Lỗ Ban Ký Sự - Chương 17: Cầu Thang Oán Khí

Gió sông Thượng Sơn Hà về chiều mang theo hơi ẩm lạnh buốt, tạt từng cơn qua dãy phố buôn bán ven bến nước. Dưới bến, thuyền bè chở gốm sứ và tơ lụa đã…

Nội dung chương

Gió sông Thượng Sơn Hà về chiều mang theo hơi ẩm lạnh buốt, tạt từng cơn qua dãy phố buôn bán ven bến nước. Dưới bến, thuyền bè chở gốm sứ và tơ lụa đã lục tục cắm sào nghỉ ngơi, ánh đèn lồng đỏ mờ bắt đầu được thắp lên dọc theo bờ kè đá. Nằm ngay khúc quanh đón gió đẹp nhất của bờ sông là Vọng Tiên Các, một trà lâu hai tầng bề thế dựng hoàn toàn bằng khung gỗ lim và sàn ván thông. Vị trí đắc địa, mặt tiền hướng ra sông lớn, đáng lẽ giờ này phải nườm nượp tao nhân mặc khách ghé uống trà nghe đàn, vậy mà cả gian nhà trước lại vắng ngắt, bàn ghế kê ngay ngắn bám một lớp bụi mỏng.

Thẩm Mặc Đẩu tay xách hòm đồ nghề mộc cũ kỹ, chân mang đôi giày vải sờn gót, chậm rãi bước qua ngưỡng cửa lớn.

Bên trong gian tiền sảnh, mùi trà mạn lẫn với mùi hương trầm ẩm mốc bốc lên nồng nặc. Trên các cột cái bằng gỗ lim to một người ôm, chi chít những dải bùa màu vàng vẽ chu sa đỏ dán chồng chéo lên nhau. Nhiều lá bùa đã rách mép, đuôi giấy bay phần phật mỗi khi gió sông lùa qua khe liếp. Trên xà ngang chính treo một tấm gương bát quái bằng đồng ám khói đen sì, phía dưới đặt một chiếc bàn thờ tạm bợ, tàn nhang rụng đầy mặt bàn chưa ai quét dọn.

Chủ quán Trịnh Hồng Khang ngồi ủ rũ sau quầy tính tiền, hai mắt thâm quầng, gương mặt gầy guộc lộ rõ vẻ mệt mỏi cùng cực. Nghe tiếng bước chân lạo xạo trên nền gạch tàu, ông ta uể oải ngẩng đầu lên, giọng nói khàn đặc:

- Khách quan ghé uống trà hay tìm chỗ nghỉ? Nếu uống trà thì mời ngồi góc trong, trà lâu chỉ còn trà mạn thông thường, tiểu nhị tôi cho nghỉ bớt rồi. Còn nếu muốn tìm phòng trọ qua đêm trên lầu hai thì tôi khuyên thật lòng... nên sang quán trọ phía đông đầu phố. Quán chúng tôi dạo này không tiện đón khách ngủ lại.

Thẩm Mặc Đẩu không vội trả lời. Lão đặt chiếc hòm gỗ mun xuống cạnh chiếc bàn tròn đối diện cầu thang dẫn lên gác lầu, đưa mắt nhìn quanh kết cấu xà ngang và cột chống. Từng khớp mộng, đường soi chỉ trên các thanh giằng đều được đục đẽo tỉ mỉ, tay nghề thợ mộc dựng ngôi nhà này thuộc loại có gốc gác bài bản.

- Chủ quán mở cửa buôn bán, có khách đến cửa lại xua đi, xưa nay hiếm thấy.

Thẩm Mặc Đẩu kéo ghế ngồi xuống, giọng bình thản:

- Cho tôi một ấm trà xanh loại mộc, thêm đĩa đậu phộng rang giòn. Ta đi đường xa mỏi chân, chỉ cần một chén nước nóng cho ấm bụng.

Trịnh Hồng Khang thở dài một tiếng nặng trọc, lảo đảo đứng dậy đi vào góc nhà lấy ấm nước sôi. Lát sau, ông ta bưng ra một chiếc khay gỗ đựng ấm trà gốm da chu và hai chiếc chén nhỏ. Rót trà xong, ông ta không quay lại quầy mà kéo ghế ngồi đối diện Thẩm Mặc Đẩu, ánh mắt dừng lại ở chiếc hòm đồ nghề đặt cạnh chân lão.

- Lão trượng làm nghề thợ mộc?

Trịnh Hồng Khang hỏi, ánh mắt có chút dò xét:

- Tôi làm nghề đục đẽo cưa xẻ kiếm miếng ăn qua ngày.

Thẩm Mặc Đẩu nâng chén trà nóng, nhấp một ngụm nhỏ:

- Đi qua bến sông thấy ngôi trà lâu này dựng khung xà rất khéo. Vì kèo ăn mộng kín khít, nhưng bên ngoài vắng vẻ lạ lùng, lại dán đầy bùa chú đuổi tà. Nhà gỗ tốt thế này, sao lại biến thành bộ dạng ảm đạm thế kia?

Nhắc đến chuyện này, Trịnh Hồng Khang ôm lấy trán, giọng nói nghẹn lại vì uất ức lẫn sợ hãi:

- Lão trượng không biết đấy thôi, cái nghiệp chướng này nó ám cái quán của tôi tròn một năm nay rồi. Ban ngày thì không sao, khách khứa quen vẫn ghé uống vài tuần trà rồi vội vã rời đi trước khi mặt trời lặn. Nhưng hễ trời sụp tối, đêm đến canh ba, trên cái cầu thang gỗ kia bắt đầu phát ra quái sự.

Thẩm Mặc Đẩu đưa mắt nhìn về phía chiếc cầu thang gỗ nối từ góc sàn tầng trệt lên thẳng gác lầu.

Cầu thang gồm hai mươi mốt bậc, đóng bằng ván gỗ thông dày hai tấc, tay vịn tiện tròn nhẵn bóng. Toàn bộ thân cầu thang nép sát vào vách tường phía tây, bên dưới gầm cầu thang đóng kín bằng ván gỗ ép sát sàn, chừa một cánh cửa nhỏ dùng làm kho chứa đồ lặt vặt.

- Quái sự thế nào?

Thẩm Mặc Đẩu hỏi, giọng vẫn đều đều:

- Tiếng bước chân.

Trịnh Hồng Khang hạ thấp giọng, hai vai run lên:

- Đúng canh ba, khi cả phố xá đã tắt đèn đi ngủ, từ chân cầu thang tầng trệt sẽ vang lên tiếng bước chân gõ cộc... cộc... từng bước một. Tiếng bước chân rất nặng, giống như có người đang kéo lê một bên chân, vừa đi vừa dộng mạnh gót xuống mặt ván. Cứ bước lên một bậc lại dừng lại một nhịp, rồi bước tiếp. Đếm đúng bảy bậc thì tiếng động tắt ngấm.

Trịnh Hồng Khang chỉ lên các dải bùa vàng dán la liệt quanh chân cầu thang:

- Ban đầu tôi tưởng trộm lẻn vào, cầm gậy chạy ra soi đèn thì trên cầu thang không một bóng người, bụi trên mặt ván vẫn nguyên vẹn. Khách thuê phòng trọ trên lầu nghe thấy tiếng bước chân ấy, đêm nào cũng có người sợ quá gói ghém hành lý tháo chạy ngay trong đêm. Tiếng dữ đồn xa, người ta bảo Vọng Tiên Các có ma chết oan dưới gầm thang. Trong một năm qua, tôi đã mời ba vị thầy pháp nức tiếng trong vùng về làm lễ trục tà, lập đàn cúng tế, đốt không biết bao nhiêu tiền vàng mã, dán bùa bát quái khắp các cột cái. Thầy nào đến cũng múa kiếm gỗ đào, phun rượu rắc gạo ầm ĩ suốt đêm, cam đoan tà ma đã bị tiêu diệt. Nhưng họ vừa cầm tiền rời đi được ba hôm thì canh ba tiếng gõ cộc lại vang lên, không sai một tấc.

Thẩm Mặc Đẩu nhìn những lá bùa rách nát trên cột lim, khẽ lắc đầu:

- Bùa chú của thầy pháp chỉ dùng trị tà ma vất vưởng bên ngoài xâm nhập. Nếu cái oán nó nằm ngay trong thớ gỗ, đục sâu vào kết cấu căn nhà, thì bùa giấy ngàn tờ cũng chỉ như muối bỏ biển.

Trịnh Hồng Khang giật thót người, hai mắt trợn to:

- Ý lão trượng là... có người làm phép yếm thắng ngôi nhà này?

Thẩm Mặc Đẩu không đáp thẳng vào câu hỏi. Lão đưa tay sờ lên mặt bàn trà bằng gỗ gụ, rồi hỏi tiếp:

- Trà lâu này dựng từ năm nào? Khi khởi công, việc thuê thợ mộc diễn ra ra sao?

Trịnh Hồng Khang khẽ chớp mắt, đang lục lọi lại ký ức, vẻ mặt thoáng chút ngập ngừng:

- Quán này do tôi tự tay đứng ra trông coi xây dựng, tính đến nay vừa tròn tám năm. Lúc đó khu bến sông Thượng Sơn Hà này bắt đầu sầm uất, thuyền bè buôn bán qua lại nườm nượp, tôi dốc hết vốn liếng tích cóp mua lại mảnh đất này để mở trà lâu kết hợp phòng trọ. Thợ mộc địa phương ở Tô Châu đòi tiền công rất cao, lại bắt đài thọ cơm rượu hậu hĩnh, nên tôi sang huyện lân cận tìm một đội thợ mộc du phương về làm. Đội thợ đó có khoảng mười người, tay nghề rất cứng, nhận giá rẻ hơn thợ bản xứ ba phần. Họ làm việc ròng rã suốt mấy tháng trời thì căn nhà hoàn thành.

- Trong quá trình dựng nhà, giữa chủ và thợ có từng xảy ra xích mích gì không? Tiền công, cơm áo, đối đãi hàng ngày có điều gì thiếu sót?

Thẩm Mặc Đẩu nhìn thẳng vào mắt Trịnh Hồng Khang.

Trịnh Hồng Khang né tránh ánh nhìn của lão, tay bối rối mân mê quai chén trà:

- Thì... chuyện dựng nhà lớn, chén bát trong chạn còn có lúc xô nhau, làm sao tránh khỏi vài lời qua tiếng lại nhỏ nhặt. Nhưng tiền bạc vật liệu tôi đều lo liệu đủ cả. Sau khi nhà làm xong, tôi cũng làm mâm cơm tạ lễ rồi họ thu dọn đồ nghề rời đi, từ đó đến nay không ai quay lại. Suốt bảy năm đầu, việc buôn bán thuận buồm xuôi gió, khách khứa ra vào tấp nập, tiền vào như nước. Mãi đến đúng đầu năm thứ tám, tức là giáp một năm trước, cái tiếng bước chân kỳ quái đó mới bắt đầu xuất hiện.

Thẩm Mặc Đẩu nghe xong, ngón tay khẽ gõ nhẹ xuống mặt bàn theo một nhịp điệu chậm rãi. Lão nhìn ra ngoài trời, bóng tối đã buông xuống đen kịt mặt sông, sương mù từ bến nước bắt đầu tràn vào ngõ phố, mang theo hơi lạnh buốt giá đặc trưng của mùa đông miền sông nước.

- Đêm nay ta muốn ở lại gian tầng trệt này một đêm.

Thẩm Mặc Đẩu nói.

Trịnh Hồng Khang biến sắc, vội xua tay:

- Lão trượng chớ có đùa. Người trẻ khỏe nghe tiếng bước chân đó còn dựng tóc gáy, lão tuổi cao sức yếu, lỡ nửa đêm trúng tà phong hay kinh sợ mà xảy ra chuyện gì thì tôi gánh không nổi trách nhiệm đâu.

- Ta sống cả đời với gỗ mục, nghe tiếng cưa đục quen tai rồi, không sợ tiếng bước chân.

Thẩm Mặc Đẩu thản nhiên nói:

- Chủ quán cứ đóng cửa cài then cẩn thận, lên lầu ngủ phòng trong cùng. Đêm nay dù có nghe thấy tiếng động gì dưới nhà cũng tuyệt đối không được bước xuống, không được mở cửa nhìn trộm. Ngày mai trời sáng, tôi sẽ nói cho ông biết căn nguyên của tiếng gõ cộc kia.

Thấy vẻ mặt quả quyết và đôi mắt bình lặng của lão thợ mộc già, Trịnh Hồng Khang ngập ngừng hồi lâu rồi cũng gật đầu đồng ý. Ông ta vội vã dọn dẹp ấm chén, mang ra một chiếc chõng tre cũ và một tấm chăn bông mỏng đặt ở góc nhà đối diện cầu thang. Sau đó khép chặt các cánh cửa lớn hướng ra bờ sông, cài ba then gỗ lim nặng trịch.

Xong xuôi, Trịnh Hồng Khang xách ngọn đèn bão, bước từng bước rụt rè leo lên gác lầu. Tiếng then cài cửa phòng trên gác đóng sập lại, rồi cả gian trà lâu rộng lớn chìm vào sự tịch mịch tuyệt đối.

Thẩm Mặc Đẩu không thắp đèn dầu lớn, chỉ đốt một ngọn nến sáp nhỏ đặt trên chiếc ghế đẩu cạnh chõng tre. Ánh lửa hạt đậu leo lét hắt bóng lão in dài trên vách vôi trắng xám. Lão mở hòm đồ nghề, lấy cây thước câu bằng gỗ lim đen bóng đặt lên đùi, rồi ngả lưng xuống chõng tre, mắt nhắm hờ nhưng đôi tai vẫn chăm chú lắng nghe từng dao động nhỏ nhất của không gian xung quanh.

Bên ngoài, tiếng gió sông rít qua khe cửa nghe như tiếng thở dài não nuột. Tiếng sóng nước vỗ ì oạp vào chân kè đá dưới bến lúc gần lúc xa. Đêm càng về khuya, cái lạnh càng ngấm sâu vào từng thớ gỗ. Toàn bộ căn nhà thi thoảng lại phát ra những tiếng cọt kẹt rất khẽ do gỗ co ngót vì nhiệt độ giảm xuống.

Thời gian chầm chậm trôi qua.

Canh một trôi qua trong yên ắng. Canh hai vang lên tiếng gõ mõ cầm canh của tuần phu từ đầu ngõ phố vọng lại xa xăm, tiếng mõ gõ cắc... cắc... rời rạc rồi tắt hẳn trong màn sương dày.

Đến giữa canh ba, không khí bên trong gian trà lâu bỗng nhiên lạnh buốt khác thường. Ngọn nến sáp đang cháy đứng yên bỗng ngả nghiêng rồi chao đảo dữ dội, ngọn lửa chuyển sang màu xanh lét, bốc lên một làn khói mảnh có mùi ngai ngái như mùi đất ẩm ở đáy huyệt.

Thẩm Mặc Đẩu mở bừng mắt. Lão không ngồi dậy ngay mà nằm im trên chõng tre, bàn tay nắm chặt lấy thân cây thước câu.

Từ góc tối dưới chân cầu thang, nơi bóng đen đặc quánh bao trùm, một âm thanh bắt đầu phát ra.

Cộc. Cộc.

Âm thanh đanh gọn, khô khốc vang lên trên mặt bậc gỗ đầu tiên. Đó là tiếng gỗ va vào gỗ, nhưng nặng nề và có độ lún, giống như một bàn chân người trần trụi dộng cả gót chân xuống mặt ván.

Khoảng lặng kéo dài chừng vài hơi thở.

Cộc. Cộc.

Bậc thứ hai rung lên một nhịp rất nhẹ. Tiếng động mang theo âm hưởng khập khiễng rõ rệt. Một bên chân bước lên vững chãi, nhưng bên chân còn lại bị kéo lê qua mép ván, phát ra tiếng ma sát ràn rạt trước khi dộng mạnh xuống.

Thẩm Mặc Đẩu nín thở đếm trong đầu.

Cộc. Bậc thứ ba..

Cộc. Bậc thứ tư..

Tiếng bước chân tiến lên đều đặn, chậm rãi, mỗi bước đi mang theo một sự uất ức nặng nề, dồn nén như muốn nghiền nát từng thớ gỗ dưới chân. Không gian xung quanh bị bóp nghẹt lại, chỉ còn tiếng bước chân điễnh điễng kia vang vọng khắp gian nhà trống.

Cộc. Bậc thứ năm..

Cộc. Bậc thứ sáu..

Khi bước chân tiến đến bậc thứ bảy, âm thanh vang lên lớn hơn hẳn.

CỐC!

Tiếng dộng gót chân mạnh đến mức khiến tay vịn cầu thang khẽ rung lên bần bật. Ngay sau tiếng dộng đó, toàn bộ không gian rơi vào im bặt. Không có bước chân thứ tám. Tiếng động dừng lại đột ngột ngay tại bậc thứ bảy, tựa hồ người đang leo cầu thang bỗng nhiên biến mất vào không khí hoặc bị chôn chặt chân tại vị trí đó.

Thẩm Mặc Đẩu lập tức lật chăn ngồi dậy. Động tác của lão nhẹ nhàng và dứt khoát như một người thợ lành nghề rình mồi. Lão cầm theo ngọn nến sáp và cây thước câu, chân bước không phát ra một tiếng động, tiến thẳng lại gần chân cầu thang.

Không khí xung quanh cầu thang lạnh buốt như đứng trước miệng hầm chứa đá mùa đông. Ánh nến vàng vọt chiếu rọi lên bảy bậc thang gỗ thông đầu tiên. Trên mặt ván phủ một lớp bụi mịn mỏng manh, không hề có bất kỳ dấu chân người hay vết bùn đất nào.

Thẩm Mặc Đẩu bước chầm chậm lên từng bậc.

Bậc một, bậc hai, bậc ba... Lão dùng chân cảm nhận độ đàn hồi của từng tấm ván. Mọi thứ đều vững chắc, mộng đóng khít khao, không có dấu hiệu lỏng lẻo.

Đến bậc thứ bảy, Thẩm Mặc Đẩu dừng lại. Lão quỳ một bên gối xuống mặt ván gỗ lạnh ngắt, đặt ngọn nến sang bên cạnh. Cây thước câu trong tay lão được đưa lên, dùng phần chuôi gỗ gõ nhẹ ba tiếng "cắc, cắc, cắc" vào chính giữa tâm của bậc thứ bảy.

Âm thanh phát ra từ bậc này đục và trầm hơn hẳn sáu bậc phía dưới.

Thẩm Mặc Đẩu cúi rạp người xuống, áp sát tai phải vào bề mặt thớ gỗ thông ráp nhám của bậc thứ bảy.

Gió sông ngoài kia bỗng ngừng thổi. Trong sự tĩnh lặng đến gai người của đêm tàn, từ sâu bên dưới lòng ván gỗ của bậc thứ bảy, một âm thanh cực kỳ yếu ớt bắt đầu rỉ ra ngoài.

Đó là tiếng rên rỉ nghẹn ngào, khàn đặc và đứt quãng, giống như tiếng của một người đàn ông đang kiệt sức vì đau đớn, bị đè nặng dưới hàng ngàn cân đất đá mà cố sức thở hắt ra từng hơi tàn.

Chương khác

Xem thêm