi vào một khoảng lặng nặng nề. Tiếng gió bấc rít qua khe cửa sổ nghe như tiếng thở dài ai oán của người đã khuất.
Thẩm Mặc Đẩu nhìn hình nhân gỗ trên bàn, ngón tay lão lướt nhẹ qua mũi đinh sắt hoen rỉ. Lão cất tiếng, giọng nói đều đều nhưng mang theo sức nặng ngàn cân:
- Đinh sắt đóng vào tim hình nhân, oán khí theo bát tự truyền thẳng vào huyết mạch người sống. Kẻ thi triển thuật này dùng chính máu và sự uất ức cùng cực của mình để kích hoạt thần chú. Một khi đinh đã xuyên qua bát tự, đây là phép trấn áp đổi mạng. Nó không đơn thuần là một trò trừng phạt nhỏ, mà là muốn cả nhà gia chủ phải trả bằng tính mạng.
Thôi Trừng Lễ nghe vậy liền bò tới trước mặt Thẩm Mặc Đẩu, dập đầu lia lịa xuống nền gạch:
- Thẩm lão trượng! Cầu xin ngài ra tay cứu mạng! Xin ngài mau lấy búa nhổ cây đinh này ra, đem hình nhân này đốt thành tro bụi! Dù tốn bao nhiêu bạc vạn tôi cũng xin dâng đủ!
- Đốt? Nhổ đinh?
Thẩm Mặc Đẩu cười nhạt, ánh mắt sắc lạnh nhìn vị quan họ Thôi:
- Ông tưởng gỡ bỏ trấn vật Lỗ Ban đơn giản như bẻ một cành củi khô sao?
Thẩm Mặc Đẩu đứng thẳng người dậy, hai tay chắp sau lưng, cất giọng răn dạy theo môn quy:
- Phép Lỗ Ban vốn do thánh sư truyền lại để dựng nhà lập nghiệp, giúp đời che mưa chắn nắng. Người thợ mộc dùng đục dùng cưa là mượn linh khí của cây rừng mà tạo phúc. Nhưng nếu chủ nhà ỷ thế hiếp người, khinh khi thợ thuyền, quỵt công đổ máu, thì phép lành lập tức biến thành sát trận. Đinh sắt này ghim vào ngực phu nhân, nhưng căn nguyên là do chính sự tàn bạo bất nhân của ông mà thành.
Lão chỉ tay vào hình nhân bị đinh xuyên:
- Muốn phá vật này, trước hết phải hóa giải oán hận giữa hai bên. Lửa có thể thiêu rụi khúc gỗ liễu, kìm có thể rút cây đinh rỉ sét, nhưng nếu lòng người chưa sám hối, nợ máu chưa trả. Nợ ân chưa đền, thì dù có thiêu hình nhân này thành tro, tàn tro ấy cũng sẽ biến thành tà khí ám vào người khác trong nhà. Đến lúc đó, con gái ông, hay chính bản thân ông, sẽ là người tiếp theo nôn ra máu mà chết.
Thôi Trừng Lễ nghe xong sợ đến run bắn cả người, trán đập xuống sàn gạch đến chảy máu:
- Tôi hiểu rồi... tôi hiểu rồi! Lão sư phụ bảo tôi làm gì tôi cũng xin nghe theo! Tôi xin đem một nửa gia sản đi làm việc thiện, phát chẩn cho người nghèo, tìm kiếm A Thọ để tạ tội đền ơn!
Thẩm Mặc Đẩu không đáp. Lão xoay người bước ra gian sương phòng bên ngoài, nơi đặt chiếc hòm đồ nghề gỗ thông của mình.
Lão kéo ngăn kéo, lấy cuốn sổ trấn vật bọc da thú màu nâu sẫm ra đặt lên bàn trà. Bìa da thú lạnh ngắt, tỏa ra mùi mực tàu và mùi gỗ mục quen thuộc.
Thẩm Mặc Đẩu khẽ lật từng trang giấy Tuyên Thành đã ố vàng. Vượt qua những trang vẽ hình bùa chú và ghi chép về các vụ yếm thắng ở những vùng đất lão từng đi qua, lão lật đến trang giấy trắng ở phần cuối cuốn sổ.
Mặt giấy trắng tinh vốn phẳng lặng không một tì vết từ lúc lão bước chân vào thành Tô Châu. Nhưng khi ánh mắt Thẩm Mặc Đẩu vừa chạm vào mặt giấy, đồng tử lão bỗng co rút lại.
Nằm ngay ngắn ở góc trên cùng của trang giấy trắng, ba chữ viết bằng nét mực đen nhánh, sắc nhọn như khắc bằng dao, đã hiện lên tự bao giờ.
A Thọ... Mộc.
Nét mực đen sẫm hãy còn hơi ươn ướt, ở nét móc cuối cùng của chữ "Mộc", một chấm đỏ li ti màu son chu sa đang từ từ rỉ ra như một giọt máu tươi vừa rơi xuống trang giấy.
Ba chữ ấy đã nằm sẵn trên trang giấy trắng từ trước cả khi Thẩm Mặc Đẩu cất tiếng tra hỏi Thôi Trừng Lễ về danh tính của người thợ mộc năm xưa.