Lỗ Ban Ký Sự - Chương 14: Hồ Lô Trên Tường
Sương đêm bến sông phủ kín các ngõ ngách thành Tô Châu bằng một lớp màng ướt lạnh. Bóng người giao liên câm lặng lướt đi thoăn thoắt trên những phiến đá…
Nội dung chương
Sương đêm bến sông phủ kín các ngõ ngách thành Tô Châu bằng một lớp màng ướt lạnh.
Bóng người giao liên câm lặng lướt đi thoăn thoắt trên những phiến đá xanh nhẵn thó, chiếc áo vải xám rách rưới bay là tà sát mặt đường. Gã không quay đầu lại, không phát ra tiếng thở, chỉ cắm cúi rảo bước qua những khúc quanh ngoằn ngoèo của phố cổ. Thẩm Mặc Đẩu vác hòm đồ nghề gỗ mun bên vai trái, tay phải cầm chắc thanh thước câu bằng gỗ mun viền đồng, từng bước vững chãi bám sát phía sau.
Hai người đi qua ba con phố dài. Dãy nhà mái ngói âm dương hai bên đường đều đã đóng chặt cửa cài then, ánh đèn lồng đỏ treo trước hiên chỉ còn hắt xuống mặt đá những vệt sáng lờ mờ như máu loãng. Tiếng nước róc rách dưới mương thoát nước hòa lẫn tiếng gõ mõ cầm canh xa xăm từ phía bờ sông dội lại.
Đến cuối con phố thứ ba, nơi góc ngã ba rẽ vào một con hẻm sâu lát đá cuội, người giao liên dừng bước trước một căn nhà gỗ ba gian cổ kính. Phía trên cửa chính treo một tấm biển hiệu bằng gỗ bách phủ sơn đen bóng, khắc ba chữ thếp vàng đã ngả màu thời gian: "Bách Thảo Đường". Đôi đèn lồng treo dưới mái hiên tỏa ra thứ ánh sáng vàng ấm áp, xua tan cái lạnh lẽo ẩm mướt của đêm muộn. Mùi thuốc bắc ngai ngái nồng đượm bay ra từ khe cửa khép hờ, hòa quyện giữa vị đắng của hoàng liên, mùi cay nồng của xuyên khung và hương thơm ngọt dịu của cam thảo nướng.
Người giao liên đưa tay đẩy nhẹ cánh cửa gỗ dán giấy bản. Bản lề gỗ xoay êm ru không một tiếng cọt kẹt. Gã bước thẳng tới quầy thuốc bằng gỗ trắc đen bóng dựng giữa gian tiền sảnh. Từ trong bọc áo xám, gã lấy ra một túi vải gai cũ mèm, bên ngoài thắt bằng sợi dây thừng bện cỏ khô, đặt êm ái lên mặt quầy.
Xong việc, gã xoay phắt người lại, lướt qua mặt Thẩm Mặc Đẩu rồi bước thẳng ra ngoài màn sương đêm, biến mất sau khúc quanh con hẻm như một làn khói loãng.
Bên trong y quán, một ngọn đèn dầu hạt cải đặt trên bàn kê đơn chiếu sáng một góc phòng. Một người đàn ông trạc ngũ tuần, mái tóc đã điểm nhiều sợi bạc, mặc áo dài lụa màu xanh chàm sẫm đang ngồi ngay ngắn lật từng trang y án. Nghe tiếng động, ông ngẩng đầu lên, ánh mắt hiền từ lộ rõ vẻ kinh ngạc khi nhìn thấy chiếc túi vải gai nằm trên mặt quầy.
Thẩm Mặc Đẩu bước qua ngưỡng cửa gỗ thông, hạ hòm đồ nghề xuống góc vách, chắp hai tay hành lễ theo phép tắc giang hồ:
- Đêm hôm quấy rầy Chu đại phu, xin thứ lỗi cho kẻ lỡ đường.
Người đàn ông nọ chính là Chu Hoài Nghĩa, chủ đời thứ ba của y quán Bách Thảo Đường danh tiếng khắp phủ Tô Châu. Chu đại phu vội đứng dậy, bước vòng qua quầy thuốc, chắp tay đáp lễ:
- Lão tiên sinh quá lời. Mở cửa bốc thuốc cứu người vốn không phân biệt ngày đêm. Vị khách vừa rồi...
Chu Hoài Nghĩa đưa tay chạm vào túi vải gai trên quầy, mở nút thắt bằng dây cỏ. Bên trong là một nắm thảo dược màu nâu sẫm, rễ cây cuộn lại như hình móng rồng, tỏa ra mùi thơm thanh khiết lạ thường. Chu đại phu cẩn thận nâng nắm rễ cây lên sát mũi ngửi, sắc mặt khẽ biến đổi:
- Đây là Long Đảm Thảo mọc trên vách đá non cao, phơi sấy theo đúng quy cách của Dược Vương môn. Loại dược liệu này đã thất truyền ở vùng đồng bằng này mấy chục năm qua. Người đưa thuốc không để lại tên họ sao?
Thẩm Mặc Đẩu lắc đầu:
- Người đó câm lặng, chỉ đưa đường chỉ lối. Lão đây đi ngang qua phố cổ, tiện đường ghé vào xin mua vài vị thuốc mang theo phòng thân.
- Tiên sinh cần vị thuốc gì, cứ việc nói.
Chu đại phu vui vẻ kéo ghế đẩu gỗ bách mời khách ngồi rồi quay về bức tường sau quầy.
Đó là một dược quỹ khổng lồ cao chạm xà nhà, chiếm trọn toàn bộ chiều dài gian phòng chính. Dược quỹ được đóng bằng gỗ trắc đỏ sẫm, chia thành hàng trăm ngăn kéo nhỏ vuông vức, mỗi ngăn đều có tay nắm bằng đồng sáng bóng và một mẩu giấy ghi tên vị thuốc bằng nét chữ khải chân phương.
Thẩm Mặc Đẩu nhìn dược quỹ, ánh mắt lão dừng lại ở các mối ghép mộng. Từng góc nối, từng thanh giằng đều được tra mộng âm dương bén ngót, không dùng đến một chiếc đinh sắt nào, phẳng phiu như liền một khối. Dù trải qua nhiều thập kỷ chứa đầy thảo dược ẩm ướt, mặt gỗ vẫn không hề cong vênh hay nứt nẻ.
- Phiền đại phu bốc cho lão nửa lạng chu sa loại bột mịn, ba đồng cân hùng hoàng, nửa lạng long não và một ít ngải nhung khô.
Thẩm Mặc Đẩu cất tiếng.
Chu Hoài Nghĩa hơi ngạc nhiên nhìn vị mộc sư già:
- Chu sa, hùng hoàng trấn kinh giải độc nhưng mang tính nóng; long não thông khiếu, ngải nhung trừ hàn. Tiên sinh bốc toàn những vị thuốc thuần dương khí, ắt hẳn không phải dùng để sắc uống trị phong hàn thông thường?
- Nghề thợ mộc rày đây mai đó, đục đẽo nơi rừng sâu xó tối, thường xuyên chạm phải những thứ u uất ẩm thấp lâu năm. Có chút thuốc thuần dương bên người để xông phòng khử uế, tránh tà khí nhập cốt.
Thẩm Mặc Đẩu thản nhiên đáp.
Chu đại phu mỉm cười gật đầu, thoăn thoắt kéo các ngăn kéo nhỏ, dùng chiếc cân tiểu ly bằng xương thú cân từng vị thuốc rồi gói cẩn thận vào từng mảnh giấy dầu màu vàng. Động tác của ông thuần thục, chuẩn xác, không thừa một cử chỉ nào. Vừa gói thuốc, Chu Hoài Nghĩa vừa nhìn chiếc hòm đồ nghề gỗ mun và thanh thước câu đặt bên chân Thẩm Mặc Đẩu:
- Nhìn khí sắc và dụng cụ của tiên sinh, chắc hẳn là bậc đại sư trong nghề mộc Lỗ Ban?
- Lão chỉ là kẻ gọt đẽo gỗ thông kiếm miếng cơm qua ngày, đâu dám nhận hai chữ đại sư.
Thẩm Mặc Đẩu điềm đạm trả lời.
Chu Hoài Nghĩa đưa các gói thuốc cho Thẩm Mặc Đẩu, rồi chỉ tay lên khung nhà gỗ và chiếc dược quỹ đồ sộ:
- Tiên sinh đừng khiêm tốn. Nhà tôi ba đời làm nghề bốc thuốc. Tổ phụ tôi khi sinh thời luôn dặn con cháu: nghề y trị bệnh cứu người là một nửa, nửa còn lại nhờ phúc trạch của ngôi nhà và cái tâm người thợ dựng nên nó. Chiếc dược quỹ này và toàn bộ khung gian y quán Bách Thảo Đường đều do một vị danh mộc sư thời trước đích thân thiết kế và dựng lên.
Thẩm Mặc Đẩu ngước nhìn những vì kèo, cột gỗ lim to bằng vòng tay ôm:
- Ngôi nhà này dựng vào khoảng năm mươi năm trước, kết cấu rường cột vững chãi, thế nhà tọa bắc triều nam, khí mạch thông suốt. Người dựng nhà ắt hẳn am hiểu sâu sắc quy cách Lỗ Ban Kinh, từng tấc gỗ đều đặt đúng phương vị nạp khí.
Chu Hoài Nghĩa lộ rõ vẻ khâm phục, rót một chén trà hoa cúc nóng đẩy về phía Thẩm Mặc Đẩu:
- Tiên sinh nhìn chuẩn xác lắm. Năm xưa khi ông nội tôi từ quê nghèo lên Tô Châu lập nghiệp, trong tay chỉ có một tay nải đựng vài cuốn y thư cũ và mấy thang thuốc nam. Ông dựng một căn lều cỏ bên ngã ba này để bốc thuốc miễn phí cho người nghèo. Một năm nọ, có một vị mộc sư già mắc chứng thương hàn biến chứng ho ra máu, ngất xỉu ngay trước cửa lều. Ông nội tôi dốc hết những vị thuốc quý nhất trong nhà, thức trắng bảy ngày bảy đêm cứu sống vị mộc sư đó.
Chu đại phu nhấp một ngụm trà, giọng chùng xuống đầy hoài niệm:
- Sau khi khỏi bệnh, vị mộc sư không có tiền trả công, chỉ nói rằng sẽ tặng cho ông nội tôi một ngôi nhà để đời. Khi ông nội gom góp đủ tiền mua mảnh đất này dựng Bách Thảo Đường, vị mộc sư ấy đã tự tay chọn từng cây gỗ, phạt từng đường mộng, dựng nên chiếc dược quỹ này. Đặc biệt, vào ngày làm lễ cất nóc thượng lương, trước khi rời đi, vị mộc sư đã trèo lên giàn giáo. Dùng một loại mực bí truyền vẽ tặng gia đình một bức hình hồ lô nhỏ ở ngay khe nối đầu tường đông giáp với vì kèo xà ngang.
Nghe đến hai chữ "hồ lô", ánh mắt Thẩm Mặc Đẩu khẽ lay động. Lão đặt chén trà xuống bàn, ngẩng đầu nhìn về phía góc tường đông của gian nhà:
- Hồ lô vẽ đầu tường?
- Đúng vậy.
Chu Hoài Nghĩa gật đầu.
Vị mộc sư dặn rằng, bức vẽ đó là linh vật bảo hộ của Bách Thảo Đường. Chừng nào nét mực hồ lô còn nguyên vẹn, y quán sẽ đời đời hưng thịnh, không sợ hỏa tai tà dịch. Hơn năm mươi năm qua, gia đình tôi trải qua biết bao thăng trầm, nhưng bức vẽ ấy vẫn nằm nguyên vẹn trên góc tường.
Thẩm Mặc Đẩu đứng dậy, chỉnh lại vạt áo:
- Chu đại phu, lão có thể mạo muội xin phép được ngắm nhìn bức vẽ của tiền bối được không?
- Tiên sinh cứ tự nhiên.
Chu Hoài Nghĩa vui vẻ cầm cây đèn dầu trên bàn đưa cho Thẩm Mặc Đẩu.
Thẩm Mặc Đẩu bước về phía góc đông của gian tiền sảnh. Gian tường đông được xây bằng gạch xám trát vữa vôi, phần trên tiếp giáp trực tiếp với xà ngang và vì kèo gỗ thông đỡ lấy mái ngói.
Nơi đây quanh năm tiếp nhận ánh nắng ban mai chiếu vào từ cửa sổ hướng đông, lại là nơi đặt chiếc bàn khám bệnh phụ dành cho những ca bệnh nặng. Thẩm Mặc Đẩu kê một chiếc ghế gỗ chắc chắn, bước lên rồi giơ cao ngọn đèn dầu soi thẳng vào khe tiếp giáp giữa mặt tường vôi và dầm gỗ xà ngang.
Dưới ánh lửa vàng bập bùng, một góc tường hiện ra rõ mồn một.
Ngay tại điểm giao nhau giữa mạch vôi vữa và thớ gỗ thông cổ thụ, một hình vẽ hồ lô thắt eo nhỏ nhắn, chỉ dài chừng nửa gang tay, hiện lên vô cùng sống động. Hình hồ lô có phần bụng dưới phình tròn đầy đặn, phần eo thắt lại mềm mại, miệng hồ lô mở ra hướng chếch vào bên trong lòng gian nhà chính.
Toàn bộ hình vẽ được phác họa bằng một loại mực màu nâu sẫm kỳ lạ. Dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu hạt cải, lớp mực nâu ấy không hề xỉn màu hay mốc meo theo thời gian. Mà trái lại, trên bề mặt nét vẽ lấp lánh vô số hạt bụi khoáng chất nhỏ li ti như những vảy vàng mịn. Từng nét viền, từng đường uốn lượn nơi cuống hồ lô đều sắc sảo, dứt khoát. Thanh thoát vừa được phóng bút cách đây vài khắc chứ không phải đã trải qua hơn nửa thế kỷ dầm dãi trong khói thuốc và hơi ẩm đất trời.
Thẩm Mặc Đẩu chăm chú nhìn từng đường nét của hình hồ lô, lồng ngực lão khẽ thắt lại. Đây chính là một trong mười điều cát tường tối thượng được ghi chép trong Lỗ Ban Kinh: "Hồ lô vẽ đầu tường, linh dược hóa tai ương, ngàn năm không dứt phúc, dòng dõi mãi an khang".
Người vẽ được bức hình này phải là bậc đại sư nắm giữ bí thuật hòa mực chu sa thần sa với nhựa cây bách ngàn năm, dùng tâm niệm chí thiện và chân khí của người thợ mộc mà hạ bút. Miệng hồ lô mở hướng vào trong là cách bài trí "thu nạp trược khí, giữ lại linh căn", biến không gian xung quanh thành một đầm chứa dương khí ôn hòa.
Thẩm Mặc Đẩu bước xuống khỏi ghế gỗ, trao lại cây đèn dầu cho Chu Hoài Nghĩa. Lão nhìn vị đại phu với ánh mắt đầy trân trọng:
- Danh bất hư truyền. Nét vẽ ấy ngưng tụ đạo hạnh và ân đức rất sâu dày của vị mộc sư năm xưa.
Chu Hoài Nghĩa mỉm cười, dẫn Thẩm Mặc Đẩu quay lại bàn trà. Ông mở chiếc hòm gỗ nhỏ đặt trên kệ sách phía sau, cẩn thận lấy ra một cuốn gia phả bọc lụa vàng và một tập sổ tay ghi chép bệnh án đã ố vàng theo năm tháng.
- Tiên sinh nói rất đúng. Từ ngày tổ phụ tôi dựng y quán và có bức vẽ hồ lô bảo hộ, Bách Thảo Đường chưa từng gặp phải bất kỳ một tai ương hoạn nạn nào.
Chu đại phu lật từng trang gia phả, giọng nói đầy lòng tự hào và biết ơn:
- Gia tộc họ Chu chúng tôi ba đời nối nghiệp y, đời nào cũng sinh ra những người con có thiên phú về dược liệu. Tay nghề chẩn mạch cứu người đều vững vàng, chưa từng để xảy ra một ca tử vong oan uổng nào do sơ suất dùng nhầm thuốc.
Chu Hoài Nghĩa chỉ vào những dòng chữ ghi chép tỉ mỉ trong cuốn y án cũ:
- Nhưng kỳ lạ nhất không phải là việc con cháu nối nghiệp, mà là sự bình an của chính ngôi nhà này. Hai mươi năm trước, vào mùa đông năm Giáp Ngọ, cả khu phố cổ phía đông thành Tô Châu này từng xảy ra một trận đại hỏa hoạn kinh hoàng.
Thẩm Mặc Đẩu lắng tai nghe, bàn tay đặt trên mặt bàn khẽ siết lại.
- Đêm đó gió bấc thổi mạnh cấp bảy, cấp tám.
Chu Hoài Nghĩa kể lại, ánh mắt vẫn còn lộ vẻ kinh hoàng khi nhớ về quá khứ:
- Lửa bắt nguồn từ một xưởng làm nến ở đầu phố, lan nhanh như thác lũ. Hàng chục ngôi nhà gỗ, tiệm buôn, kho vải xung quanh đều bị thiêu rụi thành tro tàn chỉ trong một đêm. Tiếng người la khóc, tiếng mái ngói đổ sập rung chuyển cả một góc thành. Ngọn lửa hung tợn men theo dãy nhà lợp lá và vì kèo gỗ, cháy lan đến sát bức tường phía đông của Bách Thảo Đường.
Chu đại phu chỉ về phía bức tường có vẽ hình hồ lô.
- Khi đó cha tôi và tôi cùng gia nhân đã chuẩn bị sẵn tâm lý mất trắng cơ nghiệp, chỉ kịp ôm hòm gia phả và tủ thuốc quý chạy ra đường. Ngọn lửa đỏ rực liếm vào tận mép ngói đầu tường đông, khói đen mù mịt bao trùm cả y quán. Nhưng ngay lúc ngọn lửa hung hãn nhất chuẩn bị bốc cháy xuyên qua xà nhà, một cơn gió lốc ngược hướng bất ngờ từ trong lòng y quán thổi thốc ra ngoài. Ngọn lửa như bị một bức tường vô hình chặn đứng lại, tự động tạt ngược sang hai bên rồi dần dần lụi tàn.
Chu Hoài Nghĩa thở dài một hơi đầy xúc động:
- Đến sáng hôm sau, khi đám cháy tắt hẳn, cả một dãy phố dài bốn phía đều biến thành bình địa, ngói vỡ tro than chất cao thành đống. Riêng dãy nhà gỗ ba gian của Bách Thảo Đường vẫn đứng trơ trọi, sừng sững giữa đám tro tàn đổ nát. Toàn bộ rường cột, vách gỗ thông, dược quỹ bên trong không hề cháy sém dù chỉ một góc nhỏ. Thậm chí, lớp vôi trát trên bức tường đông nơi có hình hồ lô vẫn trắng tinh khôi, không dính một hạt muội than.
Thẩm Mặc Đẩu nghe xong, trong lòng thấu hiểu tường tận. Đó chính là uy lực của phép trấn cát tường trong Lỗ Ban môn. Khi một vị thợ mộc có tâm đức dùng chính tài năng và linh khí tạo phúc cho một gia đình hành thiện tích đức. Vật trấn yểm không những bảo vệ long mạch ngôi nhà mà còn có thể chuyển hóa phong thủy, ngăn chặn tai kiếp tự nhiên.
Lão mộc sư già đứng dậy một lần nữa. Lão không nén nổi sự tò mò muốn kiểm tra kỹ hơn chất liệu của loại mực đặc biệt mà tiền bối năm xưa đã sử dụng.
Thẩm Mặc Đẩu bước lại gần góc tường đông, trèo lên chiếc ghế đẩu. Lão rút từ trong túi áo ra một chiếc dao trổ nhỏ bằng thép trắng, mũi dao mỏng và sắc bén như lá lúa.
Dưới ánh đèn dầu soi chiếu cận cảnh, Thẩm Mặc Đẩu ghé sát mắt vào hình vẽ hồ lô. Những vảy sáng li ti trên nét mực nâu sẫm đang chuyển động nhẹ nhàng theo nhịp thở của lão.
Thẩm Mặc Đẩu nín thở, cẩn thận dùng đầu mũi dao trổ khẽ cạo nhẹ vào một góc rất nhỏ nơi đáy bụng hồ lô, nơi lớp vảy sáng tụ lại dày nhất.
Một mẩu vảy khoáng chất li ti cực nhỏ bong ra khỏi thớ vôi, rơi nhẹ xuống mặt lưỡi dao thép.
Ngay khi chạm vào kim loại lạnh ngắt của lưỡi dao dưới ánh lửa đèn dầu, hạt bụi khoáng chất ấy không hề vỡ vụn thành bột xám, mà bất ngờ lóe lên một ánh sáng đỏ tươi rực rỡ. Lấp lánh và thuần khiết một hạt bụi thần sa nguyên chất thượng hạng vừa được tôi luyện qua ngọn lửa nghìn độ.