Lỗ Ban Ký Sự - Chương 13: Lửa Đỏ Thiêu Xác
Gió sớm ở thành Tô Châu thổi qua mặt hồ mang theo hơi ẩm lạnh buốt, cuốn những chiếc lá liễu khô rụng đầy trên nền đá hoa cương của tây viện. Trời vừa…
Nội dung chương
Gió sớm ở thành Tô Châu thổi qua mặt hồ mang theo hơi ẩm lạnh buốt, cuốn những chiếc lá liễu khô rụng đầy trên nền đá hoa cương của tây viện.
Trời vừa hửng sáng, sương mai còn đọng từng giọt trĩu nặng trên mái ngói cong. Bên trong gian thư phòng phảng phất mùi trầm hương nồng đậm, Thôi Trừng Lễ ngồi ngay ngắn trước án thư bằng gỗ trắc, bàn tay cầm bút lông run lẩy bẩy. Trước mặt ông ta là xấp giấy hoa tiên màu tuyết trắng, bên cạnh đặt sẵn nghiên mực Đoan Khê đã mài đen nhánh.
Thôi Trừng Lễ cúi gập lưng, từng giọt mồ hôi lạnh rỉ ra trên trán nhỏ xuống mép giấy. Ông ta nắn nót viết từng chữ trần tình sám hối, tự nhận tội nghiệt ức hiếp thợ thuyền, dung túng người nhà đánh đập người vô tội, quỵt công xua đuổi thiếu niên mồ côi. Nét chữ vốn ngay ngắn của một vị quan hưu trí nay nguệch ngoạc, run rẩy theo từng nhịp thở dồn dập.
Viết xong ba phong thư tạ tội, Thôi Trừng Lễ đặt bút xuống, cẩn thận gập lại rồi bỏ vào phong bao đỏ. Ông ta sai quản gia mang ra một chiếc tráp gỗ bọc đồng, bên trong xếp ngay ngắn năm mươi thỏi bạc nén sáng loáng, tổng cộng năm trăm lạng bạc trắng.
Thôi Trừng Lễ nhìn tên gia đinh thân tín quỳ dưới đất, giọng khàn đặc:
- Cầm lấy số bạc này cùng thư từ, lập tức cưỡi ngựa trạm đi khắp các xưởng mộc, bến thuyền từ Tô Châu tới Gia Hưng, Hàng Châu. Phàm là nơi nào có phường thợ mộc tụ họp, đều phải dán cáo thị tìm kiếm tin tức của A Thọ và thân nhân cậu ta. Nếu tìm được người nhà, dâng đủ số bạc này phụng dưỡng, tuyệt đối không được thiếu một đồng. Mau đi đi!
Tên gia đinh lĩnh mệnh, ôm chặt tráp bạc dập đầu rồi vội vã lui ra ngoài, tiếng vó ngựa dồn dập chẳng mấy chốc đã xa dần qua cổng ngự viên.
Thôi Trừng Lễ quay sang nhìn Thẩm Mặc Đẩu đang đứng bên cạnh cửa sổ. Lão mộc sư khoác trên mình chiếc áo kép bằng vải thô xanh chàm đã bạc màu ở hai bên vai, nét mặt bình lặng không gợn chút sóng gió.
- Thẩm lão trượng, lễ sám hối và bạc chuộc tội tôi đã sai người mang đi. Việc hóa giải trấn vật này... kính xin lão trượng ra tay cứu giúp gia quyến.
Thẩm Mặc Đẩu quay đầu lại, ánh mắt dừng trên khuôn mặt hốc hác của chủ nhà:
- Muốn giải oan nghiệt do chính tay mình tạo ra, tâm phải tịnh, tay phải sạch. Chuẩn bị chậu than gỗ dâu, một gáo nước giếng khơi lúc bình minh, và ba nén nhang thơm. Đem tất cả ra giữa sân chính.
Gia nhân Thôi phủ lập tức tất bật chuẩn bị. Chỉ trong chốc lát, một chiếc chậu đồng lớn chứa đầy than củi gỗ dâu đã được đặt ngay ngắn giữa khoảng sân gạch rêu phong. Từng hòn than đượm lửa đỏ rực, tỏa ra hơi nóng bốc lên ngùn ngụt, xua tan cái lạnh ẩm ướt của sương sớm mùa đông.
Thẩm Mặc Đẩu bước ra giữa sân. Lão đặt chiếc hòm đồ nghề xuống mép thềm đá, mở nắp gỗ mun, lấy ra chiếc kìm sắt cũ kỹ cùng một đoạn dây gai se chặt. Lão cầm bức tượng gỗ búp bê từ trên bàn trà đem ra ngoài.
Bức tượng gỗ liễu dài nửa gang tay nằm im lìm trong lòng bàn tay thô ráp của lão. Dưới ánh nắng ban mai nhạt nhòa, vệt máu khô thẫm màu cùng những sợi chỉ ngũ sắc quấn quanh thân gỗ vẫn toát ra luồng khí tức u uất, lạnh lẽo đến tận xương tủy. Cây đinh rỉ sắt dài bốn tấc cắm ngập vào lồng ngực bức tượng, đâm xuyên qua lá bùa vàng mang bát tự của Thôi phu nhân.
Thẩm Mặc Đẩu đứng trước chậu than hồng, hai chân đứng vững theo bộ pháp thợ mộc, lưng thẳng như thân cây tùng. Lão đặt thanh thước câu mun nằm ngang trên hai bàn tay, hướng về phía đông lạy ba lạy theo quy củ của môn đồ Lỗ Ban.
Lão cất giọng trầm hùng, âm vang vang vọng khắp bốn góc sân viện:
- Trời đất định phương vị, búa đục dựng rường cột. Mộc linh vốn vô tội, oán khí do lòng sinh. Nay chủ nhà biết hối lỗi, nợ máu xin đền trả, nợ công xin bù đắp. Bát tự trả về cho người sống, oán hận theo khói mà tiêu tán. Kẻ làm sai chịu phạt, kẻ chịu oan được giải. Thánh sư chứng giám, phép yếm quy tàng!
Dứt lời, Thẩm Mặc Đẩu cầm chiếc kìm sắt kẹp chặt lấy mũ cây đinh rỉ. Lão vận kình lực nơi cổ tay, từ từ xoay nhẹ một vòng rồi rút mạnh.
*Rắc!*
Một tiếng động khô khốc vang lên từ thớ gỗ liễu. Cây đinh sắt dài bốn tấc mang theo những vụn gỗ đen ngòm được rút ra khỏi lồng ngực hình nhân. Ngay cây đinh rời khỏi thân tượng, một làn khói mỏng màu xám tro từ lỗ thủng xì ra, mang theo mùi tanh nồng của máu và mùi tanh tưởi của bùn đất đáy cống.
Thẩm Mặc Đẩu không chần chừ, tay kia cầm gáo nước giếng khơi dội thẳng lên cây đinh sắt đang bốc khói. Nước lạnh gặp sắt nóng phát ra tiếng "xèo xèo" chói tai, làn khói xám lập tức tan biến vào không khí. Lão ném cây đinh vào góc sân, rồi dùng kìm gắp lấy bức tượng gỗ búp bê thả thẳng vào giữa chậu than hồng rực.
Cả sân viện Thôi phủ nín thở theo dõi. Thôi Trừng Lễ cùng đám gia nhân đứng co cụm dưới hiên nhà, hai mắt trố tròn nhìn vào đống lửa.
Gỗ liễu khô chạm vào than hồng liền bốc cháy dữ dội. Ngọn lửa đỏ rực liếm láp thân tượng, nuốt trọn từng vòng chỉ ngũ sắc và lá bùa chú màu vàng.
Kỳ lạ thay, không hề có tiếng nổ lách tách hay tiếng thét gào ghê rợn như lời đồn đại về những vụ thiêu hủy tà vật. Trong chậu than chỉ vang lên một tiếng rít dài, êm nhẹ và thong thả, nghe như một tiếng thở dài trút bỏ gánh nặng của một người đã kiệt sức sau chuỗi ngày dài chịu đựng đòn roi cực nhục.
Những sợi chỉ ngũ sắc bị lửa thiêu rụi thành tro trắng. Tàn tro không rơi xuống đáy chậu mà cuộn theo luồng khí nóng bay bổng lên cao, xoay tròn ba vòng ngay giữa khoảng không sân viện rồi từ từ tản mác. Bay qua những tán cây liễu cổ thụ, tan biến vào nền trời xanh ngắt của thành Tô Châu.
Bức tượng gỗ liễu nhanh chóng hóa thành một khối than đỏ rực, rồi vỡ vụn thành lớp tro xám mịn màng, hòa lẫn vào tro củi gỗ dâu dưới đáy chậu đồng.
Không khí ngột ngạt bao trùm cả tây viện suốt mấy tháng qua được gột rửa sạch sẽ. Ánh nắng ban mai ấm áp rọi thẳng xuống nền sân gạch, hơi ấm lan tỏa khắp các gian phòng.
Thẩm Mặc Đẩu thở ra một hơi dài, đặt kìm sắt vào hòm đồ nghề rồi khép nắp gỗ mun lại. Lão quay sang nhìn Thôi Trừng Lễ:
- Trấn vật đã hóa tro, thần chú đã giải. Nhưng nợ đời thì chưa dứt điểm. Tấm lòng sám hối của ông phải giữ trọn đến cuối đời, nếu nuốt lời bội ước, tai ương sẽ quay lại gấp mười lần.
Thôi Trừng Lễ vội quỳ rạp xuống nền gạch đá, chắp tay lạy tạ:
- Lão sư phụ yên tâm! Tôi xin ghi lòng tạc dạ, tuyệt đối không dám tái phạm nửa lời!
Đến giờ Ngọ cùng ngày, từ phòng ngủ chính của tây viện truyền ra tin tức tốt lành. Thôi phu nhân sau một giấc ngủ li bì đã từ từ mở mắt tỉnh lại. Khuôn mặt bà ta đã bớt đi vẻ trắng bệch ma quái, sắc môi đỏ nhuận trở lại. Cơn đau thắt ngực như bị ngàn mũi kim châm hoàn toàn biến mất, bà ta tự mình ngồi dậy uống hết một bát cháo hạt sen nấu đường phèn mà không còn nôn mửa ra máu đen như trước.
Cô con gái nhỏ của Thôi gia cũng dứt hẳn những cơn co giật, tỉnh táo nhận ra cha mẹ và đòi ăn bánh ngọt. Khắp Thôi phủ ngập tràn tiếng thở phào nhẹ nhõm của đám gia nhân và người nhà họ Thôi.
Đến xế chiều, khi sương lạnh bắt đầu buông xuống mặt sông, tên gia đinh được phái đi dò la tin tức thuở sáng đã phóng ngựa hớt hải trở về phủ.
Quần áo tên gia đinh lấm lem bùn đất, hắn chạy vội vào thư phòng nơi Thẩm Mặc Đẩu và Thôi Trừng Lễ đang ngồi uống trà, quỳ mọp xuống đất thở không ra hơi:
- Bẩm... bẩm lão gia! Tiểu nhân đã tìm được nơi A Thọ từng tá túc năm xưa!
Thôi Trừng Lễ vội đặt chén trà xuống, sốt sắng hỏi:
- Sao rồi? Người đâu? Đã đưa bạc tận tay cậu ta chưa?
Tên gia đinh ngẩng đầu lên, vẻ mặt đầy bùi ngùi xen lẫn sợ hãi:
- Không kịp nữa rồi lão gia. Nơi A Thọ ở là một căn nhà tranh rách nát ven hồ Thạch Hồ, khu xóm nghèo của thợ thuyền. Mấy người láng giềng ở đó kể lại rằng, cuối mùa thu vừa rồi, trong một đêm mưa bão lớn, căn nhà tranh ấy bỗng nhiên bốc cháy dữ dội.
Thôi Trừng Lễ giật mình biến sắc:
- Cháy? Cậu ta... cậu ta có bị sao không?
- Hàng xóm mang xô chậu ra múc nước hồ dập lửa, nhưng căn nhà lợp rạ khô bốc cháy quá nhanh, chẳng mấy chốc đã sụp đổ hoàn toàn.
Tên gia đinh lau mồ hôi trên trán, giọng chùng xuống.
Đến khi lửa tắt, mọi người bới trong đống tro tàn hoang phế thì không thấy thi thể nào cả. Họ chỉ nhặt được một chiếc đục thợ mộc cán bằng gỗ dẻ gai đã cháy đen nham nhở, nhưng phần lưỡi thép bên dưới đã mòn vẹt thì vẫn còn nguyên vẹn.
Nói đoạn, tên gia đinh run rẩy lấy từ trong bọc vải thô ra một chiếc đục cũ kỹ đặt lên mặt bàn trà.
Thẩm Mặc Đẩu đưa tay cầm lấy chiếc đục. Lưỡi thép xám xịt mang dấu vết mài giũa qua hàng ngàn lần đục đẽo xà cột, mũi đục sắc lẹm nhưng đã mòn vẹt đi một nửa thân thép, cán gỗ dẻ gai phủ một lớp muội than đen kịt. Đây chính là công cụ kiếm cơm duy nhất của người thợ mộc nghèo khổ.
Tên gia đinh tiếp tục kể:
- Mấy người thợ mộc lớn tuổi cùng phường mộc ở bến sông cho biết, trước đêm xảy ra vụ cháy chừng ba ngày. Họ thấy A Thọ xách một đãy đồ nghề rách rưới rời khỏi túp lều, lầm lũi đi bộ về hướng nam. Lúc đó cậu ta ho khạc dữ dội, người gầy trơ xương, bước đi xiêu vẹo như ngọn đèn trước gió. Có người hỏi đi đâu, cậu ta chỉ lắc đầu không nói, trong mắt chỉ có một vẻ tuyệt vọng đến cùng cực. Từ đó đến nay bặt vô âm tín, cậu ta lưu lạc phương nào, sống chết ra sao...
Thôi Trừng Lễ ngồi chết lặng trên ghế bành, hai mắt đỏ hoe. Ông ta nhìn chiếc đục mòn vẹt trên bàn trà, hai vai run lên bần bật:
- Nghiệp chướng... thật là nghiệp chướng sâu dày! Một đứa trẻ mồ côi vì miếng cơm mà làm lụng cho ta, cuối cùng lại chịu kết cục lang bạt không nơi nương tựa, sống chết mịt mù...
Thẩm Mặc Đẩu đặt chiếc đục xuống mặt bàn, giọng lão đều đều nhưng lạnh lùng:
- Người gieo nhân nào gặt quả nấy. Oán khí trên thân tượng đã tan, nhưng món nợ mạng và ân nghĩa của cậu ta thì ông vĩnh viễn mang theo. Chiếc đục này là vật tùy thân của người thợ, mang theo mồ hôi và uất ức của họ. Giữ lấy nó mà răn mình.
Thôi Trừng Lễ lau nước mắt, run rẩy cầm chiếc đục ôm vào lòng, dập đầu lia lịa trước mặt Thẩm Mặc Đẩu:
- Tôi hiểu rồi. Tôi xin nghe lời lão trượng. Ngay ngày mai tôi sẽ cho người dựng một am nhỏ nơi góc hoa viên thanh tịnh nhất trong phủ, lập bài vị vô danh cho A Thọ. Cả đời này, mỗi sáng tôi sẽ tự tay múc một bát cơm nguội, thắp một nén nhang thành tâm cúng dường, chuộc lại tội lỗi năm xưa.
Thẩm Mặc Đẩu không nói thêm lời nào. Lão đứng dậy bước về phía sương phòng, gom lấy tay nải và chiếc hòm đồ nghề gỗ mun.
Ngồi bên chiếc bàn con trong sương phòng vắng lặng, ngọn đèn dầu lạc tỏa ra ánh sáng leo lét. Thẩm Mặc Đẩu mở ngăn kéo dưới cùng của hòm đồ nghề, lấy cuốn sổ trấn vật bọc da thú màu nâu sẫm đặt lên đùi.
Lão lật giở từng trang giấy Tuyên Thành đã ố vàng, dừng lại ở trang giấy trắng nơi góc cuối cuốn sổ.
Dưới ánh đèn dầu vàng vọt, ba chữ "A Thọ... Mộc" viết bằng mực đen nhánh hôm trước vẫn còn hằn sâu trên mặt giấy. Nhưng ngay lúc này, một vệt mực đen mới lại bắt đầu tự động rỉ ra từ thớ giấy trắng tinh khôi, như thể có một ngọn bút vô hình đang vung tay nắn nót từng nét chữ.
Nét mực đen sẫm bò dài trên trang giấy, kéo theo một mùi bùn đất ẩm ướt và mùi gỗ cháy khét lẹt.
Bảy chữ ngay ngắn hiện lên bên dưới dòng tên người thợ.
Đinh rút rồi, tim còn đóng.
Thẩm Mặc Đẩu ngồi lặng người nhìn chằm chằm vào dòng chữ ấy. Từng nét chữ sắc nhọn như lưỡi đục khắc sâu vào mặt giấy, phần móc cuối cùng của chữ "đóng" đậm đặc một màu đen thẫm u uất, mãi không chịu khô đi.
Lão mộc sư khẽ thở dài một tiếng khô khốc. Bàn tay chai sần thô ráp của lão từ từ đưa lên, đặt nhẹ lên lồng ngực bên trái của chính mình.
Dưới lớp áo vải thô chàm bạc màu, trái tim già nua của lão vẫn đang đập từng nhịp nặng nề, đều đặn. Nhưng trong sâu thẳm lồng ngực ấy, lão cảm nhận được một sức ép âm ỉ, lạnh ngắt như một thanh sắt vô hình đang ghim chặt vào huyết mạch. Đó là món nợ truyền đời của những kẻ mang danh môn đồ Lỗ Ban, những người hiểu thấu bí thuật dựng nhà nhưng cả đời phải gánh chịu nghiệp lực trôi dạt giữa nhân gian.
Thẩm Mặc Đẩu khép cuốn sổ da thú lại, cẩn thận cài then hòm đồ nghề, khoác tay nải lên vai rồi cầm thanh thước câu mun bước ra ngoài.
Đêm đã khuya, sương mù buông dày đặc trên các ngõ phố cổ của thành Tô Châu.
Thôi Trừng Lễ cùng toàn bộ người nhà họ Thôi tiễn lão ra tận cửa lớn của viên ngự. Thôi Trừng Lễ dâng lên một bao lụa đựng đầy vàng bạc tạ ơn, nhưng Thẩm Mặc Đẩu dứt khoát gạt đi, chỉ nhận đúng ba đồng tiền đồng trơn nhẵn tiền công gỡ gỗ theo đúng lệ nhà nghề thợ mộc.
- Đi đường cẩn thận, Thẩm lão trượng!
Thôi Trừng Lễ chắp tay cúi rạp người tiễn biệt.
Hai cánh cổng lớn bằng gỗ lim nặng nề của Thôi phủ từ từ mở toang ra hai bên, phát ra tiếng cọt kẹt trầm đục xé tan màn đêm tĩnh mịch.
Thẩm Mặc Đẩu bước qua ngưỡng cửa đá cao vút. Gió đêm từ mặt kênh thổi tới tạt vào mặt lão những làn sương lạnh buốt.
Ngay dưới bóng cây hòe già cỗi mọc bên mép đá trước cổng ngự viên, một bóng người gầy gò khoác chiếc áo choàng xám tro rách rưới đang đứng sừng sững trong màn sương mù mịt.
Kẻ đó không mang hành lý, không cầm đèn lồng, hai môi mím chặt không hé một lời. Đôi mắt sâu hoắm, lạnh lẽo không chút cảm xúc của người giao liên câm lặng nhìn thẳng vào Thẩm Mặc Đẩu, đã đứng chôn chân nơi góc tối ấy để đợi lão từ rất lâu.
Thẩm Mặc Đẩu dừng bước chân trên bậc đá, hai tay siết chặt lấy thân thước câu mun, ánh mắt khóa chặt lấy bóng người trước mặt.