Lỗ Ban Thuật: Yểm Thắng - Chương 22: Búa Đồng Và Đòn Phản Phệ Cuối Cùng

Mùi lá ngải cứu sao với rượu gừng xộc thẳng vào cánh mũi kéo tôi ra khỏi cơn mê man rã rời. Tôi mở mắt, thấy trần nhà bằng gỗ lim cao vút hiện ra mờ ảo…

Nội dung chương

Mùi lá ngải cứu sao với rượu gừng xộc thẳng vào cánh mũi kéo tôi ra khỏi cơn mê man rã rời.

Tôi mở mắt, thấy trần nhà bằng gỗ lim cao vút hiện ra mờ ảo sau làn khói thuốc nam. Ánh sáng xám đục của buổi sớm mai luồn qua những chấn song gỗ, rọi từng vệt dài lên nền gạch tàu loang lổ vết nước mưa. Toàn bộ lồng ngực tôi đau buốt như bị ai dùng chày sắt giã nát từng dóng xương sườn. Mỗi nhịp thở đều kéo theo một cơn quặn thắt khiến cuống họng tanh lợm vị máu đông.

Tôi vẫn còn sống.

- Tỉnh rồi đó hả cháu? Nằm yên, đừng cựa quậy, gãy mất hai nhánh xương sườn bên trái rồi.

Tiếng bà Tám Bến Tre vang lên bên tai, khàn đặc vì thức trọn đêm dài. Bà ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp sát cạnh bộ ván gõ, hai bàn tay gầy guộc đầy vết đồi mồi đang cẩn thận đắp một bọc vải nóng chứa đầy xác thuốc lên mạn sườn tôi. Hơi nóng rát kèm theo vị cay nồng của rượu thuốc ngấm qua da thịt, làm dịu đi cảm giác buốt lạnh đang đông cứng trong tủy sống.

Bên chân bộ ván, ông Bảy Hoài ngồi chồm hổm, tay cầm cây chổi đót cặm cụi quét những mảnh ngói vỡ và rác mục vương vãi trên nền nhà. Trên người ông, bộ quần áo bà ba ướt sũng dính đầy bùn đất vẫn chưa kịp thay. Nhìn thấy tôi chớp mắt, ông buông chổi, thở hắt ra một hơi dài nhẹ nhõm:

- Phước đức ông bà còn lớn lắm cậu Minh. Đêm qua cậu từ trên xà nóc rơi xuống trúng ngay cái rạp bạt che tạm bên dưới chái tiền đường rồi mới đập người xuống đống bao trấu tôi chất góc nhà. Chậm một gang tay rơi thẳng xuống nền đá ong thì giờ này tôi với bà Tám chỉ có nước đi mua quan tài.

Tôi nuốt búng nước bọt đắng ngắt, cố cử động những ngón tay run rẩy đưa lên sờ vào ngực áo. Chiếc áo sơ mi đắt tiền đã bị xé toạc từ lúc nào. Dưới lớp vải rách nát, ngay giữa xương ức của tôi, một vết sẹo lớn hằn sâu vào da thịt.

Vết sẹo đen kịt, cháy sém như bị sắt nung dí thẳng vào người. Những đường gân sẹo nổi cộm lên, đan chéo vào nhau chằng chịt, uốn lượn theo đúng hình dáng của những sợi chỉ ngũ sắc từng quấn quanh cỗ quan tài gỗ vàng tâm. Tôi sờ tay vào vết tích ấy, cảm nhận được từng thớ da thịt cứng đờ, mất hẳn cảm giác tiếp xúc thông thường.

Đó là dấu ấn của đòn phản phệ. Thứ tà thuật tích tụ suốt một trăm năm qua khi phát nổ đã găm thẳng vào thân thể của kẻ mang dòng máu trực hệ nhà họ Lê.

Tôi chống một tay xuống mặt ván gõ, nghiến chặt răng nén cơn đau buốt óc để gượng ngồi dậy. Bà Tám toan đưa tay giữ tôi lại, nhưng nhìn thấy ánh mắt cương quyết của tôi, bà khẽ thở dài rồi buông tay ra.

Không gian ngôi nhà trăm cột lúc này hoàn toàn đổi khác.

Cơn giông bão kinh hoàng đêm qua đã dứt hẳn. Bên ngoài sân gạch, mưa chỉ còn rơi rả rích từng giọt đục ngầu nhỏ xuống từ tàn lá của cây đa cổ thụ hai trăm năm tuổi. Tiếng sóng vỗ ì oạp từ bờ sông Tiền vọng vào nghe trầm buồn, tĩnh mịch.

Tôi ngước mắt nhìn lên hàng chục cây cột lim to lớn đang chống đỡ mái nhà.

Những vệt máu đỏ quạch từng tuôn trào ròng ròng từ các khớp mộng đêm qua nay đã khô cong lại, chuyển thành một lớp vảy màu nâu đen xỉn như gỉ sắt. Không còn mùi hôi thối nồng nặc của tử khí xộc lên mũi. Khoảng trống đen ngòm trên thân cây đòn dông xà nóc nay trơ trọi một hốc gỗ rỗng không, chung quanh bám đầy muội than đen sì sau khi cỗ quan tài vàng tâm bị búa đồng đập nát vụn.

Bóng đen thợ mộc ngồi vắt vẻo trên xà suốt bao nhiêu năm qua đã biến mất. Cái lạnh âm u từng đè nặng lên từng tấc đất, từng viên ngói âm dương của cơ ngơi hai ngàn năm trăm mét vuông này cũng hoàn toàn tan biến theo màn mưa bão.

Bà Tám Bến Tre nhổ toẹt một bãi nước trầu vào chiếc ống nhổ bằng đồng dưới chân, cất giọng trầm trầm:

- Cỗ quan tài gỗ vàng tâm chứa mảnh xương ngón tay đứa trẻ đã hóa tro ráo trọi. Mày dùng búa đồng phá hộc mộng, coi như chặt đứt gốc rễ của Trùng tang yểm. Nhưng Khải Minh à, bùa ngải Lỗ Ban không tự nhiên sinh ra, cũng không tự nhiên mất đi đâu con. Mày cứu được cái mạng của mày, đập tan cái bẫy chết người trên xà nóc, nhưng món nợ máu của đời trước thì dòng họ mày vẫn phải trả giá bằng chính vết thẹo cháy da trên ngực mày đó. Suốt đời này, cứ mỗi bận trời trở gió hay mưa dầm, vết sẹo ngũ sắc đó sẽ nhức nhối thấu tận tim gan để nhắc mày nhớ về tội ác của tiền nhân.

Tôi cúi đầu nhìn vết sẹo rợn người trên lồng ngực mình, không thốt ra được một lời nào.

Từng thớ thịt giần giật đau đớn như một bản án vô hình khắc sâu vào thân thể. Những kiến thức kinh tế học hiện đại, những bản kế hoạch tài chính từng học tại Stanford, những con số triệu đô và tham vọng biến ngôi nhà cổ thành khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp bỗng chốc trở nên trơ trẽn, nực cười trước sự thật trần trụi của nghiệp báo.

Cụ tổ Lê Văn Thừa năm xưa xây dựng nên cơ ngơi lộng lẫy bề thế bậc nhất vùng sông Tiền này không phải bằng sự thanh sạch. Cụ xây nó bằng mồ hôi nước mắt bị bóc lột của những người thợ mộc nghèo khổ, bằng sự quỵt bợm tiền công, và bằng cả mạng sống của một đứa trẻ vô tội bị đánh chết tức tưởi dưới chân rường cột. Cái cơ ngơi nguy nga trăm cột lim này từng là niềm tự hào của dòng tộc họ Lê, hóa ra lại được dựng lên trên nền móng của một tội ác rùng rợn.

Tôi vịn vào vai ông Bảy Hoài, cố nén cơn đau xé rách xương sườn, khó nhọc bước từng bước về phía gian giữa.

Trên bàn thờ tổ tiên bằng gỗ mun đen nhánh, bức chân dung vẽ bằng sơn dầu của cụ tổ Lê Văn Thừa vẫn ngự trị ở vị trí cao nhất. Trong tranh, cụ tổ mặc áo thụng đen, tay cầm tẩu thuốc, đôi mắt sắc lẹm nhìn thẳng ra phía cửa chính với vẻ uy nghiêm, quyền thế tột bậc.

Tôi đứng trước di ảnh người khai sinh ra dòng tộc mình, hai chân run rẩy rồi từ từ quỳ rạp xuống nền gạch tàu lạnh ngắt.

Hơi lạnh từ lòng đất đá ong bốc lên thấm qua đầu gối. Tôi run run rút ba nén nhang trầm trên bàn thờ, châm lửa rồi cắm vào chiếc lư đồng cổ. Mùi trầm hương tỏa ra ngạt ngào, hòa cùng mùi tanh nồng của vết thương trên ngực tôi.

- Con cháu đời sau bất tiếu, Lê Khải Minh... cúi đầu tạ tội trước vong linh những người đã khuất.

Tiếng tôi thốt ra nghẹn đặc nơi cổ họng. Tôi dập đầu ba lạy xuống nền gạch, trán va mạnh vào mặt đá phát ra những tiếng cộp khô khốc.

Nước mắt mặn chát rỉ ra từ khóe mi, nhỏ xuống hòa cùng lớp bụi tro gỗ lim còn vương trên nền đất. Suốt ba mươi hai năm cuộc đời, tôi sống trong nhung lụa và sự tự tôn của một kẻ trí thức thành đạt, luôn tin rằng đồng tiền và trí tuệ phương Tây có thể giải quyết mọi thứ trên đời. Giờ đây, quỳ dưới chân hàng cột rỉ máu, tôi mới thấm thía cái giá kinh hoàng của sự ngạo mạn. Danh gia vọng tộc, tiền tài bạc vạn tích lũy từ sự tàn nhẫn cuối cùng chỉ để lại một khối oan hồn và sự lụi bại dần mòn qua bốn thế hệ.

Bà Tám Bến Tre đứng tựa lưng vào cây cột cái, đưa mắt nhìn tôi quỳ lạy, khẽ gật đầu:

- Biết quỳ xuống nhận tội là còn đường sống. Đất này sông này có mắt cả. Đêm qua nếu mày không liều mạng trèo lên chịu một đòn phản phệ của thợ cả Phan Văn Sáu, thì cái chết của mày sẽ là cái chết thứ tư để hoàn tất Trùng tang yểm. Nghiệp chướng đời trước, tới đời mày coi như dứt điểm một phần. Nhưng phần còn lại, mày tính liệu mần sao với ngôi nhà này?

Tôi chống tay lên gối, nặng nhọc đứng dậy. Tôi nhìn quanh không gian rộng lớn của ngôi nhà trăm cột. Mái ngói âm dương đã thủng một mảng lớn sau trận cuồng phong đêm qua, để lộ khoảng trời xám xịt của vùng đồng bằng.

Bên ngoài cổng lớn chạm rồng phượng, có tiếng bước chân lẹp xẹp giẫm trên nền đất ướt.

Sáu Khảm xuất hiện ở ngưỡng cửa.

Người thợ mộc cuối cùng của dòng họ Phan vẫn mặc bộ quần áo bà ba đen sờn cũ, trên tay xách một chiếc giỏ đan bằng tre. Khuôn mặt gầy gò sạm nắng của anh ta đanh lại khi nhìn thấy bãi chiến trường ngổn ngang giữa gian tiền đường. Đôi mắt sau tròng kính bản nhỏ dừng lại thật lâu trên vết rỉ máu khô khốc nơi khớp mộng đòn dông, rồi chuyển sang vết sẹo đen kịt hình sợi chỉ ngũ sắc trước ngực tôi.

Bốn mắt nhìn nhau giữa khoảng không gian tĩnh mịch của ngôi nhà cổ.

Không có sự giận dữ, cũng không có sự hận thù điên dại như hôm gặp nhau trong căn chòi lá ven rạch. Ánh mắt Sáu Khảm trĩu nặng một nỗi bi ai kéo dài cả thế kỷ.

Sáu Khảm chậm rãi bước qua bậu cửa gỗ lim, đi thẳng tới trước mặt tôi. Anh ta đặt chiếc giỏ tre xuống nền gạch tàu. Bên trong giỏ là một chiếc đục sắt cổ xưa đã rỉ sét và một chiếc bào gỗ bị mẻ góc - những di vật còn sót lại của người thợ cả Phan Văn Sáu truyền qua bốn đời.

- Cậu Minh đã tự tay phá bùa. - Sáu Khảm cất giọng, âm sắc đều đều nhưng ẩn chứa sự chấn động sâu xa. - Đòn phản phệ Lỗ Ban không lấy mạng cậu, nghĩa là ông cố tôi đã thu hồi lại lời nguyền. Nghiệp của tổ tiên tôi mượn tà thuật hại người, tới hôm nay cũng chấm dứt.

Tôi nhìn thẳng vào người đàn ông trước mặt, cúi gập người thật sâu:

- Anh Sáu, tôi thay mặt dòng họ Lê, xin anh một lời tha thứ. Mạng con trai của cụ Phan năm xưa, họ Lê nợ họ Phan một kiếp người.

Sáu Khảm khẽ rùng mình. Anh ta lùi lại nửa bước, nhìn tôi thật lâu rồi lắc đầu, giọng nói nghẹn ngào:

- Tha thứ hay không, chuyện đó để người dưới đất phán xét. Ông cố tôi vì uất hận mà dùng thuật yểm, dòng họ tôi bốn đời cũng chẳng ai ngóc đầu lên nổi, đàn ông chết yểu, nghề mộc mai một dần tới đời tôi là tuyệt tự. Oán thù chất chồng trăm năm, ai đúng ai sai, trời cao đã định đoạt hết trong đêm mưa gió vừa rồi.

Tôi quay sang bàn làm việc ở góc phòng khách, nơi tập hồ sơ dự án khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp ven sông Tiền vẫn nằm im lìm dưới ánh đèn bàn. Đó là dự án tôi từng dành ròng rã nửa năm trời để lập kế hoạch, huy động vốn đầu tư mười lăm triệu đô la từ các quỹ đầu tư mạo hiểm bên Mỹ, dự định biến ngôi nhà trăm cột thành một quần thể biệt thự nghỉ dưỡng xa hoa, biến mảnh đất đầy máu và nước mắt này thành cỗ máy in tiền.

Tôi cầm tập hồ sơ dày cộp lên, lật giở từng trang bản vẽ thiết kế mặt bằng, nơi những căn nhà gỗ lim cổ kính bị biến tấu thành quầy bar, phòng spa sang trọng.

Dưới sự chứng kiến của bà Tám Bến Tre, ông Bảy Hoài và Sáu Khảm, tôi cầm cây bút máy ký tên vào góc bản thanh lý hợp đồng.

Rẹt!

Tôi dùng hai tay xé toạc tập tài liệu làm đôi, rồi làm tư. Những mảnh giấy trắng in số liệu kinh tế bay lả tả xuống nền gạch tàu ướt át.

- Cậu Minh... cậu làm cái gì vậy? - Ông Bảy Hoài hoảng hốt thốt lên. - Dự án tiền muôn bạc biển của cậu bên Tây mà...

- Không có dự án nào ở đây nữa hết, chú Bảy. - Tôi đáp, giọng bình thản đến lạ kỳ dù vết thương nơi ngực vẫn nhói đau từng cơn. - Mảnh đất này ngấm quá nhiều máu và oán hận. Biến nó thành nơi vui chơi, hưởng lạc của giới nhà giàu là một tội ác tiếp nối. Tôi sẽ ký quyết định hủy bỏ vĩnh viễn dự án này. Tiền đền bù hợp đồng cho các quỹ đầu tư bên Mỹ, tôi sẽ tự gánh vác.

Tôi quay sang nhìn Sáu Khảm, nói tiếp bằng tất cả sự chân thành:

- Tôi muốn nhờ anh Sáu giúp tôi một việc cuối cùng. Tôi muốn lập một tấm văn bia sám hối bằng đá sa thạch đặt ngay dưới gốc cây đa cổ thụ trước sân. Trên tấm bia đó, sẽ khắc rõ ràng danh tính của em trai ông nội anh, người thợ phụ mười lăm tuổi đã ngã xuống khi ngôi nhà này cất nóc năm 1902. Tôi muốn con cháu họ Lê đời đời khi bước qua cánh cổng này đều phải cúi đầu tưởng niệm người đã khuất.

Sáu Khảm đứng chôn chân tại chỗ. Đôi bàn tay gân guốc của người thợ mộc run bần bật. Hai giọt nước mắt lăn dài trên gò má sạm nắng của người đàn ông bốn mươi lăm tuổi. Anh ta gạt phắt giọt lệ, nhìn sâu vào mắt tôi rồi khẽ gật đầu:

- Được. Tấm bia đó... đích thân tôi sẽ đục từng nét chữ.

Ba ngày sau.

Nắng vàng hanh hao của vùng sông nước miền Tây trải dài trên dòng sông Tiền cuồn cuộn phù sa.

Một chiếc xe tải nhỏ chở phiến đá sa thạch xám từ Bến Tre sang đã dừng trước cổng lớn. Sáu Khảm mang theo đồ nghề thợ mộc, tỉ mẩn ngồi suốt hai ngày dưới bóng râm của cây đa hai trăm năm tuổi, dùng từng nhát búa, mũi đục khắc sâu từng dòng chữ chữ Nôm pha lẫn chữ quốc ngữ:

*“Văn bia sám hối - Tưởng niệm linh hồn thợ phụ Phan Văn Lộc, tạ thế ngày khởi dựng năm Nhâm Dần 1902. Dòng họ Lê đời đời ghi nhớ tội lỗi tiền nhân.”*

Khi nhát đục cuối cùng hoàn tất, Sáu Khảm lặng lẽ thu dọn đồ nghề vào chiếc giỏ tre. Anh ta không nói thêm một lời nào, chỉ khẽ nghiêng mình chào tôi rồi bước qua cây cầu khỉ bắc qua con rạch nhỏ, bóng dáng gầy guộc chìm dần vào rặng dừa nước bạt ngàn của miền Tây.

Bà Tám Bến Tre cũng khăn gói chuẩn bị rời đi. Chiếc áo bà ba nâu sòng của bà phấp phới trong ngọn gió chướng thổi từ mặt sông vào.

Trước khi bước lên chiếc đò ngang, bà Tám dừng lại, quay đầu nhìn tôi. Đôi mắt tinh lanh của người đàn bà bảy mươi tám tuổi nhìn thấu tâm can kẻ đối diện:

- Mày trả được nợ máu, giải được oán thù, đó là cái phước lớn của mày. Nhưng ngôi nhà trăm cột này đã cạn kiệt sinh khí sau trận phản phệ. Đòn dông đã gãy long mạch, cột lim đã ngấm tử khí, không còn là nơi cho người sống nương náu được nữa. Mày tính đi hay ở?

- Cháu sẽ quay về Mỹ chữa trị vết thương và giải quyết nợ nần tài chính, bà Tám à. - Tôi nhìn về phía ngôi nhà cổ bề thế, khẽ mỉm cười cay đắng. - Nơi này không thuộc về thế giới kinh doanh của cháu nữa.

- Tốt. Đi đi con. Khép cánh cổng lại, để cho đất trời và dòng sông Tiền vỗ về những vong linh đã khuất. Đừng bao giờ để ai bước vào quấy rầy sự yên nghỉ này nữa.

Bà Tám bước xuống đò. Chiếc đò máy nổ giòn giã, rẽ sóng đưa bà xuôi dòng nước đỏ nặng phù sa về phía cù lao Bến Tre.

Tôi đứng lại bên bờ rạch một mình, nhìn theo chiếc đò cho đến khi nó chỉ còn là một chấm nhỏ giữa mênh mông sông nước.

Buổi chiều buông xuống rất nhanh trên cù lao. Gió sông Tiền thổi lồng lộng qua những hàng dừa nước, mang theo hơi ẩm nồng nàn của đất mẹ miền Tây.

Tôi cùng ông Bảy Hoài đi một vòng kiểm tra lại toàn bộ ngôi nhà trăm cột. Những mảng ngói âm dương vỡ đã được ông Bảy lợp lại bằng ngói mới để che mưa nắng, nhưng bên trong, toàn bộ bàn ghế, tủ chè, giường thờ đều được phủ kín bằng những tấm vải bạt màu trắng ngà. Không gian tĩnh lặng như một lăng tẩm cổ xưa chìm sâu vào giấc ngủ trăm năm.

Tôi bước ra khỏi bậc thềm đá ong, đứng giữa sân gạch tàu nhìn lên tấm văn bia sám hối vừa dựng dưới gốc đa. Khói nhang trầm vẫn nghi ngút bay lên, quyện vào tàn lá xum xuê của cây cổ thụ.

Không còn tiếng gầm rú the thé của oan hồn, không còn bóng đen quái đản ngồi nhìn xuống từ xà nóc, cũng không còn những dòng dịch đỏ rỉ ra từ khớp mộng. Ngôi nhà trăm cột giờ đây đứng sừng sững giữa trời chiều, trầm mặc và cô độc như một chứng nhân già nua cho những thăng trầm, tội ác và sự chuộc lỗi của một thời thuộc địa xa xôi.

Tôi bước ra khỏi cổng lớn chạm khắc rồng phượng.

Cùng với ông Bảy Hoài, tôi nắm lấy hai cánh cửa bằng gỗ lim nặng hàng trăm ký, từ từ kéo lại. Tiếng bản lề gỗ rít lên những âm thanh ken két khô khốc vang vọng khắp xóm nhỏ ven sông.

Cạch!

Hai cánh cửa lim khép chặt lại vào nhau, che khuất hoàn toàn khoảng sân gạch tàu và ngôi nhà trăm cột bên trong.

Tôi nhấc sợi dây xích sắt to bản quấn ba vòng qua hai tay nắm cửa bằng đồng, rồi dùng chiếc ổ khóa sắt nặng trịch bấm mạnh một tiếng "tách".

Tôi tra chìa khóa vào túi áo, quay lưng bước về phía chiếc xe hơi đang đợi sẵn bên rẫy dừa. Đằng sau lưng tôi, ngôi nhà cổ của cụ tổ Lê Văn Thừa vĩnh viễn khép kín cánh cửa gỗ lim bên bờ sông Tiền, bỏ lại sau lưng mọi tham vọng hào nhoáng của trần thế, để mặc cho thời gian và dòng phù sa sông nước miền Tây từ từ chôn vùi một kiếp nghiệp báo đau thương.

Chương khác

Xem thêm