Lỗ Ban Ký Sự - Chương 15: Linh Dược Cứu Người

Thẩm Mặc Đẩu đứng vững trên chiếc ghế đẩu bằng gỗ trắc, ngón tay giữ chắc thanh thước câu mun bóng loáng. Ánh sáng từ chiếc đèn dầu treo trên cột gỗ…

Nội dung chương

Thẩm Mặc Đẩu đứng vững trên chiếc ghế đẩu bằng gỗ trắc, ngón tay giữ chắc thanh thước câu mun bóng loáng. Ánh sáng từ chiếc đèn dầu treo trên cột gỗ chiếu rọi vào đầu lưỡi dao trổ bằng thép trắng. Hạt bụi khoáng chất nhỏ bằng đầu tăm vừa cạo ra từ nét vẽ hồ lô vẫn rực lên sắc đỏ tươi thuần khiết, tuyệt nhiên không hề biến thành màu xám đục của tro bụi thông thường.

Lão khẽ nghiêng sống dao, cẩn thận đặt mẩu khoáng nhỏ ấy trở lại khe nứt vi mô trên thớ vôi trắng, rồi áp cạnh thước câu mun vào mép tường.

Thanh thước câu dài đúng một thước hai tấc, trên thân khắc chìm các vạch đo Lỗ Ban xích sơn đỏ đã sờn. Thẩm Mặc Đẩu rê đầu thước từ phần cuống hồ lô thon nhỏ, trượt dần qua phần eo thắt rồi hạ xuống đáy bụng phình to ở phía dưới. Từng đường thước đi qua đều khớp nối chuẩn xác vào các cung cát lành: Nghinh Phúc, Lục Hợp, Tiến Bảo.

Bức vẽ hồ lô này cao một thước sáu phân, bề ngang nơi phình rộng nhất đúng tám tấc ba phân. Nét bút uốn lượn dứt khoát, không hề có dấu vết run rẩy hay đứt đoạn. Trải qua hơn sáu mươi năm chịu đựng gió ẩm từ mặt kênh Tô Châu thổi vào, lớp vôi vách đông đã ngả sang màu vàng ngà. Nhưng đường viền chu sa viền quanh thân hồ lô vẫn bám chặt lấy bề mặt vách, không bong tróc, không nứt nẻ dù chỉ một đường chân chim.

Quan trọng hơn cả, miệng của chiếc hồ lô không hướng thẳng lên nóc nhà hay chúc xuống nền gạch, mà hơi nghiêng một góc ba phân, chĩa thẳng vào bên trong lòng gian nhà chính của Bách Thảo Đường.

Thẩm Mặc Đẩu thu thước câu mun lại, bước xuống ghế đẩu. Lão phủi nhẹ vạt áo chàm rồi quay nhìn Chu Hoài Nghĩa đang đứng bên cạnh với vẻ mặt đầy hồi hộp.

- Miệng bình nghiêng vào trong, đáy bình tựa vào mạch đất phía đông.

Thẩm Mặc Đẩu cất tiếng, giọng lão trầm thấp, vang nhẹ giữa mùi thuốc bắc nồng đượm:

- Trong phép trấn trạch của Lỗ Ban Kinh, thế vẽ này gọi là Thâu Phong Tụ Khí, hay chuẩn xác hơn là Hút Bệnh Giữ Lộc. Miệng hồ lô mở ra thu nạp uế khí, tà phong và độc trướng từ ngoài ngõ thâm nhập vào y quán. Bụng hồ lô chứa đựng thần sa nguyên chất để hóa giải độc khí thành thanh khí; đáy hồ lô vững chãi giữ lại phúc lộc và bình an cho cả dòng họ.

Chu Hoài Nghĩa nghe vậy liền thở phào nhẹ nhõm, hai tay chắp lại trước ngực vái một vái sâu:

- Thẩm tiên sinh quả nhiên tinh thông tường tận. Bao năm qua con cháu họ Chu chỉ biết trông nom bức vẽ theo lời dặn của tổ phụ, chứ chưa từng hiểu hết ngọn ngành sâu xa bên trong.

Thẩm Mặc Đẩu bước lại bàn trà, ngồi xuống chiếc ghế dựa bằng mây tre. Lão đón chén trà hoa cúc nóng vừa được châm thêm, nhấp một ngụm rồi nói tiếp:

- Bức vẽ này quý giá ở chất liệu thần sa, nhưng điểm cốt lõi lại nằm ở tâm đức của người đặt bút. Thần sa vốn là khoáng vật mang tính chí dương của trời đất, có thể trừ tà, an thần, giải trừ độc chướng. Khi hòa cùng nhựa cây bách ngàn năm và dầu trẩu luyện kỹ, mực thần sa tạo thành một lớp màng chắn phong thủy kiên cố. Tuy nhiên, phép cát tường này rất hiếm khi thành công trọn vẹn, bởi vì người thợ mộc hạ bút vẽ hồ lô buộc phải là người có đạo hạnh thâm sâu. Tay nghề đạt đến mức hóa cảnh và tâm địa hoàn toàn thanh tịnh.

Lão mộc sư già nhìn thẳng vào mắt Chu Hoài Nghĩa, ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ:

- Trấn vật hung hiểm dùng oán hận hại người để rút cạn phúc thọ của đối phương. Riêng phép hồ lô thần sa là một giao ước phong thủy giữa người thợ và gia chủ, dựa trên âm đức. Vị mộc sư năm xưa không lấy của tổ phụ ông một đồng tiền công nào, đổi lại, ông ấy mượn chính y đạo của Bách Thảo Đường để nuôi dưỡng linh khí cho bức vẽ.

Chu Hoài Nghĩa mở to mắt, kinh ngạc hỏi:

- Mượn y đạo để nuôi dưỡng linh khí là thế nào, xin tiên sinh chỉ giáo thêm?

Thẩm Mặc Đẩu chậm rãi giải thích:

- Mỗi lần Bách Thảo Đường bốc thuốc cứu sống một mạng người nghèo khó, mỗi lần các vị đại phu ở đây chữa khỏi một ca bạo bệnh mà không màng danh lợi. Âm đức tích lũy từ lời cảm tạ chân thành của người bệnh sẽ tự động tụ về gian nhà này. Luồng thanh khí thiện lương ấy được miệng hồ lô hút vào, thẩm thấu trực tiếp vào thớ mực thần sa. Cứ cứu thêm một người, mực thần sa lại dày thêm một lớp vô hình, sắc đỏ càng thêm tinh thuần, sức bảo hộ cho ngôi nhà lại càng thêm vững chắc. Đó chính là lý do vì sao trận đại hỏa hoạn hai mươi năm trước thiêu rụi cả dãy phố nhưng phải dừng bước trước vách tường đông của y quán. Lửa trần gian không thể thiêu đốt một bức tường được đắp bồi bằng ân đức của hàng vạn người.

Nghe những lời giải thích cặn kẽ của Thẩm Mặc Đẩu, Chu Hoài Nghĩa ngồi lặng đi hồi lâu. Gương mặt từng trải của vị thầy thuốc bỗng lộ ra niềm xúc động nghẹn ngào. Ông nhìn về phía bức tường đông, nơi bóng hình chiếc hồ lô ẩn hiện dưới ánh đèn, đôi mắt rưng rưng:

- Hóa ra là như vậy... Thảo nào năm tôi lên tám tuổi, bà nội tôi đã dặn đi dặn lại điều này.

Chu Hoài Nghĩa bưng chén trà nguội lên tay nhưng không uống, ký ức xưa cũ bỗng ùa về trong tâm trí ông:

- Năm đó thành Tô Châu trải qua một trận dịch tả khủng khiếp vào giữa mùa hè oi ả. Người chết nhiều vô kể, khắp các con ngõ ven sông ngày nào cũng có tiếng kèn đám ma ai oán. Y quán họ Chu mở cửa từ mờ sáng đến tận đêm khuya để phát thuốc cứu tế. Cha tôi và ông nội tôi kiệt sức vì khám bệnh, còn tôi khi ấy còn nhỏ dại, không may cũng bị nhiễm phải thứ dịch bệnh quái ác đó.

Chu đại phu ngừng lại một chút, giọng nói trầm hẳn xuống:

- Tôi sốt li bì suốt ba ngày ba đêm, toàn thân nóng ran như than hồng, thuốc thang đổ vào bao nhiêu đều nôn ra bấy nhiêu. Mạch đập yếu ớt, hơi thở đứt quãng, các danh y nổi tiếng nhất trong thành được mời đến đều lắc đầu buông tay, bảo cha tôi chuẩn bị hậu sự. Giữa lúc tuyệt vọng nhất, bà nội tôi kiên quyết không cho đưa tôi vào phòng trong. Bà sai gia nhân kê một tấm ván gỗ thông dài đặt sát mép tường đông, ngay phía dưới bức vẽ hình hồ lô, rồi đặt tôi nằm lên đó.

Thẩm Mặc Đẩu chăm chú lắng nghe, không hề cắt ngang lời kể.

- Suốt đêm hôm đó, bà nội tôi ngồi bên cạnh tấm ván, một tay nắm chặt lấy bàn tay nhỏ bé của tôi, một tay cầm tràng hạt lần từng hạt gỗ, miệng liên tục niệm kinh cầu phúc.

Chu Hoài Nghĩa xúc động nhớ lại:

- Nửa đêm, khi cơn sốt đẩy tôi vào trạng thái mê man cùng cực, tôi cảm nhận được một luồng hơi mát lạnh, êm dịu từ bức tường vôi phả thẳng vào gáy và sống lưng mình. Luồng gió mát ấy mang theo mùi thơm thanh khiết của thảo mộc và hương nhựa bách thoang thoảng, xua tan hoàn toàn cảm giác ngột ngạt, nóng cháy trong lồng ngực.

Chu đại phu đưa tay áo lau khóe mắt:

- Đến canh năm, khi tiếng gà gáy đầu tiên vang lên bên kia sông, toàn thân tôi bất ngờ toát ra một lớp mồ hôi đầm đìa, tanh tưởi. Cơn sốt cao hạ xuống nhanh chóng, hơi thở của tôi đều đặn trở lại và tôi mở mắt nhìn thấy bà nội đang mỉm cười trong nước mắt. Từ sau lần thoát chết thần kỳ đó, cha tôi luôn răn dạy tôi rằng mạng sống của tôi là do trời đất và tổ nghiệp giữ lại, cả đời này phải tận tâm hành y, tuyệt đối không được phép làm điều thất đức.

Thẩm Mặc Đẩu khẽ gật đầu:

- Tấm ván gỗ kê sát chân tường đông chính là vị trí đón nhận thanh khí nồng đậm nhất. Khí chu sa từ bụng hồ lô tỏa ra theo hướng thẳng đứng, gặp hơi ấm của người sống sẽ tự động dung hòa, khai thông kinh mạch bế tắc. Bà nội của ông là người hiểu chuyện, biết mượn phúc đức tổ tông để giữ lấy giọt máu họ Chu.

Đúng lúc hai người đang trò chuyện, bên ngoài ngõ đá bỗng vang lên tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch, dồn dập kèm theo tiếng thở dốc và tiếng khóc xé ruột của một người phụ nữ.

- Cứu mạng với! Chu đại phu ơi, cứu con tôi với!

Cánh cửa gỗ ba gian của Bách Thảo Đường bị đẩy bật ra. Một người đàn bà trạc ba mươi tuổi, quần áo vá chằng vá đụp ướt đẫm mồ hôi, chân đi đôi giày vải rách tơi tả, hớt hải bế một đứa trẻ chừng hai, ba tuổi lao vào trong y quán. Theo sau là một người đàn ông gầy gò, nước da đen sạm, trên vai vẫn còn khoác chiếc đòn gánh của dân phu khuân vác bến tàu.

Đứa bé trên tay người mẹ toàn thân co giật từng cơn, hai mắt trợn ngược, đôi môi tím tái, trán nóng rực đến mức bốc lên làn khói mờ ảo trong không khí ẩm ướt của buổi hoàng hôn. Tiếng thở của đứa trẻ khò khè, tắc nghẽn như có đờm đặc chẹn ngang cổ họng.

- Đại phu, xin ngài làm phúc cứu lấy thằng bé!

Người đàn ông làm cha ấy quỳ sụp xuống nền gạch xanh, đầu đập chan chát xuống đất đến mức trán rướm máu.

Chiều nay cháu đang chơi ở bến sông thì đột ngột lên cơn sốt cao, co giật rồi ngất lịm đi. Vợ chồng tôi gom góp hết gia tài chỉ có mười hai đồng tiền lẻ này, xin đại phu mở lòng từ bi cứu giúp!

Chu Hoài Nghĩa lập tức đứng bật dậy, nét mặt nghiêm nghị. Ông không hề liếc nhìn số tiền lẻ trên tay người đàn ông, sải bước nhanh tới đỡ lấy đứa trẻ từ tay người mẹ:

- Mau đứng dậy! Cứu người là việc gấp, tiền nong tính sau!

Thẩm Mặc Đẩu ngồi yên bên bàn trà, ánh mắt bình thản nhưng sắc sảo quan sát toàn bộ diễn biến.

Chu Hoài Nghĩa bế đứa trẻ chạy thẳng về phía góc đông của y quán. Không cần suy nghĩ nhiều, theo thói quen truyền đời của gia đình, ông đặt ngay đứa bé nằm lên chiếc phản gỗ dài kê sát mép tường, ngay phía dưới bụng của chiếc hồ lô thần sa.

- A Phúc!

Chu đại phu hô lớn gọi người học trò đang đứng sau quầy thuốc:

- Mau lấy hộp châm bạc và đem hũ bột ngưu hoàng, chu sa định kinh hoàn lại đây! Nhanh lên!

Người học trò vội vã mang hộp đồ nghề đến. Chu Hoài Nghĩa nhanh nhẹn mở lớp vải bọc của đứa bé, ngón tay điểm nhẹ vào huyệt Nhân Trung. Rồi rút ba cây kim bạc dài từ trong hộp da, chuẩn xác châm vào các huyệt Bách Hội, Hợp Cốc và Dũng Tuyền của đứa trẻ. Động tác châm kim của ông nhanh gọn, dứt khoát, thể hiện tay nghề y thuật vô cùng lão luyện.

Cùng lúc đó, ông hòa một lượng nhỏ bột thuốc màu vàng nhạt vào bát nước ấm, cẩn thận dùng thìa con cạy miệng đứa trẻ, từ từ bón từng giọt thuốc vào cuống họng.

Đứa bé vẫn co giật, những giọt thuốc đầu tiên bị ọc ngược ra ngoài khóe mép. Bà mẹ nghèo của đứa bé quỳ sụp bên cạnh phản gỗ, hai tay ôm lấy ngực, khóc không thành tiếng vì tuyệt vọng. Người chồng đứng chôn chân một góc, đôi bàn tay gân guốc siết chặt lấy chiếc đòn gánh, cả người run rẩy bần bật.

Thẩm Mặc Đẩu đứng dậy, chắp hai tay sau lưng, chậm rãi bước lại gần bức tường đông.

Lão không can thiệp vào việc bốc thuốc chẩn mạch của Chu Hoài Nghĩa, chỉ im lặng ngước nhìn lên bức vẽ trên vách vôi.

Khi bóng tối bên ngoài ngõ phố bắt đầu buông xuống dày đặc, ánh hoàng hôn cuối cùng tắt hẳn trên các mái ngói âm dương, gian nhà chính của Bách Thảo Đường chìm vào sắc đỏ mờ của ngọn đèn dầu lạc.

Dưới ánh sáng ấm áp ấy, những hạt khoáng chất thần sa trên bụng hồ lô bỗng phát ra một luồng ánh sáng đỏ sẫm rất mờ nhạt, mắt thường khó lòng nhận biết. Không gian xung quanh chiếc phản gỗ bỗng trở nên tĩnh lặng kỳ lạ. Hơi nóng hầm hập tỏa ra từ cơ thể đứa bé co giật bị một lực hút vô hình kéo thẳng lên vách tường, từng đợt từng đợt cuốn vào trong miệng hồ lô đang mở hé.

Một làn gió mát rượi thoang thoảng mùi nhựa bách và cam thảo nhẹ nhàng lướt qua trán đứa trẻ.

Sau nửa tuần trà kiên trì nhỏ thuốc và cứu huyệt của Chu Hoài Nghĩa, cơn co giật của đứa bé bắt đầu giảm dần. Hai bàn tay nhỏ xíu đang co quắp từ từ buông lỏng ra, hơi thở khò khè biến mất, thay vào đó là nhịp thở đều đặn, êm ái.

Chu Hoài Nghĩa đưa mu bàn tay lên áp vào trán đứa trẻ. Lớp da thịt nóng bỏng lúc nãy giờ đã dịu hẳn, mồ hôi li ti bắt đầu rịn ra trên trán và sống mũi. Sắc mặt tím tái của đứa bé dần dần hồng hào trở lại.

- Ơn trời đất, hạ sốt rồi! Tà nhiệt đã tán ra ngoài, kinh phong đã lui!

Chu Hoài Nghĩa thở phào một hơi dài. Nụ cười rạng rỡ trên gương mặt đầy mồ hôi.

Người mẹ run rẩy vươn tay chạm vào má con mình, thấy con đã thở êm, bà òa khóc nức nở, vội vàng cùng chồng dập đầu lạy tạ Chu đại phu:

- Đa tạ Bồ Tát sống! Đa tạ Chu đại phu đã cứu sống con tôi! Ơn tái sinh này kiếp sau gia đình chúng tôi xin làm thân trâu ngựa để đền đáp!

Chu Hoài Nghĩa vội đỡ hai vợ chồng dậy, giọng ôn tồn:

- Mau đưa cháu về nhà, tránh gió lạnh. Tôi đã gói sẵn ba thang thuốc thanh nhiệt giải độc, đem về sắc mỗi ngày một thang cho cháu uống. Nhớ cho cháu uống nhiều nước ấm, ngày mai đưa lại đây tôi xem mạch lại.

Ông bố nghèo run rẩy đặt mười hai đồng tiền đồng lên bàn thuốc, nhưng Chu Hoài Nghĩa gạt tay đẩy lại vào túi áo của ông ta:

- Cầm lấy số tiền này mà mua chút gạo tẩm bổ cho mẹ con họ. Y quán chúng tôi khám bệnh cứu người, chưa từng lấy tiền của kẻ khốn khó. Đi đi.

Hai vợ chồng nghèo ôm con vào lòng, vừa khóc vừa cảm tạ, rồi dìu nhau bước ra khỏi cửa y quán trong màn đêm tĩnh mịch của phố cổ Tô Châu.

Thẩm Mặc Đẩu đứng lặng nơi góc tối, chứng kiến toàn bộ sự việc từ đầu đến cuối. Đôi mắt già nua của lão ánh lên một tia nhìn thấu suốt nhân tình thế thái.

Lão bước lại chiếc bàn con nơi góc phòng, mở nắp hòm đồ nghề gỗ mun. Bàn tay thô ráp của lão cẩn thận lấy cuốn sổ trấn vật bọc da thú màu nâu sẫm đặt lên mặt bàn.

Thẩm Mặc Đẩu lật nhẹ từng trang giấy Tuyên Thành đã ngả màu vàng ố, dừng lại ở trang giấy trắng nơi phần cuối cuốn sổ.

Bên dưới dòng chữ "Đinh rút rồi, tim còn đóng" của chuyện Thôi phủ hôm trước, mặt giấy trắng tinh khôi bỗng nhiên khẽ rung động nhẹ nhàng.

Không cần đến bút lông hay mực tàu, từ sâu bên trong thớ giấy Tuyên Thành, một vệt mực màu đỏ tươi pha lẫn ánh đen nhánh như thần sa thượng hạng bắt đầu tự động rỉ ra. Uốn lượn thành từng nét chữ sắc sảo, ngay ngắn.

Cùng lúc đó, từ ngoài ngõ vắng nơi đôi vợ chồng nghèo vừa bước đi, tiếng khóc ngằn ngặt ban nãy của đứa trẻ bỗng hoàn toàn im bặt. Thay vào đó, một tiếng cười khúc khích non nớt, trong trẻo và ngây thơ vang lên, xé tan không khí ẩm ướt và lạnh lẽo của đêm đông Tô Châu, vọng thẳng vào bên trong gian nhà chính của Bách Thảo Đường.

Đúng vào tiếng cười hồn nhiên ấy vang lên, nét bút cuối cùng trên trang giấy trắng tự động hạ xuống, hoàn tất một dòng chữ đỏ thắm.

Hồ lô thu độc khí, một lớp âm đức mới.

Thẩm Mặc Đẩu cúi nhìn dòng chữ còn ướt đẫm sắc đỏ tươi rực rỡ, ngón tay lão khẽ chạm vào mặt giấy, cảm nhận được một luồng sinh khí ấm áp dịu dàng lan tỏa từ thớ gỗ và mực thần sa.

Chương khác

Xem thêm