Lỗ Ban Ký Sự - Chương 4: Cát Khí Tràn Đầy

Thẩm Mặc Đẩu đứng trên chiếc thang tre, hai tay nâng con thuyền gỗ thông đặt lại ngay ngắn vào khe đấu của chiếc cột cái gian hữu. Lão dùng ngón tay cái…

Nội dung chương

Thẩm Mặc Đẩu đứng trên chiếc thang tre, hai tay nâng con thuyền gỗ thông đặt lại ngay ngắn vào khe đấu của chiếc cột cái gian hữu. Lão dùng ngón tay cái miết nhẹ quanh mép mộng, kiểm tra từng góc cạnh sao cho sống thuyền khớp khít vào thớ gỗ của dầm ngang. Mũi thuyền chếch góc ba phân hướng thẳng vào gian giữa, đuôi thuyền xuôi theo chiều gió bấc từ mặt sông Lạc Thủy thổi vào.

Chín hạt thóc vàng nằm im lìm trong khoang thuyền, rực lên sắc vàng óng ả dưới luồng ánh sáng ban mai lọt qua khe ngói.

Bước xuống đất, Thẩm Mặc Đẩu phủi sạch lớp bụi gỗ bám trên vạt áo chàm, quay sang nhìn Trần Đông gia đang chắp tay đứng chờ bên cạnh bàn trà. Vẻ mặt người chủ nhà lúc này vừa mừng rỡ lại vừa có phần run rẩy, ánh mắt không dám rời khỏi góc xà nhà phía trên đầu.

- Trần lão bản, con thuyền này đã an vị đúng chỗ của nó

Thẩm Mặc Đẩu cất giọng bình thản, đặt chiếc thước câu bằng đồng đen trở lại hộp gỗ:

- Từ rày về sau, tuyệt đối không được cho người trèo lên lau chùi quét dọn bụi bặm ở khe đấu này. Mạng nhện có giăng, bồ hóng có bám cũng cứ để mặc tự nhiên. Gỗ đón khí sông cần sự tĩnh lặng, động chạm lau chùi thường xuyên sẽ làm kinh động đến dòng tài khí đang chảy vào lòng nhà.

Trần Đông gia gật đầu liên tục, hai tay xoa vào nhau:

- Vâng, vâng! Lời lão sư phụ dạy tôi xin ghi tạc trong lòng. Tôi sẽ dặn dò con cháu trong nhà, cấm tiệt đứa nào được bén mảng cầm chổi quét lên chiếc cột cái bên hữu ấy.

Nói đoạn, Trần Đông gia vội vã chạy vào buồng trong, lát sau bưng ra một chiếc khay gỗ bọc vải đỏ. Trên khay đặt hai đĩnh bạc nén nặng trịch, ánh lên sắc bạc trắng tinh khiết của ngân lượng nhà quan đúc.

- Lão sư phụ có công chỉ điểm cơ trời, cứu cho gia đình tôi hiểu rõ phúc họa

Trần Đông gia nâng chiếc khay bằng cả hai tay, kính cẩn chìa về phía Thẩm Mặc Đẩu:

- Đĩnh bạc mười lượng này xin gửi lão tiền trà nước đi đường. Còn đĩnh hai mươi lượng bên cạnh, tôi tha thiết nhờ lão sư phụ khi xuôi thuyền dọc sông Lạc Thủy, nếu có duyên gặp lại ba anh em thợ mộc họ Lưu vùng sông Hoài năm xưa, xin chuyển tận tay giúp tôi. Năm ấy họ cất xong ngôi nhà ba gian này rồi lẳng lặng rời đi vào lúc rạng sáng, tôi chưa kịp bồi dưỡng thêm đồng nào ngoài tiền công đã định. Món nợ ân nghĩa này, lòng tôi áy náy khôn nguôi.

Thẩm Mặc Đẩu nhìn hai đĩnh bạc, khẽ gật đầu. Lão chỉ nhận lấy đĩnh bạc hai mươi lượng nhét vào túi vải gai bên hông, còn đĩnh mười lượng thì đẩy ngược trở lại mặt bàn:

- Tiền công của thợ mộc chúng tôi chỉ lấy đúng phần cơm áo. Tôi ghé qua nhà ông xem xét mộng gỗ là do cơ duyên mách bảo, không nhọc công đục đẽo nên không thể nhận nhiều bạc như vậy. Đĩnh hai mươi lượng này là tiền hồi đáp ân tình của gia chủ đối với người làm nghề, tôi sẽ mang đi tìm anh em nhà họ Lưu.

Trần Đông gia còn muốn nài ép thêm nhưng nhìn thấy ánh mắt cương nghị của người thợ già, đành phải thu tay lại, trong lòng càng thêm bội phục khí phách của người trong nghề mộc cổ truyền.

Rời khỏi thôn Thượng Du khi sương sớm trên mặt sông Lạc Thủy vừa tan, Thẩm Mặc Đẩu quảy hòm đồ nghề rảo bước men theo con đường đê lát đá xanh.

Gió đầu mùa thu thổi lồng lộng từ mặt nước mang theo hơi ẩm ngai ngái của bùn non và rong rêu. Lão mộc sư vừa đi vừa dò hỏi những người lái đò ngang và dân chài lưới ven sông. Dân làm nghề mộc trên sông nước thường không ở cố định một nơi, họ đi theo các xưởng đóng thuyền hoặc nhận sửa chữa cọc tiêu, bến bãi cho các thương thuyền buôn muối, buôn gạo từ mạn sông Hoài đổ về hạ lưu.

Đi chừng hơn hai mươi dặm đường sông, đến khúc quanh bến đò Tam Xoa thuộc địa phận huyện dưới, Thẩm Mặc Đẩu ngửi thấy mùi nhựa thông và mùi dầu trẩu nồng nặc bốc lên từ một bãi đất bồi ven mé nước.

Đó là một xưởng đóng đò thủ công quy mô nhỏ. Dưới tán lều dựng tạm bằng tre nứa và bạt rách, ba người đàn ông đang cởi trần trùng trục, da dẻ đen bóng vì nắng gió sông hồ. Kẻ cầm cưa xẻ gỗ, kẻ dùng búa đóng những chiếc đinh thuyền dài bằng ngón tay trỏ vào be thuyền gỗ táu.

Người thợ đứng tuổi nhất trong nhóm có dáng người thấp đậm, bắp tay cuồn cuộn những đường gân xanh như rễ cây cổ thụ. Một bên mắt trái của ông ta đã mờ đục, mí mắt sụp xuống lẹm sâu vào hốc mắt, chỉ còn con mắt bên phải sáng quắc, chăm chú nhìn từng đường mực nẩy trên thân súc gỗ.

Thẩm Mặc Đẩu dừng chân bên mép xưởng, đặt hòm đồ nghề xuống một gốc cây liễu già, cất tiếng chào theo lối của bạn nghề:

- Thước tầm đo đất, dây mực định trời. Xin hỏi đây có phải Lưu đại sư phụ vùng sông Hoài danh tiếng?

Người thợ cả chột mắt dừng tay búa, ngẩng đầu lên nhìn Thẩm Mặc Đẩu. Ánh mắt ông ta quét qua chiếc hòm gỗ đào cũ kỹ và cây thước câu cắm bên hông túi của lão. Vẻ mặt lập tức hòa hoãn, ông đặt búa sắt xuống đe gỗ rồi chắp tay đáp lễ:

- Đồng đạo mộc sư từ phương nào tới? Tôi đúng là Lưu Mộc Sinh, cùng hai đứa em trai kiếm chén cơm thừa bên bến sông này, đâu dám nhận hai chữ danh tiếng.

Hai người thợ trẻ tuổi hơn cũng dừng cưa, tò mò nhìn người thợ già râu tóc hoa râm vừa tìm đến tận xưởng.

Thẩm Mặc Đẩu bước vào trong lều, đưa mắt nhìn quanh xưởng gỗ. Dù là lều bạt thô sơ dựng tạm bên bãi bồi, nhưng đồ đạc trong xưởng được sắp xếp ngăn nắp lạ thường. Rìu, đục, bào, cưa đều được treo ngay ngắn trên các thanh tre gác ngang, lưỡi thép mài sáng loáng không dính một hạt rỉ sét. Phía sau lều có một gian nhà tranh nhỏ ba gian khang trang, khói bếp đang nghi ngút bốc lên, tiếng trẻ con ê a đọc sách vọng ra nghe rất ấm cúng.

- Sáng nay tôi vừa từ nhà họ Trần ở thôn Thượng Du tới đây

Thẩm Mặc Đẩu nói chậm rãi, quan sát từng chuyển động trên gương mặt người thợ cả:

Nghe đến hai chữ "Trần gia", thân hình Lưu Mộc Sinh hơi khựng lại. Đôi mắt còn lành lặn của ông ta thoáng dao động nhưng rồi nhanh chóng lấy lại vẻ phẳng lặng như mặt nước hồ thu:

- Hóa ra là nhà Trần Đông gia. Ngôi nhà ba gian gỗ thông ấy dựng cũng được gần một năm rồi. Không biết nhà cửa có chỗ nào nứt nẻ hay xô lệch mộng mà phiền lão huynh phải đích thân lặn lội tới đây?

- Nhà đứng vững chãi, mộng bén khít khao, không lệch một ly

Thẩm Mặc Đẩu bước tới gần một súc gỗ thông đã xẻ vuông vắn, đưa tay vỗ nhẹ lên mặt gỗ:

- Đặc biệt là chiếc đấu củng gian bên hữu, phong thủy đón tài vô cùng đắc địa. Chín hạt thóc vẫn còn nguyên vẹn trong lòng thuyền, không hao hụt một hạt nào.

Lưu Mộc Sinh nghe vậy thì khẽ thở dài một tiếng, khóe môi nở một nụ cười kín đáo. Ông ta quay sang hai người em trai:

- Nhị đệ, Tam đệ, hai chú ra bến xem mấy cây gỗ ngâm ngoài bè đã vớt lên được chưa, để tôi tiếp chuyện vị lão ca này.

Hai người thợ trẻ tuổi hiểu ý, lập tức buông đồ nghề, cúi đầu chào Thẩm Mặc Đẩu rồi rảo bước đi ra phía bến sông.

Trong lều chỉ còn lại hai người thợ già cùng mùi gỗ thông thoang thoảng. Lưu Mộc Sinh kéo một khúc gỗ tròn lại làm ghế mời khách ngồi. Ông rót một bát nước chè tươi xanh ngắt đưa sang:

- Lão huynh đã nhìn ra con thuyền trong khe đấu, ắt hẳn cũng là bậc cao nhân nắm giữ bí truyền của Lỗ Ban môn. Chuyện này tôi giấu kín suốt một năm qua, ngay cả hai đứa em ruột cùng làm công nhật cũng không hề hay biết.

Thẩm Mặc Đẩu nhấp một ngụm nước chè, ánh mắt dừng lại ở bên mắt trái đã mờ đục của Lưu Mộc Sinh:

- Người trong nghề nhìn vào là hiểu ngay. Chiếc thuyền chở lúa xuôi dòng nước Lạc Thủy vào lòng nhà là phép đại cát tường đứng hàng thứ nhất trong mười điều cát của bản môn. Nhưng thuật cát tường xưa nay đều dùng chính âm đức và khí huyết của người thi pháp để làm mồi dẫn tài khí trời đất. Con mắt trái này của Lưu sư phụ... là trả giá cho phép thuyền gỗ ấy phải không?

Lưu Mộc Sinh đưa tay sờ lên mí mắt sụp mờ của mình, giọng nói trầm lắng không hề có chút oán hận:

- Lão huynh quả là người thấu suốt. Mùa đông năm ngoái, ba anh em tôi từ sông Hoài phiêu dạt về đây đói rách cơ hàn, đứa em út lên cơn sốt rét suýt bỏ mạng bên vệ đường. Trần Đông gia tuy là người buôn bán nhưng tấm lòng nhân hậu, không những thuê chúng tôi dựng nhà với giá cao mà ngày ba bữa đều dọn cơm thịt ấm nóng, lại còn mời thầy bốc thuốc cứu sống em tôi. Ân tình ấy lớn tựa núi non.

Lưu Mộc Sinh dừng lại một lát, nhìn ra dòng nước sông Lạc Thủy đang cuộn sóng:

- Chúng tôi là phường thợ hèn mọn, ngoài đôi bàn tay đục đẽo gỗ đá thì chẳng có gì để báo đáp. Trước ngày cất nóc, tôi quyết định dùng gỗ thông ngâm nước sông bảy ngày bảy đêm, đẽo thành con thuyền chở chín hạt thóc giấu vào khe đấu. Lúc điểm mực khai quang cho mũi thuyền, tôi đã thề trước tổ sư xin lấy mười năm dương thọ và một con mắt của mình để gánh đỡ bớt phần phản phệ của thiên đạo. Dồn hết tài lộc phù hộ cho gia đình họ Trần ba đời hưng vượng.

Thẩm Mặc Đẩu nghe xong, trong lòng dâng lên niềm cảm phục sâu sắc.

Phép yếm thắng trong Lỗ Ban Kinh chia làm hai ngả tà và chính. Kẻ dùng tà thuật hại người thì lấy sự oán hận làm gốc, giấu dao, giấu đinh, giấu hình nhân cụt đầu để làm gia chủ khánh kiệt suy tàn, kẻ ấy sẽ bị nghiệp quật mù mắt, gãy chân, con cháu tuyệt tự. Nhưng người dùng cát thuật cứu đời, lấy thân mình gánh bớt thiên cơ để báo đền ân nghĩa, dẫu có tổn hao thân xác nhưng âm đức lại dày tựa đất trời.

- Lưu sư phụ làm việc trọn vẹn chữ tâm, trời xanh ắt có mắt

Thẩm Mặc Đẩu thò tay vào túi vải, lấy đĩnh bạc hai mươi lượng đặt lên chiếc đe gỗ trước mặt người thợ cả:

- Trần Đông gia sau khi biết chuyện đã vô cùng cảm kích. Ông ấy nhờ tôi mang số bạc này đến trao tận tay cho huynh để bù đắp phần nào công đức.

Nhìn thấy đĩnh bạc sáng lấp lánh, Lưu Mộc Sinh lắc đầu từ chối:

- Ân nghĩa đã trả xong, tôi làm sao dám nhận thêm bạc của người ta? Nếu nhận bạc này, con thuyền trong khe đấu sẽ biến thành cuộc mua bán đổi chác, tài khí sẽ lập tức tan biến.

- Huynh lầm rồi

Thẩm Mặc Đẩu ôn tồn giải thích:

- Nếu huynh nhận bạc để làm giàu cho bản thân thì mới là đổi chác. Còn đây là lòng thành của gia chủ hồi hướng lại cho người thợ có tâm. Phúc lộc trên đời này tuần hoàn như dòng nước sông, có qua có lại mới bền lâu. Huynh hãy nhìn gian nhà phía sau kia xem, đó chẳng phải là phúc báo mà tổ sư bù đắp lại cho huynh sao?

Lưu Mộc Sinh ngước nhìn về phía gian nhà tranh, ánh mắt bỗng mềm lại.

Vừa lúc đó, một cậu thiếu niên trạc mười lăm mười sáu tuổi, dáng dấp sáng sủa khôi ngô, mặc bộ áo vải xanh tươm tất từ trong nhà bước ra. Cậu bé cung kính cúi đầu chào Thẩm Mặc Đẩu rồi hồ hởi chạy lại bên cạnh Lưu Mộc Sinh:

- Cha! Ban nãy quan sai ở nha môn huyện vừa cử người mang giấy báo xuống. Con đã trúng tuyển vào ngạch học việc của xưởng đóng thuyền quan phủ. Tháng sau con sẽ được vào xưởng học nghề vẽ mẫu thuyền rồng!

Lưu Mộc Sinh ôm lấy vai con trai, đôi bàn tay thô ráp run rẩy xoa đầu cậu bé. Khóe mắt lành lặn của người thợ cả ươn ướt lệ mừng.

Thẩm Mặc Đẩu mỉm cười, chỉ tay vào đĩnh bạc trên đe gỗ:

- Huynh thấy chưa? Huynh hy sinh một con mắt để chở tài lộc cho người ta, trời đất lại trả lại cho huynh một đứa con trai thông tuệ, tương lai rạng rỡ ở xưởng thuyền nhà quan. Đĩnh bạc này hãy dùng để sắm sửa hành trang, bút mực cho cháu nó vào nha môn học nghề. Đó chính là cái lý "nhân quả phân minh, cát khí tràn đầy" của Lỗ Ban môn.

Lưu Mộc Sinh nhìn Thẩm Mặc Đẩu, rồi nhìn sang đứa con trai đang hớn hở, nghẹn ngào chắp tay cúi lạy:

- Đa tạ lão ca đã khai thông mối nghi ngại trong lòng tôi! Đa tạ tổ sư Lỗ Ban đã soi xét lòng thành!

Người thợ cả cẩn thận đón lấy đĩnh bạc, giao cho con trai cất giữ.

Buổi trưa hôm ấy, gia đình họ Lưu thết đãi Thẩm Mặc Đẩu một bữa cơm đạm bạc nhưng ấm cúng bên mé sông với cá nướng tươi rói vừa bắt dưới bè và rượu nếp thơm lừng. Hai người thợ già cùng đàm đạo về các thế nhà, thế mộng, cách phân biệt các loại gỗ chìm gỗ nổi, và những quy tắc giữ mình nghiêm ngặt của người thợ mộc giang hồ.

Đến xế chiều, khi nắng vàng rải một lớp mật ong sóng sánh lên mặt nước sông Lạc Thủy, Thẩm Mặc Đẩu đứng dậy cáo từ.

Lão tìm một tảng đá phẳng dưới bóng cây liễu ven bến đò, ngồi xuống mở chiếc hòm đồ nghề gỗ đào. Cuốn sổ trấn vật bọc da thú được lão kính cẩn đặt lên mặt đá.

Lão lật mở trang giấy dó ban sáng.

Vết ẩm ướt hình vòng cung ban nãy đã lan rộng khắp mặt giấy, từng sợi xơ giấy nở bung ra tạo thành một bề mặt xốp mịn màng. Dưới ánh nắng chiều tà, chất mực đen nhờ nhờ từ dưới thớ giấy bắt đầu tự động kết tụ lại, uốn lượn thành từng nét chữ thảo cổ kính, bay bướm nhưng vô cùng sắc nét.

Thẩm Mặc Đẩu nín thở chăm chú nhìn từng nét chữ hiện hình mà không cần dùng đến đầu bút lông.

Tám chữ Hán màu đen nhánh từ từ nổi rõ trên nền giấy vàng sẫm, xếp thành hai dòng: Thuyền gỗ đón tài. Ân tình trả ân.

Ngay khi nét chữ cuối cùng vừa định hình xong, toàn bộ vệt ẩm ướt trên mặt giấy bỗng chốc bốc hơi biến mất. Mặt giấy dó khô ráo trở lại phẳng phiu như cũ, để lại tám chữ đen ngời ngời như đã được khắc sâu vào trong thớ giấy tự ngàn năm trước.

Thẩm Mặc Đẩu đưa ngón tay khô ráp vuốt nhẹ qua dòng chữ. Mùi mực tàu ngai ngái hòa lẫn với mùi giấy cũ và hương bùn sông bốc lên thoang thoảng. Lão khẽ gật đầu, trong lòng cảm thấy nhẹ nhõm vô cùng. Một vòng nhân quả cát tường đã được hóa giải trọn vẹn, không ai phải chịu nghiệp chướng oan uổng, người có ân được đền ơn, kẻ có lòng được hưởng phúc.

Lão mộc sư gấp cuốn sổ da thú lại, cẩn thận đặt vào ngăn dưới cùng của hòm đồ nghề, cài chặt then đồng.

Quẩy hòm gỗ lên vai, Thẩm Mặc Đẩu bước những bước chân chậm rãi nhưng vững chãi men theo con đường đá xanh tiếp tục hành trình hướng về phía đông. Nơi có những trấn lụa trù phú và những khu vườn cổ kính của vùng đất Giang Nam.

Xa xa sau lưng lão, trên dòng sông Lạc Thủy mênh mông, tiếng mái chèo khua nước róc rách nhịp nhàng xuôi dòng theo con nước lớn. Âm thanh êm ả và thanh thản như một khúc ca đưa tiễn người thợ già qua những dặm đường dài.

Thế nhưng, khi Thẩm Mặc Đẩu vừa bước qua khỏi chiếc cầu đá bắc ngang con rạch ranh giới của huyện, chiếc hòm đồ nghề sau lưng lão bỗng khẽ rung lên một nhịp rất nhẹ.

Lão dừng bước, đặt hòm gỗ xuống vệ đường mở nắp kiểm tra.

Cuốn sổ da thú vẫn nằm yên vị trong ngăn gỗ, nhưng từ khe mép của các trang giấy bên trong, một luồng khí lạnh buốt phả ra làm cóng cả đầu ngón tay lão. Thẩm Mặc Đẩu lật nhanh về trang giấy trắng cuối cùng của cuốn sổ.

Ở góc dưới cùng bên phải của trang giấy trắng tinh ấy, một vệt mực màu xám xịt, đen đặc quánh như bùn lầy đáy cống bỗng nhiên loang lổ xuất hiện. Vệt mực u ám ấy mang theo hình thù kỳ dị giống như một bàn tay người cụt ngón đang co quắp giơ lên, cùng với một mùi gỗ ẩm mốc nồng nặc đến nghẹt thở xộc thẳng vào khứu giác của lão mộc sư.

Chương khác

Xem thêm