Lỗ Ban Ký Sự - Chương 6: Người Gỗ Giơ Tay

Sương sớm của vùng sông nước Nam Tầm chầm chậm bò qua những bờ kè đá xanh, dâng lên một lớp hơi nước mỏng manh phủ kín mặt ngói âm dương của đại viện họ…

Nội dung chương

Sương sớm của vùng sông nước Nam Tầm chầm chậm bò qua những bờ kè đá xanh, dâng lên một lớp hơi nước mỏng manh phủ kín mặt ngói âm dương của đại viện họ Tống. Gió bấc thổi qua khe cửa sổ phát ra những tiếng rít uể oải. Ánh sáng mờ đục của buổi bình minh lọt qua khung rèm the, rọi lên nền gạch nung những vệt xám nhờ nhờ.

Tống Quý Sơn ngồi bệt dưới đất bên cạnh chân giường, hai mắt trũng sâu thâm quầng, râu ria lởm chởm sau một đêm dài không dám chợp mắt. Gã co ro trong tấm áo cừu đắt tiền, từng thớ thịt trên mặt giật liên hồi mỗi khi nhớ lại giọng nói the thé phát ra từ chân vách gỗ vào lúc canh ba.

Thẩm Mặc Đẩu không hề tỏ ra mỏi mệt. Lão mộc sư đứng dậy, phủi nhẹ lớp bụi mùn cưa vương trên ống quần vải thô, rồi thong thả bước tới bên hòm đồ nghề. Lão lấy ra cây thước câu bằng gỗ mun viền đồng, một chiếc dùi sắt chuốt nhọn đầu và chiếc đục nhỏ bản mỏng chuyên dùng để khoét mộng kín.

- Gia chủ, lấy giúp tôi một chậu nước giếng sạch và một chén rượu trắng.

Giọng của Thẩm Mặc Đẩu trầm tĩnh, phẳng lặng. Tống Quý Sơn như người chết đuối vớ được cọc, lập tức lồm cồm bò dậy, vấp phải mép chiếu suýt ngã nhào ra đất, cuống cuồng chạy ra ngoài cửa gọi người hầu chuẩn bị.

Chỉ một lát sau, chậu nước giếng trong vắt cùng chén rượu cất nồng men đã được đặt ngay ngắn trên chiếc bàn con cạnh vách gỗ.

Thẩm Mặc Đẩu nâng cây thước mun lên, đo từ ngạch cửa buồng ngủ vào đúng ba thước bảy tấc, lại đo từ chân sàn lên hai thước sáu tấc. Vị trí ấy rơi vào góc khuất sau chân tủ chè khảm ốc, nơi hai mép ván gỗ thông ghép mộng mang cá gặp nhau. Chỗ này quanh năm bị bóng tối của chiếc tủ che khuất, người ngoài nhìn vào sẽ chỉ thấy một đường mạch gỗ thẳng tắp, phẳng phiu không chút tì vết.

Lão mộc sư nhúng đầu ngón tay vào chén rượu, miết một đường dài dọc theo khe ghép giữa tấm ván thứ ba và thứ tư. Lớp sáp ong trét kín kẽ mộng gặp cồn liền mềm ra, bong tróc từng mảng nhỏ, để lộ một khe hở nhỏ bằng nửa thân tăm.

Thẩm Mặc Đẩu cầm chiếc dùi sắt, nhẹ nhàng lách mũi nhọn vào khe hở, xoay tròn cổ tay.

Rắc.

Một tiếng tách giòn tan vang lên. Lớp keo da trâu và sáp ong khô cứng bị nạy đứt. Từ khe hở hẹp ấy, một luồng khí tanh nồng phả ra. Mùi tanh của máu gà cũ hòa lẫn với mùi ẩm mốc của gỗ ngâm bùn lâu năm khiến Tống Quý Sơn đứng đằng sau phải đưa tay bịt chặt mũi, lùi lại hai bước.

Thẩm Mặc Đẩu không lùi. Lão đổi sang chiếc đục bản mỏng, khéo léo bạt nhẹ một góc ván khuất mép tủ chè. Đường đục ngọt lịm, không hề làm nứt vỡ thớ gỗ xung quanh, chỉ khoét vừa đủ một lỗ hổng tròn bằng nắm tay con trẻ.

Bên trong khoảng trống giữa hai lớp vách gỗ kép, bóng tối đặc quánh.

Lão mộc sư thò hai ngón tay gầy guộc, chai sạn vào sâu bên trong khoang rỗng. Đầu ngón tay lão chạm phải một vật thể bằng gỗ xù xì, lạnh ngắt và nhớp nháp. Lão cẩn thận lần tìm các mối chốt, kẹp chặt lấy thân vật thể rồi từ từ kéo ra ngoài.

Tống Quý Sơn nín thở, dán chặt mắt vào bàn tay của lão thợ mộc.

Dưới ánh sáng ban mai lờ mờ, vật thể vừa được lôi ra khỏi vách gỗ hiện rõ hình hài.

Đó là một bức tượng búp bê bằng gỗ liễu tạp, thân dài chừng gang tay, vừa bằng cổ tay người lớn. Tượng được gọt đẽo rất thô sơ nhưng đường nét ngũ quan lại dữ dằn, miệng há hốc để lộ chiếc lưỡi dài chạm khắc gồ ghề. Toàn thân tượng phủ một lớp dầu trẩu cáu bẩn ngả màu xám xịt.

Điều kỳ dị nhất nằm ở hai cánh tay của con người gỗ.

Cánh tay phải của con búp bê được gắn khớp chốt bằng cành tre nhỏ, giơ thẳng lên cao trong tư thế của một người đang giơ tay gõ cửa. Bàn tay gỗ nắm lại thành một quả đấm nhỏ xíu, nhưng phần khớp ngón tay và lòng bàn tay đã bị mài mòn vẹt đi một nửa, thớ gỗ sứt mẻ xơ xác, lộ cả những sợi dăm gãy vụn. Đó là kết quả của việc cánh tay gỗ này đã chuyển động, nện liên tục vào mặt trong của tấm ván thông suốt mấy năm ròng rã.

Thẩm Mặc Đẩu lật úp con búp bê lại.

Trên lưng bức tượng gỗ, tám chữ bát tự ghi ngày tháng năm sinh của một người được viết bằng thứ mực màu nâu sẫm, khô quắt và nứt nẻ. Mùi tanh lợm bốc lên từ dòng chữ cho thấy thứ mực ấy được pha từ máu mào gà trống và chu sa.

Tám chữ ấy, không lệch một nét nào, chính là giờ sinh tháng đẻ của Tống Quý Sơn.

Chưa dừng lại ở đó, quanh cổ con người gỗ bị quấn chặt nhiều vòng bằng một búi tóc người đen nhánh, bện chặt đến mức thắt sâu vào thớ gỗ liễu mềm, tạo thành một vết hằn tím tái như người bị thắt cổ.

Thẩm Mặc Đẩu đưa mắt nhìn xuống tay trái của bức tượng. Bàn tay trái buông thõng, những ngón gỗ ngắn cũn đang nắm chặt lấy một mảnh giấy bản màu vàng đã ố vụn. Trên mảnh giấy rách nát ấy vẫn còn đọc được vài nét mực đen lem luốc: "... khế ước công thợ... mười hai lượng bạc... thủ khoán..."

Đó là một mảnh vỡ của tờ giấy công đức và hợp đồng thuê thợ làm nhà bị xé rách.

Nhìn thấy mảnh giấy ấy, sắc mặt Tống Quý Sơn từ trắng bệch bỗng chuyển sang xám ngoét. Đôi chân gã run rẩy không trụ vững, cả người mềm nhũn trượt dài xuống nền gạch, miệng lắp bắp:

- Đây... đây là...

Thẩm Mặc Đẩu đặt con búp bê gỗ lên mặt bàn con bên cạnh chậu nước giếng. Con người gỗ vừa chạm mặt gỗ lim, cánh tay phải của nó còn giữ theo quán tính cũ, khẽ giật giật hai nhịp phát ra tiếng cộc cộc rất nhỏ rồi mới chịu nằm yên.

Lão mộc sư quay người lại, ánh mắt sắc như lưỡi đục nhìn thẳng vào mặt người chủ nhà họ Tống.

- Tống gia chủ, thuật này gọi là "Mộc nhân khấu môn", thuộc mười bảy điều trấn áp dữ dội trong Lỗ Ban ác thư. Thợ mộc chôn tượng gỗ sau vách, dùng tóc người và máu gà dẫn hồn, lấy khế ước làm gốc nợ. Ban ngày người gỗ ngậm oán, ban đêm người gỗ giơ tay gõ vách đòi tiền. Tiếng gõ chạm vào long mạch của nhà, rung vào hồn phách của chủ. Nhà nào trúng thuật này, ban đầu đau đầu mất ngủ, kế đến hao tài tốn của, trong vòng năm năm thân bại danh liệt, tay chân co quắp như gỗ mục, cuối cùng phát điên mà chết.

Thẩm Mặc Đẩu dừng lại một chút, giọng nói đanh lại, từng lời từng chữ như búa nện vào đe:

- Nhưng Lỗ Ban Kinh có luật trời. Phép cát tường mười phần thì thợ gánh một phần hao tổn. Còn phép trấn ác thì hung hiểm muôn trùng, thợ mộc hạ thủ phải trả bằng tuổi thọ, mù mắt hoặc tuyệt tự. Không có huyết hải thâm thù, không bị dồn vào đường cùng mất mạng, không một người thợ mộc chân chính nào dám khắc mảnh khế ước vào tay người gỗ để tự đốt phúc đức của mình.

Lão bước một bước lại gần Tống Quý Sơn, bóng lưng cao gầy phủ trùm lên thân hình đang run rẩy của gã thương nhân tơ lụa.

- Nói đi. Năm năm trước, khi dựng nên cái đại viện ba gian hai chái lộng lẫy này, ông đã làm gì với đội thợ mộc?

Tống Quý Sơn ôm lấy mặt, những giọt mồ hôi hột to bằng hạt ngô túa ra trên trán, chảy ròng ròng xuống cằm. Sự hoảng loạn và nỗi xấu hổ bóp nghẹt lấy cổ họng gã. Gã ngẩng đầu nhìn con búp bê gỗ trên bàn, đôi mắt đờ đẫn trôi về ký ức của một mùa đông lạnh giá năm năm về trước.

- Tôi... tôi không cố ý... Lão mộc sư tha mạng, tôi thực sự không ngờ hậu quả lại ra nông nỗi này!

Tống Quý Sơn quỳ rạp xuống đất, trán đập bôm bốp xuống nền gạch nung, vừa khóc vừa kể lại sự tình.

Năm ấy, họ Tống trúng một chuyến buôn lụa lớn chuyển lên kinh thành, phát tài nhanh chóng. Tống Quý Sơn muốn phô trương thanh thế nên quyết định phá bỏ ngôi nhà ngói cũ của tổ tiên để dựng nên đại viện nguy nga nhất trấn Nam Tầm. Gã mời đội thợ mộc nổi tiếng của vùng Thái Hồ do một người thợ cả họ Ngụy đứng đầu về thi công.

Đội thợ họ Ngụy gồm bảy người, làm việc ròng rã suốt tám tháng trời từ đầu xuân sang tận mùa đông giá rét. Họ tỉ mẩn đục từng chiếc mộng kép, bào từng cây xà gồ, chạm trổ từng ô cửa sổ hình hoa cúc chữ vạn vô cùng tinh xảo.

Đến ngày cất nóc hoàn thiện, theo khế ước ban đầu, Tống Quý Sơn phải thanh toán nốt nửa số tiền công còn lại là ba mươi lượng bạc trắng. Nhưng lúc bấy giờ, một xưởng dệt của gã ở đầu trấn bị chập lửa cháy mất nửa kho hàng, tiền mặt bị thâm hụt nặng.

Tiếc của và xót tiền, Tống Quý Sơn liền sinh tâm địa bất lương. Gã lấy cớ vài đường vân gỗ trên cột cái phòng ngủ bị nứt chân chim do thời tiết khô hanh, quy kết là đội thợ họ Ngụy dùng gỗ tạp, tay nghề dở xảo quyệt để lừa gạt chủ nhà.

Gã không những quỵt đứt ba mươi lượng bạc tiền công mồ hôi nước mắt của người ta, mà còn sai bọn gia đinh và tay chân lực lưỡng trong nhà cầm gậy gộc đánh đuổi đội thợ ra khỏi cổng.

- Ngụy thợ cả lúc đó đã ngoài năm mươi tuổi...

Tống Quý Sơn run rẩy nhớ lại với giọng nghẹn đặc:

- Ông ấy quỳ ngoài trời tuyết rơi trắng xóa, dập đầu xin tôi trả lại mười hai lượng bạc tiền vốn. Số bạc đó là ông tự bỏ ra mua đinh đồng, keo dán và thuốc men cho mấy người thợ phụ bị ốm. Ông bảo nếu không có tiền mang về quê, cả nhà bảy miệng ăn sẽ chết đói trong mùa đông...

- Rồi ông làm gì?

Thẩm Mặc Đẩu lạnh lùng hỏi, hai bàn tay lão siết chặt chiếc thước mun:

- Tôi... lúc đó tôi tức giận vì nghĩ ông ấy làm mất mặt tôi trước mặt bà con chòm xóm... Tôi đã sai tên quản gia cầm cán xẻng... đánh gãy hai chiếc răng cửa của Ngụy thợ cả, bẻ quặt cánh tay phải của ông ấy rồi cho người quẳng hết hòm đồ nghề của họ xuống kênh nước... đuổi họ đi ngay trong đêm giao thừa tuyết phủ dày đặc...

Tống Quý Sơn gục đầu xuống nền gạch, bả vai rung lên bần bật.

Căn phòng ngủ rơi vào một sự im lặng nặng nề như chì. Tiếng gió bấc ngoài song cửa đập vào rèm the nghe như những tiếng thở dài oán hận.

Thẩm Mặc Đẩu nhìn chằm chằm vào con búp bê gỗ liễu trên bàn.

Bây giờ thì mọi sự đã sáng tỏ như ban ngày.

Cánh tay phải của con búp bê bị bẻ gập lên cao để gõ cửa chính là hình bóng của cánh tay phải bị bẻ gãy của Ngụy thợ cả năm xưa. Mảnh giấy vụn mười hai lượng bạc chính là món nợ máu và mồ hôi mà người thợ già không đòi được giữa đêm tuyết lạnh. Không có tiền thuốc men, cánh tay phải của người thợ cả tàn phế vĩnh viễn, nghề mộc cả đời coi như bị chôn vùi dưới đáy mồ. Trong cơn cùng quẫn và uất ức đến tận xương tủy, người thợ già ấy đã giấu con người gỗ vào vách tường trước khi bị đuổi đi. Dùng chính sinh mạng và sự tàn phế của mình để lập nên một lời nguyền đòi nợ đời đời kiếp kiếp.

Thẩm Mặc Đẩu thở dài một tiếng, ánh mắt nhìn Tống Quý Sơn không chút thương hại:

- Ông có biết vì sao năm năm nay nhà ông không có một đêm nào được yên giấc không? Không phải ma quỷ phương nào quấy phá, mà là linh hồn và nỗi uất hận của người thợ già tàn tật kia đang bám vào từng thớ gỗ trong ngôi nhà này. Ông đánh gãy tay người ta, người ta bèn để lại một cánh tay gỗ gõ vào đầu ông từng đêm. Ông quỵt mười hai lượng bạc mồ hôi nước mắt, thì năm năm qua kho lụa của ông thâm hụt gấp mười lần số đó!

Tống Quý Sơn bò rạp tới dưới chân Thẩm Mặc Đẩu, hai tay run rẩy ôm lấy gấu áo lão:

- Lão mộc sư! Tiên sư cứu tôi với! Tôi biết lỗi rồi! Tôi sẵn sàng chi một trăm lượng... không, ba trăm lượng bạc! Xin ngài hãy thiêu hủy con người gỗ này, phá giải lời nguyền giúp tôi! Ngài muốn bao nhiêu bạc tôi cũng trả!

Thẩm Mặc Đẩu dứt khoát rút vạt áo ra khỏi tay gã thương nhân.

Gương mặt lão mộc sư nghiêm lại, lạnh như tảng đá dưới đáy sông mùa đông. Lão chỉ tay vào bức tượng gỗ liễu:

- Tống Quý Sơn, ông tưởng bạc của ông mua được luật của Lỗ Ban môn sao? Lỗ Ban môn chúng tôi đặt ra quy củ nghìn năm, thước đo có tấc, đục bạt có ngàm, làm nhà dựng cửa là để che mưa chắn gió, tích phúc cho con cháu đời sau. Thợ mộc lấy công đổi bát cơm manh áo, chủ nhà lấy lòng thành đổi chốn dung thân. Ông ỷ thế nhà giàu ép người vào đường cùng, đánh tàn phế người làm nghề, đó là tội ác tày trời.

Thẩm Mặc Đẩu bước lại gần bàn, nhấc con búp bê gỗ lên:

- Trấn áp trả thù trong trường hợp này là quyền của kẻ bị áp bức. Pháp này do Ngụy thợ cả dùng máu và cánh tay tàn phế lập nên theo đúng lẽ trời đất oán hận. Tôi là người cầm thước của Lỗ Ban môn, chỉ giữ cho cán cân nhân quả không bị nghiêng lệch, chứ tuyệt đối không bao giờ tiếp tay cho kẻ ác gỡ tội để trốn nợ!

Tống Quý Sơn nghe vậy thì mặt cắt không còn hột máu, ngã ngồi bệt ra đất, tuyệt vọng van vỉ:

- Lão mộc sư... chẳng lẽ... chẳng lẽ không còn con đường sống nào cho tôi sao? Tôi chết thì không sao, nhưng cả nhà già trẻ lớn bé nhà họ Tống...

- Muốn phá pháp thì phải trả nợ trước.

Thẩm Mặc Đẩu ngắt lời gã bằng giọng dứt khoát:

- Pháp của Lỗ Ban môn dựa trên nợ nần và oán khí. Nợ chưa trả, oán chưa tiêu, nếu tôi dùng lửa hay dầu sôi gượng ép thiêu đốt con người gỗ này ngay bây giờ, oán khí không nơi nương tựa sẽ lập tức phản phệ. Đốt sạch toàn bộ gia sản họ Tống thành tro bụi, người trong nhà không một ai giữ được tính mạng.

Lão mộc sư lấy từ trong hòm đồ nghề ra một chiếc túi vải thô màu xám tro, cẩn thận đặt bức tượng gỗ liễu vào bên trong rồi thắt chặt miệng túi bằng một sợi dây gai tẩm dầu trẩu.

Lão quay sang Tống Quý Sơn, trầm giọng đưa ra điều kiện:

- Thứ nhất, lập tức chuẩn bị một trăm lượng bạc trắng, sai người thân tín mang thẳng về quê của Ngụy thợ cả ở mé nam Thái Hồ. Số bạc đó không phải tiền ba thí, mà là tiền đền bù công sức, tiền bồi thường thuốc men cho cánh tay bị gãy và tiền chuộc tội của ông suốt năm năm qua.

- Thứ hai, chính bản thân ông phải viết một bức thư sám hối, đóng dấu đỏ của gia tộc họ Tống. Thừa nhận hành vi bạo tàn quỵt nợ năm xưa, phái quản gia đích thân tới tận giường bệnh của người ta dập đầu tạ tội.

- Bao giờ người của ông mang được giấy biên nhận số bạc và lời tha thứ của Ngụy gia trở về đây, lúc đó tôi mới đặt chảo dầu sôi giữa sân đại viện để làm lễ phá pháp. Thiếu một phân bạc, thiếu một lời xin lỗi chân thành, pháp này vĩnh viễn không bao giờ gỡ được!

Tống Quý Sơn nghe xong, vừa mừng rỡ vì còn hy vọng giữ được mạng sống, vừa xấu hổ đến mức không dám ngẩng mặt lên. Gã vội vàng dập đầu lia lịa:

- Đa tạ lão mộc sư đã chỉ đường dẫn lối! Tôi xin làm theo! Tôi sẽ lập tức sai người mang hai trăm lượng bạc đi ngay trong sáng nay! Tôi sẽ đích thân viết thư sám hối!

- Đi làm ngay đi.

Thẩm Mặc Đẩu lạnh lùng phất tay:

- Thời gian của ông không còn nhiều đâu.

Tống Quý Sơn lảo đảo đứng dậy, vấp váp chạy vội ra ngoài sân, tiếng quát tháo gia đinh chuẩn bị ngựa xe và bạc trắng vang lên rối rít khắp tiền sảnh.

Trong gian buồng ngủ vắng lặng, Thẩm Mặc Đẩu ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ thông, đặt chiếc túi vải thô đựng con búp bê gỗ lên mặt bàn.

Căn phòng đã sáng rõ, nhưng không khí xung quanh chiếc bàn gỗ lim vẫn lạnh ngắt như có một luồng gió âm thổi luồn dưới chân bàn.

Bên trong lớp vải thô xám cáu bẩn, một âm thanh kỳ quái bỗng nhiên cất lên.

Cộc. Cộc. Tiếng gõ khô khốc, đanh gọn của nắm tay gỗ lại vang lên đều đặn.

Con búp bê gỗ liễu dù đã bị bọc kín trong túi vải và thắt chặt dây gai, cánh tay phải của nó vẫn không hề dừng lại. Từng nhịp đập của khúc gỗ mòn vẹt nện thẳng xuống mặt bàn gỗ lim cứng ngắc, phát ra những tiếng động trầm đục. Nhịp nhàng và chuẩn xác như tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc đang đếm ngược từng khắc thời gian còn lại của gia đình họ Tống.

Chương khác

Xem thêm