Lỗ Ban Thuật: Yểm Thắng - Chương 19: Sáu Khảm Kiên Quyết Từ Chối Giải Bùa

Tiếng cười man dại của Sáu Khảm dội vào vách lá, va đập chát chúa giữa những cỗ quan tài đen sì đang xếp thành hàng dài bên trong căn chòi. Mùi gỗ tươi…

Nội dung chương

Tiếng cười man dại của Sáu Khảm dội vào vách lá, va đập chát chúa giữa những cỗ quan tài đen sì đang xếp thành hàng dài bên trong căn chòi. Mùi gỗ tươi ẩm mốc bốc lên nồng nặc quyện chặt với mùi sơn ta ngai ngái, xộc thẳng vào cuống họng làm tôi nghẹn đắng. Lưỡi rìu thợ mộc cắm phập trên mặt bàn vẫn run lên từng hồi bần bật, ánh thép xám xịt phản chiếu đôi mắt rực lửa căm hờn của người đàn ông cụt ngón.

Lồng ngực tôi thắt lại dữ dội. Cơn co thắt từ cuống phổi trào ngược lên cổ họng, mang theo vị tanh nồng quen thuộc xé rách khí quản. Tôi ôm chặt lấy ngực, gập người xuống mép bàn gỗ xà cừ.

Khẹc!

Một búng máu đen thẫm bắn tung tóe xuống lớp phoi bào mục rữa dưới chân tôi. Những sợi máu vón cục sẫm màu như bồ hóng bám chặt vào từng thớ gỗ vụn, tanh tưởi và lạnh toát. Cơn đau chạy dọc sống lưng, buốt nhức tận tủy sống, giống như có ai đó dùng những chiếc đinh gỉ đóng thẳng vào khớp xương đòn dông trong cơ thể tôi. Lời nguyền Trùng tang đang siết chặt lấy từng nhịp thở cuối cùng. Thời hạn ba ngày đã cạn, và mỗi giọt máu rơi xuống lúc này chính là từng tấc sinh mạng của tôi đang bị con quỷ gỗ trên xà nóc rút cạn.

Bà Tám Bến Tre bước vội lên một bước, bàn tay gầy guộc nắm lấy bả vai tôi giữ cho tôi khỏi ngã gục. Gương mặt nhăn nheo của bà xám ngắt dưới ánh đèn dầu.

- Khải Minh, ráng giữ hơi thở! Âm khí của đất trại hòm đang thúc máu độc phát tác đó!

Tôi thở hắt ra từng hơi đứt quãng, mắt hoa lên vì thiếu dưỡng khí. Tôi nhìn thẳng vào Sáu Khảm. Gã thợ mộc vẫn đứng sừng sững bên kia bàn, bàn tay trái dị dạng giấu sau lưng áo, còn bàn tay phải gân guốc vẫn nắm hờ lấy cán rìu. Đôi mắt sau tròng kính bản nhỏ nhìn búng máu đen dưới chân tôi với vẻ khoái trá tột độ, không hề có lấy một tia lay động hay xót thương. Đối với gã, từng giọt máu tôi khạc ra chính là chén rượu mừng mà dòng họ Phan chờ đợi suốt một thế kỷ.

Mọi lý lẽ, mọi kiến thức quản trị kinh doanh hay những bài học đàm phán tại Stanford mà tôi từng tôn sùng bấy lâu nay bỗng chốc trở nên vô nghĩa trước vực thẳm thù hận này. Tiền bạc, hợp đồng, logic thị trường hoàn toàn bất lực trước món nợ máu tích tụ qua bốn thế hệ. Nhưng tôi không thể chết ở đây. Tôi là đứa con duy nhất còn lại của nhánh họ Lê, nếu tôi gục ngã, ngôi nhà trăm cột và toàn bộ sinh mạng gia tộc sẽ bị chôn vùi vĩnh viễn trong tà thuật Lỗ Ban.

Tôi cắn chặt răng, nén cơn đau xé ruột, từ từ quỳ rạp hai đầu gối xuống nền đất bồi ẩm ướt.

Bùn đất lạnh ngắt ngấm qua lớp vải quần âu đắt tiền, dính chặt vào da thịt tôi. Tôi cúi rạp đầu xuống đống mùn cưa và phoi bào, hai bàn tay run rẩy chống xuống mặt đất nhớp nháp. Một doanh nhân từng đứng trên bục giảng thuyết trình trước hàng trăm nhà đầu tư quốc tế, giờ đây phủ phục dưới chân một gã thợ đóng hòm ven rạch hoang vu.

- Chú Sáu... - Giọng tôi khàn đặc, lẫn trong tiếng thở dốc nặng nề. - Tôi quỳ ở đây không phải để chối bỏ tội ác của ông cố tôi. Cụ tổ Lê Văn Thừa năm xưa tàn độc, đánh chết con trai cụ thợ cả Phan Văn Sáu, quỵt đi mồ hôi nước mắt của cả phường thợ. Tội nghiệt đó tày trời, con cháu họ Lê xin nhận hết.

Sáu Khảm nhếch mép, phát ra một tiếng cười khẩy khô khốc từ trong cuống họng:

- Nhận? Mày lấy cái thây ma sắp rữa của mày ra để nhận món nợ một mạng người và nỗi nhục nhã của cả dòng họ tao sao? Rẻ rúng quá vậy cậu ấm họ Lê?

Tôi ngẩng đầu lên, cố gượng giữ cho ánh mắt mình thẳng thắn nhìn vào mặt gã:

- Tôi biết mạng người không thể đền bằng lời nói suông. Dự án nghỉ dưỡng sinh thái bên sông Tiền, toàn bộ diện tích hai công rưỡi đất đai cùng ngôi nhà trăm cột bằng gỗ lim, tôi xin chuyển nhượng toàn bộ quyền sở hữu sang tên chú. Cả tài khoản đầu tư năm mươi tỷ đồng tôi vừa chuyển về từ Mỹ, tôi ký giấy ủy quyền vô điều kiện cho chú ngay đêm nay. Chú muốn phá ngôi nhà, muốn biến nó thành đền thờ của dòng họ Phan, hay muốn bán lấy tiền chia cho con cháu thợ mộc vùng này, tôi đều chấp thuận. Tôi chỉ cầu xin chú ra tay gỡ bỏ cỗ quan tài vàng tâm trên xà nóc, tha cho một mạng sống cuối cùng của tôi!

Lời van nài của tôi vang lên rành rọt giữa gian chòi lá, mang theo tất cả sự khẩn thiết của một kẻ đang bên bờ vực cái chết. Tôi tin rằng năm mươi tỷ đồng và cơ ngơi đồ sộ ven sông Tiền đủ sức làm lung lay bất kỳ ai sống trong cảnh bần hàn nơi chòi lá rách nát này.

Nhưng đáp lại lời tôi, Sáu Khảm chỉ đứng im, khóe miệng giật giật tạo thành một nụ cười méo mó đến rợn người.

Gã chậm rãi bước vòng qua chiếc bàn xà cừ, từng bước chân trần nện êm ru trên nền đất bồi. Gã dừng lại ngay trước mặt tôi, cúi thấp người xuống. Gương mặt xương xẩu sạm nắng của gã dí sát vào mắt tôi, nồng nặc mùi thuốc rê khét lẹt:

- Năm mươi tỷ? Cả cái dinh cơ trăm cột đồ sộ ven sông Tiền? Mày tưởng mấy tờ giấy bạc của mày mua được linh hồn người chết hả thằng ranh con?

Bốp!

Sáu Khảm vung tay tát thẳng vào mặt tôi một cú trời giáng. Cú đánh làm đầu tôi ngoẹo sang một bên, khóe môi rách toạc rỉ máu tươi. Chiếc kính cận của tôi văng ra xa, rơi tõm vào một vũng nước bùn đen ngòm cạnh chân cột tràm.

- Khảm! Mày làm cái trò gì vậy! - Bà Tám Bến Tre giận dữ quát lên, toan xông lại giữ tay gã.

Nhưng Sáu Khảm không thèm nhìn bà lão. Gã trỏ bàn tay chỉ còn ba ngón vào mặt tôi, giọng gằn từng tiếng như rít qua kẽ răng:

- Cố nội tao năm xưa nhận xây cái nhà đó, ròng rã ba năm trời ăn bờ ngủ bụi, vắt kiệt từng giọt mồ hôi để đục từng mộng gỗ lim cho dòng họ mày hưởng thụ vinh hoa phú quý. Bác tao lúc chết mới mười bốn tuổi! Thằng nhỏ còn chưa kịp biết mùi đàn bà, chưa kịp nhìn thấy mặt mũi tờ giấy bạc năm đồng thời Pháp thuộc nó tròn méo ra sao! Nó bị trói sống vào gốc đa, bị lão già Thừa quất roi gãy nát xương sườn, miệng trào máu tươi van xin tha mạng suốt một ngày một đêm cho tới khi tắt thở. Lúc tao hạ huyệt, xương lưng thằng nhỏ gãy vụn thành ba khúc!

Ngực Sáu Khảm phập phồng dữ dội dưới lớp áo bà ba rách rưới. Gã chỉ tay lên bàn thờ họ Phan đặt ở gian giữa, nơi đặt bài vị bằng gỗ trắc đen nhánh bám đầy mạng nhện:

- Mày nghĩ họ Phan tao nghèo hèn vì thiếu tiền của dòng họ Lê mày hả? Cố nội tao trước khi nhắm mắt đã nuốt một nắm đinh sắt vào bụng, tự rạch nát cổ tay lấy máu lập lời thề trước bàn thờ tổ nghề Lỗ Ban: Đời đời kiếp kiếp họ Phan chấp nhận sống cảnh cơ hàn, chấp nhận chịu nghiệp ngũ hư tam tật, tuyệt tử tuyệt tôn, chỉ để đổi lấy ngày dòng họ Lê các người chết không có đất chôn! Tiền của mày mang về mà mua vàng mã đốt cho cái xác của chính mày đi!

Bà Tám Bến Tre đứng phía sau run rẩy lần tràng hạt, giọng bà chùng xuống mang theo sự đau xót và nghiêm khắc của một bậc cao niên vùng sông nước:

- Khảm à, thù oán trăm năm như dây leo quấn cây cổ thụ, càng siết chặt thì cả hai bên đều phải chết khô. Cố nội mày dùng tà thuật Trùng tang yểm vào đòn dông, gieo cái chết cho con cháu họ Lê, nhưng bản thân họ Phan tụi mày cũng có sống yên thân đâu? Nhìn lại mày đi! Bốn mươi lăm tuổi đầu, tay cụt hai ngón, vợ con không có, sống thui thủi một mình giữa bãi tha ma trại hòm này. Dòng họ Phan tới đời mày là dứt cội rồi! Mày cam tâm để tổ tiên mày tuyệt tự chỉ vì một cái hận thù của người chết từ thế kỷ trước sao?

Sáu Khảm quay phắt lại nhìn bà Tám. Đôi mắt gã đỏ quạnh như mắt thú dữ bị dồn vào chân tường:

- Tuyệt tự thì sao? Bà Tám, bà làm nghề phong thủy cả đời, bà hiểu luật trời mà! Nợ máu phải trả bằng máu! Dòng họ Phan tao có chết sạch thì dưới suối vàng cũng ngẩng cao đầu nói với cố nội tao rằng lũ súc sinh họ Lê đã đền tội! Tha thứ hả? Ai tha thứ cho cái xác mười bốn tuổi bị vùi dưới gốc đa năm đó? Ai trả lại công bằng cho đoàn thợ mộc bị đuổi cùng giết tận năm xưa?

Nói đoạn, Sáu Khảm xoay người bước nhanh về phía chiếc rương gỗ lim đen bóng đặt sát góc chòi. Gã mở toang nắp rương, lôi ra một chiếc hộp thiếc rỉ sét loang lổ.

Gã mở nắp hộp, rút ra một tập giấy ố vàng đã cháy sém mất một góc. Từng trang giấy mỏng manh giòn rụm được buộc lại bằng một sợi dây chuối khô. Sáu Khảm bước giậm chân trở lại bàn, ném mạnh tập giấy xuống trước mặt tôi.

Xoạt!

Tập giấy trượt trên đống mùn cưa, dừng lại ngay sát tầm mắt tôi. Trên bìa cuốn sổ đóng bằng chỉ tàu thô sơ, những dòng chữ Nho viết bằng mực tàu pha chu sa đỏ thẫm hiện rõ mồn một. Đó là cuốn gia phả chép tay của nhánh thợ mộc Phan Văn Sáu, ghi lại toàn bộ nhật ký dựng nhà và những biến cố kinh hoàng năm xưa.

Sáu Khảm thọc ngón tay trỏ thô ráp vào trang giấy cuối cùng đang mở toang, gằn giọng:

- Mày mở to hai con mắt của mày ra mà nhìn! Nhìn cho kỹ cái ngày định mệnh này!

Tôi run rẩy đưa tay lật nhẹ mép giấy ố vàng. Dòng chữ Hán xen lẫn chữ quốc ngữ thời kỳ đầu được ghi chép rõ ràng bằng nét bút sắc nhọn như dao khắc:

"Ngày rằm tháng Tám năm Giáp Dần (1914), đứa con phụ việc Phan Văn Hợi bị Lê gia đánh chết oan khốc nơi gốc đa sân trước. Khí uất nghẹn trời, huyết hải nan đào. Nay táng cỗ quan tài vàng tâm vào khớp mộng đòn dông, kết tóc người chết làm bùa Trùng tang. Hẹn đúng một trăm năm sau, ngày rằm tháng Tám năm Giáp Ngọ, oán khí đại thành, Lê tộc tuyệt diệt, huyết tận tủy khô."

Đầu óc tôi nổ tung như vừa bị một quả bom đánh trúng.

Rằm tháng Tám năm Giáp Dần đến rằm tháng Tám năm nay. Tròn đúng một trăm năm.

Hôm nay chính là ngày rằm tháng Tám âm lịch.

Đêm nay chính là đêm hạn chót một trăm năm tròn trĩnh mà cố nội của Sáu Khảm đã định sẵn từ năm 1914. Toàn bộ chuỗi ngày ho ra máu của tôi, bóng đen ngồi vắt vẻo trên xà nóc lim, giấc mơ thấy người đàn bà quỳ lạy dưới gốc đa, tất cả đều đang hội tụ vào đúng canh ba đêm nay. Không phải ngẫu nhiên mà tôi bị thôi thúc trở về Việt Nam tiếp quản căn nhà cổ trong tháng này. Tà thuật đã vận hành theo chu kỳ một thế kỷ của nó, kéo tôi về đúng nơi chôn nhau cắt rốn để hoàn tất nghi thức tận diệt dòng họ.

Uỳnh!

Một tiếng sấm rền vang rạch ngang bầu trời đêm bên ngoài mé rạch. Âm thanh trầm đục dội qua mặt nước sông Tiền, làm rung chuyển cả những cây cột tràm trong căn chòi lá.

Gió bấc đột ngột nổi lên cuồn cuộn, giật tung từng mảng lá dừa nước trên mái chòi rách nát. Không khí bỗng chốc trở nên ẩm ướt, lạnh buốt đến thấu xương. Mùi hơi nước bốc lên từ lòng rạch mang theo hơi thở tanh nồng của bùn sình đáy sông. Qua khe liếp hở, tôi nhìn thấy những đám mây đen kịt nặng trĩu đang cuồn cuộn đổ về từ phía thượng nguồn, nuốt chửng toàn bộ ánh trăng mờ nhạt.

Một cơn giông lớn chưa từng thấy đang kéo đến phủ kín toàn bộ vùng đất cù lao ven sông Tiền.

Sáu Khảm ngước mặt lên nhìn qua kẽ lá rách trên mái chòi, lắng nghe tiếng sấm rền gầm rú ngoài trời. Gã hít một hơi thật sâu làn gió ẩm ướt, rồi bật ra một tràng cười khoái trá đến rợn gáy:

- Trời nổi giông rồi! Mây đen kéo từ thượng nguồn về bao trùm sông Tiền rồi! Chu kỳ một trăm năm đã đến lúc khép lại. Đêm nay, khi sấm sét đánh qua đòn dông nhà trăm cột, cỗ quan tài vàng tâm sẽ hút cạn giọt tủy cuối cùng của đứa cháu đích tôn họ Lê. Mối thù của tổ tiên tao sắp được rửa sạch bằng máu của mày rồi!

Bà Tám Bến Tre nhìn mây đen vần vũ ngoài trời, sắc mặt bà biến đổi hoàn toàn. Bà giật lấy chiếc giỏ tre đựng cỗ quan tài nhỏ trên bàn, nắm chặt lấy cổ tay tôi giật mạnh:

- Khải Minh! Đứng dậy! Đi ngay!

Tôi lảo đảo đứng dậy, toàn thân rã rời, hai chân run rẩy không còn chút sức lực. Búng máu vừa nôn ra làm cổ họng tôi khô rát, nhưng sự tuyệt vọng trong lồng ngực còn đáng sợ hơn cả nỗi đau thể xác. Lời từ chối đanh thép của Sáu Khảm cùng cuốn gia phả một trăm năm đã chặt đứt con đường sống duy nhất mà tôi từng hy vọng. Tiền tài, quyền lực, sự nhún nhường, tất cả đều tan tành trước bức tường thù hận bằng sắt đá.

Sáu Khảm bước giật lùi lại cạnh bàn thờ tổ họ Phan, hai tay gã khoanh trước ngực, đôi mắt lóe lên những tia nhìn lạnh buốt tiễn biệt:

- Cút đi! Về lại cái nhà trăm cột mà chờ chết đi! Đêm nay, dù mày có chạy trốn sang tận chân trời góc biển, oán hồn của bác tao trên đòn dông cũng sẽ tìm đến bẻ gãy từng đốt xương của mày! Cút!

Bà Tám kéo mạnh tôi lùi ra mé cửa chòi lá.

Gió ngoài rạch lúc này đã thổi rát rạt qua rặng dừa nước, quất những hạt mưa đầu mùa lạnh buốt vào mặt chúng tôi. Chiếc thuyền máy của ông Bảy Hoài dưới mé nước đang chao đảo dữ dội giữa những con sóng bùn ngầu đục. Ông Bảy đứng trên mũi thuyền, hai tay bấu chặt lấy cây sào tre, mặt cắt không còn hột máu gào lên trong tiếng gió rít:

- Bà Tám ơi! Cậu Minh ơi! Lên thuyền mau! Nước sông Tiền đang dâng ngược, bão ập tới nơi rồi!

Tôi quay đầu nhìn lại căn chòi lá lần cuối. Giữa ánh sáng đỏ quạch leo lét của ngọn đèn dầu sắp cạn, bóng hình Sáu Khảm đứng trơ trọi như một pho tượng đá giữa hàng chục cỗ áo quan đen sì. Nụ cười độc địa của gã hòa cùng tiếng sấm nổ vang trời, xé nát không gian u tịch của bãi tha ma bên bờ rạch.

Chúng tôi nhảy bổ xuống lòng thuyền. Ông Bảy Hoài dùng hết sức bình sinh giật mạnh dây le động cơ. Tiếng máy nổ bành bành vang lên khô khốc xé tan màn mưa bắt đầu nặng hạt. Chiếc thuyền chồm lên, rẽ lớp lục bình dày đặc lao vút ra hướng sông lớn.

Bà Tám Bến Tre ngồi ở khoang thuyền, hai bàn tay run rẩy ôm chặt chiếc giỏ tre vào lòng. Ánh mắt bà lão nhìn đăm đăm vào màn đêm mịt mùng phía trước, nơi con sông Tiền đang cuộn sóng dữ dội dưới bầu trời đen đặc như mực.

- Hết đường rồi... - Bà Tám thì thào, giọng bà chìm nghỉm trong tiếng mưa quất ràn rạt vào mui thuyền. - Thằng Khảm kiên quyết ôm hận tới cùng. Đêm nay là đêm hạn chót một trăm năm, nó quyết để họ Lê tuyệt mạng. Chúng ta chỉ còn một con đường duy nhất... một con đường hạ sách thập tử nhất sinh!

Tôi vịn chặt mạn thuyền, máu nơi khóe môi vẫn rỉ ra từng giọt mặn chát. Trước mắt tôi, qua làn mưa giông mịt mù, bóng dáng đồ sộ của ngôi nhà cổ trăm cột ven bờ sông Tiền hiện ra mờ ảo trong những lằn chớp trắng xóa xé rách màn đêm. Ngôi nhà sừng sững như một cỗ quan tài khổng lồ đang mở toang nắp, chờ đợi kẻ sống sót cuối cùng bước vào hiến tế sinh mạng.

Chương khác

Xem thêm