Lỗ Ban Ký Sự - Chương 19: Dầu Sôi Hóa Giải

Sáng sớm hôm sau, sương mù trên mặt sông Tiền Đường vẫn chưa tan hết, chiếc thuyền nan chở Trịnh Hồng Khang đã tách bến, xuôi theo dòng nước đục ngầu…

Nội dung chương

Sáng sớm hôm sau, sương mù trên mặt sông Tiền Đường vẫn chưa tan hết, chiếc thuyền nan chở Trịnh Hồng Khang đã tách bến, xuôi theo dòng nước đục ngầu hướng về phía tây huyện Gia Hưng.

Gã chủ quán trà ngồi thu lu ở mũi thuyền, hai tay ôm khư khư chiếc tráp gỗ mun cẩn xà cừ. Bên trong tráp lót ba lớp vải đỏ, chứa tròn hai trăm lượng bạc trắng đúc thỏi cùng mười đồng bạc tây mới tinh. Đó là toàn bộ số tiền công ba tháng của năm người thợ được quy đổi theo thời giá gạo đắt đỏ hiện thời, cộng thêm tiền thuốc men ròng rã tám năm và một khoản bạc tạ tội lớn. Gương mặt Trịnh Hồng Khang hốc hác, đôi mắt thâm quầng trũng sâu sau nhiều đêm mất ngủ, môi lẩm bẩm những lời van vái không dứt.

Thôn Ngụy Gia nằm khuất sau những rặng tre già xơ xác, cách bến đò con chừng hai dặm đường đất mấp mô.

Đó là một xóm thợ mộc nghèo, tường nhà đắp bằng đất bùn trộn rơm mục, mái tranh xơ xác rách bươm dưới gió thu. Cả thôn thoang thoảng mùi mùn cưa mục rữa và khói bếp nghèo nàn. Dưới sự dẫn đường của một đứa trẻ chăn trâu, Trịnh Hồng Khang lê từng bước chân nặng nề đến trước một gian nhà tranh xiêu vẹo ở cuối thôn.

Trước hiên nhà ẩm ướt, một người đàn ông lớn tuổi đang ngồi trên chiếc ghế gỗ thấp đóng thô thiển.

Lưng ông còng rạp xuống, chiếc chân phải teo tóp chỉ còn da bọc xương, gập cong queo đặt trên một tấm giẻ rách, bàn chân sưng phù biến dạng với những vết sẹo lồi lõm tím tái. Bàn tay thô ráp của ông lão đang cầm con dao gọt cẩn thận từng mẩu tre nhỏ để vót đũa kiếm từng đồng đổi gạo.

Đó chính là Ngụy Lão Tam, người thợ cả năm xưa từng bị gia đình họ Trịnh đuổi đánh giữa trời đông tuyết phủ.

Trịnh Hồng Khang vừa bước qua cánh cổng tre rách nát, nhìn thấy cái chân tàn phế của người thợ già thì hai đầu gối lập tức nhũn ra. Gã quỳ sụp xuống nền đất đầy sỏi nhọn, dập đầu rầm rầm xuống mặt đất trước sự ngơ ngác của mấy người hàng xóm quanh đó.

- Ngụy thúc! Con là Trịnh Hồng Khang... con đến để chuộc tội cho cha con!

Trịnh Hồng Khang vừa khóc vừa mở toang nắp tráp gỗ mun, hai tay nâng cao quá đầu, dâng lên trước mặt người thợ cả. Ánh bạc trắng lấp lánh phản chiếu dưới ánh mặt trời buổi sớm, rực rỡ đến chói mắt giữa gian sân đất nghèo hèn.

Ngụy Lão Tam ngừng tay dao. Đôi mắt đục ngầu của ông nhìn trân trân vào đống bạc trắng, rồi nhìn lên khuôn mặt đầm đìa nước mắt và bùn đất của gã chủ quán trà lâu.

Bàn tay cầm dao của người thợ già run lên bần bật. Tám năm ròng rã, sự uất ức kìm nén trong từng cơn đau buốt tận tủy xương mỗi khi trái gió trở trời như trào dâng trong lồng ngực gầy guộc.

Trịnh Hồng Khang dập đầu thêm ba cái thật mạnh, trán rớm máu đỏ tươi:

- Năm xưa cha con hồ đồ tàn nhẫn, bóc lột mồ hôi nước mắt của các thúc bá, lại đánh gãy chân thúc giữa mùa đông rét mướt. Nay cha con đã chịu tội dưới suối vàng, con biết tội lỗi nhà họ Trịnh sâu nặng như biển. Số bạc này xin kính dâng thúc chữa bệnh, và chia đủ cho bốn người anh em thợ mộc năm đó. Cầu xin Ngụy thúc mở lượng hải hà tha cho mạng sống của con, tha cho dòng họ Trịnh một con đường sống!

Không gian trong sân im phăng phắc, chỉ có tiếng gió lùa qua bụi tre xào xạc.

Ngụy Lão Tam hít một luồng khí lạnh vào lồng ngực lép kẹp, bờ vai gầy rung lên theo từng nhịp thở ngắt quãng. Ông nhìn cái trán rỉ máu của Trịnh Hồng Khang, lại nhìn xuống cái chân tật nguyền của mình.

Cơn giận dữ và oán hận tích tụ qua tám năm đã bị sự thành khẩn muộn màng này làm cho vỡ vụn.

- Chân ta đã gãy... người chết cũng không sống lại được.

Giọng Ngụy Lão Tam khàn đặc như tiếng cưa xẻ gỗ mục:

- Bạc này, ta nhận phần của năm anh em thợ nghèo. Món nợ mồ hôi máu thịt năm xưa, coi như từ nay xóa bỏ. Ngươi về đi.

Nói xong, ông run rẩy vươn bàn tay sần sùi chai sạn, chạm nhẹ vào mép tráp bạc.

Ngay khi ngón tay của người thợ cả vừa chạm vào kim loại lạnh ngắt, một cơn gió lốc nhỏ bỗng xoáy tròn giữa sân cát rồi tan biến vào thinh không. Trịnh Hồng Khang cảm thấy tảng đá vô hình đè nặng trên ngực mình suốt mấy ngày qua bỗng chốc nhẹ bớt đi vài phần. Gã vừa lạy vừa bò lùi ra khỏi cổng tre, không dám ngẩng đầu nhìn lại.

***

Chập tối hôm ấy, tại khoảng sân sau của trà lâu họ Trịnh bên bờ sông Tô Châu.

Một cái bếp lò dã chiến đắp bằng gạch thẻ được dựng ngay chính giữa khoảng sân đá hoa cương. Trên bếp, một chiếc chảo gang sâu lòng cỡ lớn chứa đầy dầu trẩu đen sánh đang sôi ùng ục dưới ngọn lửa củi thông đỏ rực.

Khói dầu bốc lên nghi ngút, mang theo mùi nồng nặc xộc thẳng vào mũi.

Thẩm Mặc Đẩu đứng bên cạnh bếp than, y phục thợ mộc gọn gàng, đầu quấn khăn xanh. Lão cầm cây kẹp sắt dài dùng để gắp than, ánh mắt bình thản nhìn vào chảo dầu đang sủi những bọt lớn bằng quả trứng gà.

Trịnh Hồng Khang vừa từ bến thuyền chạy về, cả người ướt đẫm mồ hôi, bước chân lảo đảo dừng lại ở bậc thềm nhìn lão mộc sư:

- Thẩm lão sư phụ... ta đã làm đúng y như lời ngài dặn. Ngụy thợ cả đã nhận bạc và buông lời tha thứ rồi!

Thẩm Mặc Đẩu không quay đầu lại, mắt vẫn nhìn chằm chằm vào vạc dầu sôi:

- Đã nhận bạc và mở lời tha thứ, oán khí của người sống mới chịu tan. Giờ là lúc hóa giải cốt gỗ.

Lão đưa tay mở chiếc bọc vải thô đặt trên chiếc bàn vuông gần đó.

Khúc gỗ dâu rừng tạc hình gót chân người trần trụi lộ ra dưới ánh lửa bập bùng. Thớ gỗ đỏ sẫm như máu đặc, bề mặt nhẵn bóng do ngâm tẩm tà thuật lâu năm. Khi lớp vải mở ra, không khí xung quanh chảo than bỗng chốc lạnh ngắt, ngọn lửa củi thông đang cháy bùng bỗng lụi đi một nửa, chuyển sang màu vàng xám ảm đạm.

Thẩm Mặc Đẩu dùng kẹp sắt kẹp chặt lấy khúc gỗ. Lão nhấc cao tay, đọc một đoạn kệ chú bằng giọng trầm vang đanh thép của Lỗ Ban môn:

- Gỗ lấy từ rừng sâu, cốt dựng bởi bàn tay. Nợ trả người đã nhận, oán tiêu theo khói mây. Lỗ Ban chính tông pháp thuật, vạc dầu giải oan!

Dứt lời, Thẩm Mặc Đẩu vung tay, thả thẳng khúc gỗ dâu rừng vào chính giữa chảo dầu đang sôi sùng sục.

Xèo!

Một tiếng rít chói tai vang lên rợn người, giống như tiếng hét của một kẻ bị dìm vào nước sôi.

Khúc gỗ vừa chạm vào mặt dầu, toàn bộ chảo gang lập tức sôi trào dữ dội. Dầu trẩu bốc lên từng đợt bọt đen ngòm như mực tàu, bốc ra mùi khét lẹt nồng nặc của mỡ người và gỗ cháy. Khúc gỗ không hề chìm ngay xuống đáy mà nổi bồng bềnh trên mặt dầu, tự động xoay tròn liên tục theo chiều ngược kim đồng hồ.

Trịnh Hồng Khang đứng ở bậc thềm sợ hãi lùi lại phía sau mấy bước, hai tay bịt chặt tai.

Khúc gỗ xoay mỗi lúc một nhanh hơn, thân gỗ giật nảy lên từng hồi giống như một bàn chân đang lên cơn co giật kịch liệt trong đau đớn. Những tiếng nổ "lách tách... lách tách" vang lên liên hồi từ bên trong thớ gỗ.

Thẩm Mặc Đẩu vẫn đứng bất động, hai mắt tập trung quan sát từng biến đổi trong chảo dầu. Lão không hề chớp mắt, tay cầm cây kẹp sắt sẵn sàng chặn lại nếu tà vật có biến cố bất thường.

Sau chừng nửa tuần nhang xoay tròn điên cuồng, khúc gỗ dâu rừng phát ra một tiếng nổ đanh gọn.

Rắc. Rắc.

Toàn bộ thân gỗ hình bàn chân nứt toác làm đôi rồi vỡ vụn ra thành từng mảnh than đen sì, chìm dần xuống đáy chảo gang.

Từ chính giữa phần gót chân vỡ vụn, một mảnh gốm sắc nhọn màu xanh rêu nổi lên trên mặt dầu trong vài hơi thở rồi từ từ chìm thẳng xuống đáy chảo. Mảnh gốm ấy dù ngâm trong dầu sôi sùng sục cũng không hề bị thiêu cháy hay biến dạng, chỉ có lớp máu đen bám trên bề mặt nó là tan rã hoàn toàn vào lớp dầu đen kịt.

Mùi hôi thối nồng nặc bốc lên không trung rồi nhanh chóng bị gió sông thổi bạt đi mất. Ngọn lửa dưới đáy chảo gang bỗng nhiên bùng cháy trở lại với màu đỏ cam ấm áp bình thường.

Thẩm Mặc Đẩu thở ra một hơi dài, buông cây kẹp sắt xuống đất, quay sang bảo gã chủ quán:

- Xong rồi. Đợi dầu nguội thì múc mảnh gốm ra đem ném xuống chỗ nước sâu nhất giữa sông Tiền Đường. Khúc gỗ đã nát, trận yếm thắng tám năm qua ở cầu thang chính thức bị phá bỏ.

Trịnh Hồng Khang như vừa trút được gánh nặng nghìn cân, quỳ sụp xuống đất lạy Thẩm Mặc Đẩu không ngớt:

- Tạ ơn đại ân đại đức của Thẩm lão sư phụ! Nhà họ Trịnh đời đời không quên ơn cứu mạng này!

***

Cùng thời điểm chảo dầu sôi phát ra tiếng nổ vỡ vụn khúc gỗ ở sân sau trà lâu, cách đó mấy chục dặm đường sông, tại thôn Ngụy Gia.

Ngụy Lão Tam đang ngồi trên bậc cửa nhìn ra màn đêm buông xuống. Trên chiếc bàn con bên cạnh, chiếc tráp bạc vẫn còn nguyên vẹn.

Bỗng nhiên, từ sâu trong khớp xương đầu gối và mắt cá chân phải của ông truyền đến một luồng nhiệt nóng ấm lan tỏa khắp các mạch máu. Cơn đau nhức âm ỉ, buốt nhói như kim châm hành hạ ông suốt tám năm trời bỗng chốc biến mất không còn một dấu vết.

Người thợ già ngỡ ngàng cúi xuống nhìn cái chân teo tóp của mình.

Những vết sẹo tím tái nhạt màu đi trông thấy. Ông thử cử động các ngón chân, nơi từng bị tê liệt hoàn toàn, nay lại có thể co duỗi một cách dễ dàng.

Ngụy Lão Tam run rẩy chống hai tay vào cây gậy gỗ mộc, từ từ dồn trọng lượng cơ thể lên cả hai chân.

Ông đứng thẳng người lên. Bàn chân phải chạm hẳn xuống mặt đất phẳng phiu, không còn cảm giác đau đớn thấu xương như trước nữa.

Người thợ cả chầm chậm bước đi.

Một bước, hai bước, ba bước... Ông tự mình chống gậy đi vòng quanh sân đất nhỏ hẹp mà không cần ai dìu đỡ.

Một bác lang trung già trong thôn đi ngang qua cổng, nhìn thấy cảnh tượng ấy thì trố mắt kinh ngạc, vội vã chạy vào sân đỡ lấy tay Ngụy Lão Tam, cẩn thận nắn bóp từng khớp xương chân:

- Lạ thật... lạ lùng thật đấy Ngụy huynh! Khớp xương gãy dập tám năm trời vốn đã thành tật chết, sao hôm nay mạch máu lại thông suốt, xương cốt đang tự liền lại một cách kỳ diệu thế này? Đây đúng là trời cao có mắt, ban phúc cho người lương thiện rồi!

Ngụy Lão Tam đứng giữa sân, nhìn về phương nam xa xăm nơi ngọn gió sông đang thổi tới. Nước mắt người thợ già ứa ra, lăn dài trên những nếp nhăn nheo của gương mặt khắc khổ.

***

Ba ngày sau, trà lâu họ Trịnh bên bến sông mở cửa đón khách trở lại.

Tấm ván ở bậc thang thứ bảy đã được Thẩm Mặc Đẩu dùng gỗ thông mới đục đẽo cẩn thận, ghép mộng khít khao, bào nhẵn thín rồi phủ một lớp sơn cánh gián đồng màu với toàn bộ cầu thang.

Đêm xuống, không gian trong quán yên ắng lạ thường. Tiếng bước chân khập khiễng nện gót cộc cộc lúc canh ba từng gieo rắc nỗi kinh hoàng cho gia nhân và khách trọ suốt nhiều tháng qua đã biến mất hoàn toàn. Căn nhà chỉ còn lại tiếng gió sông thổi qua rèm trúc và tiếng vỗ về nhè nhẹ của con nước đêm rằm.

Khách uống trà dần dần quay trở lại quán. Tầng trên tầng dưới lại rộn rã tiếng nói cười, tiếng chén đĩa va chạm lách cách và hương trà Long Tỉnh thơm ngát lan tỏa khắp các gian phòng.

Thế nhưng, mọi chuyện trên đời không bao giờ có thể vẹn nguyên như chưa từng có vết rạn nứt.

Chuyện Trịnh Hồng Khang mang bạc đến tận thôn quê quỳ gối xin lỗi người thợ mộc bị hại năm xưa không biết từ đâu đã rò rỉ ra ngoài. Tin đồn lan truyền nhanh như lửa bén rơm khắp các trà quán, tửu lầu và bến thuyền vùng Tô Châu. Người ta bàn tán xôn xao về thói bóc lột tàn nhẫn và thủ đoạn quỵt tiền công đánh gãy chân thợ nghèo của cha con họ Trịnh tám năm trước.

Thương nhân vùng Giang Nam vốn trọng chữ tín và đạo đức kinh doanh.

Chỉ trong vòng nửa tháng, mấy phường hội buôn trà lớn ở Hàng Châu và Huy Châu đã đồng loạt ngừng gửi những chuyến trà ngon thượng hạng cho Trịnh gia. Khách buôn sỉ chuyển sang lấy hàng ở các trà trang khác bên kia sông.

Dù Trịnh Hồng Khang có hạ giá trà xuống một nửa, mở tiệc thết đãi phường buôn thì người ta cũng chỉ tìm cớ thoái thác không nhận lời. Trà lâu giữ được sự bình yên về phần âm, nhưng cơ nghiệp buôn bán của nhà họ Trịnh trên thương trường đã bị giáng một đòn nặng nề, danh tiếng tích cóp bao năm xem như trôi theo dòng nước sông Tiền Đường.

Đó là cái giá của trần thế, không một phép Lỗ Ban nào có thể gánh thay.

***

Buổi trưa ngày thứ tư, trời thu trong vắt không một gợn mây.

Thẩm Mặc Đẩu ngồi ở chiếc bàn con kê sát cửa sổ tầng một của trà lâu, chậm rãi nhấp một ngụm trà hoa cúc nóng. Hòm đồ nghề bằng gỗ lim cũ kỹ đã được lão lau chùi sạch sẽ, đóng chặt nắp then cài và đặt ngay ngắn bên cạnh chân ghế. Cây thước câu đen bóng được cài gọn gàng vào đai lưng vải thô.

Lão thò tay vào ngực áo, lấy ra cuốn sổ trấn vật bọc da thú màu nâu sẫm.

Mặt bìa da thú đã mòn vẹt bốn góc sau bao năm tháng bôn ba khắp các ngả đường đất nước. Thẩm Mặc Đẩu lật từng trang giấy dó ngả vàng, dừng lại ở trang giấy vẽ hình chiếc cầu thang bảy bậc và khúc gỗ gót chân dâu rừng.

Bên cạnh nét vẽ bằng mực tàu đen nhánh của lão, bề mặt trang giấy trắng tinh ở phần lề dưới bỗng nhiên có một lớp ẩm ướt mỏng manh xuất hiện.

Không cần bút mực chạm vào, những nét chữ cổ tự màu đỏ thẫm như máu khô bắt đầu chầm chậm hiện lên trên mặt giấy: Bảy bậc trả bảy tháng, gót chạm đất là xong.

Nét chữ sắc sảo, uốn lượn như rồng bay phượng múa, thấm sâu vào từng thớ giấy dó rồi nhanh chóng khô lại, chuyển sang màu nâu sẫm giống như đã được viết từ hàng chục năm trước.

Thẩm Mặc Đẩu nhìn dòng chữ hồi lâu.

Bàn tay chai sần của lão vuốt nhẹ qua bề mặt trang giấy, cảm nhận độ thô ráp của nét chữ tự sinh. Đây đã là lần thứ hai cuốn sổ của sư phụ để lại tự động hiển lộ văn tự sau khi lão phá giải thành công một trấn vật oán khí. Mỗi dòng chữ hiện ra là một món nợ âm dương được kết toán, nhưng đồng thời cũng là một mắt xích đưa lão tiến gần hơn đến bí mật đen tối năm xưa của môn phái.

Thẩm Mặc Đẩu khẽ thở dài, gấp cuốn sổ lại cẩn thận rồi cất sâu vào trong bọc áo trước ngực.

Lão đứng dậy, cúi người nhấc hòm đồ nghề đeo lên vai. Trịnh Hồng Khang vội chạy ra định dâng thêm phong bao tiền tạ ơn hậu hĩnh. Lão chỉ khoát tay từ chối:

- Tiền công làm lại bậc thang và tiền phá yếm, ngài đã trả đủ theo lệ của Lỗ Ban môn. Chuyện ở quán này đã xong, phần còn lại trên cõi đời này là do ngài tự tích đức mà giữ lấy.

Nói xong, Thẩm Mặc Đẩu sải bước đi thẳng ra khỏi cửa trà lâu, không ngoái đầu nhìn lại vẻ bối rối của gã chủ quán.

Bước chân lão mộc sư già gõ đều đặn trên những phiến đá xanh của con đường ven sông. Gió thu thổi tung vạt áo vải thô màu chàm, mang theo vị mằn mặn của con nước lớn.

Khi bước đến mố cầu đá đầu phố, nơi cây cầu vòm cong vút bắc qua con rạch nhỏ dẫn ra sông lớn, Thẩm Mặc Đẩu bỗng dừng bước.

Dưới gốc cây liễu già cỗi rủ những cành lá vàng úa bên chân cầu, một bóng người đàn ông đã đứng đợi sẵn từ lúc nào.

Hắn trùm một chiếc áo tơi bằng lá cọ màu xám tro, chiếc nón lá rách sụp xuống che khuất nửa khuôn mặt, chỉ để lộ ra chòm râu lởm chởm và đôi môi mím chặt không hé một lời. Người giao liên câm lặng vẫn đứng bất động như một pho tượng đá giữa sương gió đầu thu.

Thẩm Mặc Đẩu bước chậm lại, dừng cách người đó ba bước chân.

Gã giao liên câm lặng không nói năng, cũng không phát ra bất kỳ âm thanh nào. Ông ta chỉ chậm rãi nâng cánh tay gầy guộc khẳng khiu như cành củi khô lên khỏi lớp áo tơi.

Ngón tay trỏ đen đúa, móng tay dài cáu bẩn của ông ta giơ lên, dứt khoát chỉ thẳng về hướng tây bắc xa xăm.

Nơi đó mây mù đang cuồn cuộn dâng lên trên những dãy núi mờ ảo, nơi những bức tường gạch xám cao vút của các đại viện thương nhân Sơn Tây đang âm thầm chôn giấu những bí mật kinh hoàng nghìn năm không đáy.

Chương khác

Xem thêm