Lỗ Ban Ký Sự - Chương 20: Trúc Xanh Xuyên Mái

Gió bấc từ cao nguyên đất vàng thổi tràn qua những rặng núi đá trọc, cuốn theo từng đợt bụi xám mù mịt phả vào mặt người đi đường. Thẩm Mặc Đẩu dừng chân…

Nội dung chương

Gió bấc từ cao nguyên đất vàng thổi tràn qua những rặng núi đá trọc, cuốn theo từng đợt bụi xám mù mịt phả vào mặt người đi đường.

Thẩm Mặc Đẩu dừng chân ở chân con dốc lát đá tảng dẫn thẳng lên cổng lớn của đại viện họ Thường. Lớp bụi đất phương bắc bám một tầng mỏng trên đôi giày vải gai cùng chiếc hòm đồ nghề bằng gỗ lim đeo bên vai lão. Khác hẳn với vẻ ẩm ướt rêu phong của vùng sông nước Giang Nam, xứ Sơn Tây này cằn cỗi và khô khốc. Những bức tường thành bằng gạch xám cao vút vươn thẳng lên nền trời lạnh lẽo, vững chãi như một pháo đài cô lập giữa chốn núi đồi.

Dưới bóng râm của một gốc hòe già cằn cỗi bên khúc quanh chân dốc, bóng người mặc áo tơi lá cọ đã đứng lặng từ lúc nào.

Chiếc nón lá rách sụp xuống che khuất nửa khuôn mặt gầy guộc. Đôi bàn tay đầy vết nứt nẻ vì sương gió của gã giao liên câm lặng chầm chậm vươn ra khỏi lớp áo tơi, xòe ngửa trước mặt Thẩm Mặc Đẩu.

Lão mộc sư già bước tới, ánh mắt dừng lại trên lòng bàn tay thô ráp ấy.

Gã giao liên không ra hiệu bằng tay, cũng không phát ra bất kỳ thanh âm nào nơi cuống họng. Gã chỉ khẽ lật cổ tay, thả vào lòng bàn tay Thẩm Mặc Đẩu một vật nhỏ xíu rồi thu tay áo lại.

Đó là một hạt táo khô.

Hạt táo tàu màu nâu đỏ, vỏ ngoài nhăn nheo nhưng hai đầu thon nhọn còn nguyên vẹn, tỏa ra mùi thơm ngọt rất nhẹ của quả chín phơi khô qua nhiều mùa nắng. Thẩm Mặc Đẩu khép ngón tay giữ lấy hạt táo, ngước mắt lên định nhìn kỹ hơn thì gã giao liên đã xoay người. Tà áo tơi xám tro khuất sau bờ tường đá cao ngất của con ngõ cụt, biến mất nhanh chóng giữa những luồng gió bụi mịt mù.

Thẩm Mặc Đẩu nhìn hạt táo khô trong lòng bàn tay một lúc lâu. Lão cất hạt táo vào túi gấm nhỏ bên hông, xốc lại quai đeo hòm gỗ lim rồi cất bước đi lên con dốc đá.

Đại viện họ Thường là cơ ngơi của tộc buôn vải nức tiếng khắp vùng Sơn Tây. Gia tộc này nắm giữ hàng chục xưởng dệt nhuộm lớn nhỏ, vải vóc từ đây theo những đoàn la mã vượt ải quan buôn bán sang tận đất Mông Cổ và Nga La Tư.

Cánh cổng gỗ lim dày ba tấc bọc đinh đồng mở rộng. Bước qua ngạch cửa cao ngang đầu gối, trước mắt Thẩm Mặc Đẩu hiện ra ba lớp sân lát toàn bằng đá xanh phẳng lì, ngay ngắn. Khắp các hành lang và mái hiên, gia nhân đang tấp nập treo những dải lụa đỏ thắm cùng lồng đèn bát giác kết hoa. Tiếng người cười nói, tiếng bưng bê mâm đồng, tiếng cọ rửa bàn ghế gỗ trắc vang lên rộn rã khắp các gian nhà ngang dãy dọc.

Mọi người trong đại viện đều đang tất bật chuẩn bị cho lễ mừng thọ bảy mươi tuổi của tộc trưởng Thường Phúc Hải vào ngày mai.

Giữa khoảng sân thứ hai, một người đàn ông trung niên mặc áo chẽn lụa màu hạt dẻ, tay giữ sổ thu chi, đang liên tục lớn tiếng đôn đốc gia đinh khiêng những chậu cúc vạn thọ đặt vào hai bên lối đi. Thấy Thẩm Mặc Đẩu mang theo hòm đồ mộc bước vào, người đó lập tức dừng tay, bước nhanh tới đón.

Đó là Thường Bách, tổng quản của đại viện họ Thường.

- Vị này là Thẩm lão sư phụ từ phía nam tới phải không?

Thường Bách chắp tay thi lễ, ánh mắt nhìn lướt qua cây thước câu đen bóng dắt bên hông lão:

- Nhị lão gia phái người đón ngài từ hôm qua, mãi đến trưa nay mới thấy ngài tới nơi. May quá, đại thọ của lão thái gia chỉ còn đúng một ngày chuẩn bị, gian nhà chính vẫn đang đợi một người thợ lành nghề xem xét lại toàn bộ rường cột.

Thẩm Mặc Đẩu đáp lễ:

- Đường xa gió bụi, có chút chậm trễ. Thường tổng quản có điều gì căn dặn cứ nói thẳng.

Thường Bách nhìn quanh quất, thấy gia đinh đang bận khiêng đồ ở đằng xa. Ông hạ giọng, nét mặt lo lắng khác hẳn lúc nãy:

- Thẩm lão sư phụ đi theo ta vào trong. Có chuyện này, cả nhà họ Thường trên dưới mấy trăm miệng ăn không ai dám nói to, nhưng trong lòng ai cũng nơm nớp lo sợ.

Thường Bách dẫn Thẩm Mặc Đẩu bước qua cửa vòm nguyệt môn dẫn vào khoảng sân thứ ba - nơi tọa lạc của gian nhà chính nguy nga nhất đại viện.

Ngôi nhà được xây dựng theo lối kiến trúc ba gian hai chái bề thế, tường gạch xám dày dặn, cột gỗ thông đỏ to tròn một người ôm không xuể. Trên mái ngói ống màu xanh đen, các đầu đao uốn cong thanh thoát, chạm trổ hình mây cuốn và chim uyên ương vô cùng tinh mỹ.

Thường Bách dừng lại trước thềm đá, chỉ tay lên bờ nóc mái ngói:

- Ngài nhìn lên đỉnh thúy lô đằng kia xem. Đêm qua, đúng vào giờ Tý, gió bấc bỗng dưng lặng ngắt. Một con quạ đen to bằng con gà chọi từ trên núi bay thẳng xuống, đậu ngay trên đỉnh thúy lô bằng gốm tráng men xanh kia mà kêu liền ba tiếng chói tai. Gia nhân lấy sỏi ném, lấy gậy xua đuổi nó cũng không chịu bay đi, cứ đứng đó rỉa lông đến tận canh năm mới vỗ cánh biến mất vào rặng núi đá.

Thẩm Mặc Đẩu ngước mắt nhìn theo hướng ngón tay trỏ. Đỉnh thúy lô bằng gốm men ngọc nằm sừng sững trên nóc nhà, đón lấy ánh nắng hanh hao của buổi trưa muộn.

- Ngày vui đại thọ bảy mươi của lão thái gia sắp tới, khách khứa quan viên khắp vùng đổ về chúc tụng. Vậy mà quạ đen lại đậu trên nóc nhà chính kêu gào.

Thường Bách lau mồ hôi trên trán, giọng run rẩy:

- Lão thái gia nghe tiếng quạ kêu, nửa đêm tỉnh giấc rồi tức ngực khó thở, đến sáng nay vẫn chưa ngồi dậy nổi. Nhị lão gia sợ trên xà nhà có chỗ hư mục hoặc phạm phải điều kiêng kỵ gì đó của thợ làm nhà năm xưa. Nên mới vội vã tìm một bậc thầy mộc sư kinh nghiệm đến kiểm tra cẩn thận từng thanh rường cột trước giờ hành lễ.

Thẩm Mặc Đẩu không vội đưa ra phán đoán. Lão đặt hòm đồ nghề xuống bậc thềm đá, tháo cây thước câu cài bên hông, ngẩng đầu quan sát kỹ lưỡng toàn bộ kết cấu khung gỗ của ngôi nhà chính.

- Ngôi nhà này dựng được bao nhiêu năm rồi?

Thẩm Mặc Đẩu hỏi chuyện dựng nhà đã bao lâu:

- Tính đến mùa đông năm nay là tròn ba mươi năm.

Thường Bách nhớ lại rất nhanh.

- Khi đó lão thái gia vừa tròn bốn mươi tuổi, việc buôn bán vải sợi bên ngoài biên ải thắng lớn, liền bỏ ra ba ngàn lượng bạc trắng mua gỗ thông đỏ từ Lữ Lương sơn về dựng nên khu nhà này. Ba mươi năm qua, rường cột chưa từng bị mối mọt, mưa bão lớn cỡ nào cũng không dột một giọt nước.

Thẩm Mặc Đẩu gật đầu, bước chậm rãi vào bên trong gian chính đường.

Bên trong nhà, mùi hương trầm hòa quyện với mùi gỗ thông lâu năm tạo nên một bầu không khí trang nghiêm, ấm cúng. Những chiếc bàn trà bằng gỗ gụ bóng loáng được kê ngay ngắn dưới bức hoành phi sơn son thiếp vàng mang bốn chữ "Tích Thiện Dư Khánh". Toàn bộ hệ thống vì kèo, quá giang và con chồng đều được liên kết với nhau bằng mộng gỗ chuẩn xác đến từng ly, không hề dùng tới một chiếc đinh sắt nào.

Lão mộc sư già chống cây thước câu xuống nền gạch Bát Tràng, ngửa mặt nhìn thẳng lên đỉnh nóc gian giữa.

Ánh mắt lão lướt qua từng thanh xà ngang, từng chiếc đấu củng đỡ mái, rồi dừng lại thật lâu ở thanh xuyên mái - thanh gỗ giằng then chốt nối liền hai đầu cột cái trên cao, nằm ngay bên dưới hoành ốc chính.

Trên bề mặt thanh xuyên mái bằng gỗ thông đỏ đã lên nước nâu sẫm bóng loáng theo thời gian, có một vết chạm khắc nổi bật.

- Thường tổng quản, phiền ngài cho người bắc một chiếc thang tre

Thẩm Mặc Đẩu nói, mắt vẫn không rời khỏi thanh xuyên mái:

- Thường Bách lập tức vẫy tay gọi hai tên gia đinh lực lưỡng mang một chiếc thang tre dài vào đặt áp sát mép cột cái.

Thẩm Mặc Đẩu vịn tay vào thang, từng bước leo lên cao. Lão dừng lại ở độ cao ngang tầm thanh xuyên mái, móc từ túi áo ra một mảnh vải bông mềm, cẩn thận lau sạch lớp bụi mỏng bám trên mặt gỗ.

Khi lớp bụi được gạt đi, dưới ánh sáng rọi qua khe cửa thông gió trên đỉnh tường, một hình khắc tuyệt mỹ hiện ra rõ mồn một trước mắt lão.

Đó là hình ảnh ba chiếc lá trúc được chạm khắc trực tiếp vào thân gỗ thông đỏ.

Người thợ mộc năm xưa có hoa tay đạt đến độ xuất quỷ nhập thần. Từng đường gân lá, từng mép lá trúc thuôn dài mỏng manh được đục đẽo tỉ mỉ, mềm mại và sống động tựa hồ như vừa được ngắt từ một bụi trúc tươi non mang đặt lên xà nhà. Ba chiếc lá trúc không nằm tản mạn mà được sắp xếp ghép lại thành một hình tam giác úp ngược, hai lá xòe sang hai bên che chắn, một lá thẳng đứng chĩa mũi nhọn xuống dưới lòng gian chính đường.

Nét chạm sâu chừng nửa phân, các đường rãnh láng mịn không hề có một vết xơ gỗ thừa thãi.

Thẩm Mặc Đẩu dùng đầu ngón tay chai sần rà nhẹ dọc theo thân lá trúc bên trái, rồi chuyển sang lá trúc bên phải. Hình khắc khít với thớ gỗ tự nhiên đến mức người ta tưởng ba chiếc lá sinh ra từ ruột cây thông đỏ, chẳng phải do bàn tay ai dùng đục sắt tạo thành.

Ở dưới chân thang, Thường Bách ngước cổ nhìn lên, lo lắng hỏi vọng:

- Thẩm lão sư phụ! Có phát hiện ra tà vật hay bùa yếm gì nguy hiểm giấu trên đó không?

Thẩm Mặc Đẩu không trả lời ngay. Lão nhìn chằm chằm vào chiếc lá trúc ở chính giữa - chiếc lá chúc đầu xuống đất, tạo thành đỉnh nhọn của hình tam giác úp.

Lão hỏi với xuống:

- Thợ cả dựng nên ngôi nhà chính này năm xưa là người như thế nào? Thường gia các người đối đãi với ông ấy ra sao?

Thường Bách đứng dưới sân ngẫm nghĩ một lát rồi đáp:

- Chuyện đó ta nhớ rất rõ. Năm dựng nhà, ta mới hai mươi tuổi, vừa được nhận vào làm chân chạy việc trong phủ. Thợ cả năm ấy là một người đàn ông trung niên họ Từ, gốc gác ở mạn Hà Nam lánh nạn đói lưu lạc sang đây. Ông thợ đó tính tình hiền lành, ít nói, suốt ngày chỉ cặm cụi ôm đục ôm cưa bên xưởng gỗ. Ông ta làm việc vô cùng cẩn trọng, từng mộng gỗ đều tự tay so dây đo mực, không để xảy ra một chút sai lệch.

Thường Bách bước lại gần chân thang hơn. Giọng ông kể mang theo hoài niệm:

- Lão thái gia nhà ta vốn xuất thân bần hàn, thấu hiểu nỗi khổ của người làm thuê nên đối đãi với toán thợ của Từ sư phụ vô cùng tử tế. Suốt nửa năm cất nhà, mỗi bữa ăn đều có thịt cá đầy đủ, tiền công trả sòng phẳng theo từng tuần lễ, chưa từng nợ lại một đồng xu nào. Khi nhà dựng xong, lão thái gia còn thưởng thêm cho Từ sư phụ năm mươi lượng bạc trắng cùng hai cây vải lụa thượng hạng để làm lộ phí về quê.

- Sau khi hoàn công, người thợ họ Từ đó đi đâu?

Thẩm Mặc Đẩu hỏi tiếp:

- Từ sư phụ nhận bạc tạ ơn, dập đầu cảm tạ lão thái gia rồi thu dọn đồ nghề rời khỏi trấn ngay trong chiều hôm đó. Từ đó đến nay ba mươi năm trôi qua, không ai còn nghe thấy tin tức gì của ông ấy nữa. Người quanh vùng bảo có lẽ ông ấy đã gom đủ tiền đưa cả gia đình về lại quê cũ Hà Nam an cư lạc nghiệp.

Thẩm Mặc Đẩu nghe xong, ánh mắt lại nhìn về ba chiếc lá trúc trên thanh xuyên mái.

Trong các điều yếm thắng của Lỗ Ban Kinh, thuật dùng cây cỏ hoa lá giấu trong rường cột chia làm hai ngả rõ rệt: rước họa và chúc phúc. Người thợ mộc khi bị gia chủ ức hiếp, quỵt công, thường dùng dao khắc cành dâu gãy hay lá liễu rủ để yếm cho nhà chủ lụi bại, con cháu ly tán. Nhưng nếu gia chủ có ân đức sâu nặng, đối đãi chí tình chí nghĩa, người thợ am hiểu bí pháp sẽ dùng thuật "Thanh Trúc Xuyên Mái" để hồi báo đại ân.

Thế nhưng, ba chiếc lá trúc xếp thành hình tam giác úp này lại ẩn chứa một tầng bí mật sâu xa hơn thế.

Thẩm Mặc Đẩu giơ bàn tay phải lên. Lão dùng ngón tay trỏ khẽ chạm vào sống gân của chiếc lá trúc nằm ở chính giữa hình tam giác.

Đầu ngón tay lão vừa chạm nhẹ vào thớ gỗ.

Từ sâu bên trong lòng thanh xuyên mái bằng gỗ thông đỏ khô khốc ba mươi năm tuổi, một âm thanh bỗng nhiên vang lên.

Đó là tiếng xào xạc ròn tan, lách tách nhè nhẹ như tiếng những chiếc lá trúc tươi đang cọ xát vào nhau trong một cơn gió núi mùa xuân, rung rinh và sống động đến lạ lùng.

Chương khác

Xem thêm