Lỗ Ban Thuật: Yểm Thắng - Chương 18: Trùng Tang Yểm Lộ Nguyên Hình

Cán đục bằng gỗ trắc trên mũi thuyền vẫn còn ong ong từng hồi sau cú phóng chí mạng. Lưỡi thép đen bóng cắm sâu ngập ba tấc vào lớp ván gỗ sến, thớ gỗ…

Nội dung chương

Cán đục bằng gỗ trắc trên mũi thuyền vẫn còn ong ong từng hồi sau cú phóng chí mạng. Lưỡi thép đen bóng cắm sâu ngập ba tấc vào lớp ván gỗ sến, thớ gỗ nứt toác ra một vệt dài, sủi bọt nước phù sa tanh nồng.

Gió từ mặt rạch Ba Dầu thổi thốc qua rặng dừa nước, mang theo hơi lạnh buốt và mùi bùn thối rữa của bãi sình lầy lúc triều rút. Tôi đứng chôn chân trên lòng thuyền tròng trành, cổ họng ngứa rát dữ dội. Một cơn buồn nôn cuộn thốc từ dạ dày lên tận cuống họng. Tôi vội đưa tay bịt miệng, nhưng chất lỏng nóng hổi và mặn chát vẫn trào qua từng kẽ ngón tay, nhỏ từng giọt đen thẫm xuống lớp phoi bào rải rác dưới sàn thuyền.

Cơn ho rút kiệt chút tàn lực cuối cùng trong buồng phổi tôi. Hai đầu gối tôi chùng xuống, toàn thân run rẩy như người lên cơn sốt rét rừng. Học vị thạc sĩ kinh doanh từ Đại học Stanford, danh tiếng của một nhà sáng lập quỹ đầu tư từng điều hành hàng chục triệu đô la ở xứ người, tất cả những thứ trang sức lộng lẫy của giới tư bản phương Tây bỗng chốc rơi rụng sạch bách giữa bãi sình lầy hẻo lánh của vùng sông nước miền Tây. Trước ngưỡng cửa cái chết đang đục khoét từng thớ thịt từ bên trong, tôi nhận ra mình chẳng khác gì một kẻ sắp chết đuối, thảm hại và tuyệt vọng.

Bà Tám Bến Tre đứng sừng sững bên cạnh tôi. Gương mặt già nua chằng chịt nếp nhăn của bà đanh lại, đôi mắt rực lên ánh nhìn sắc lạnh hướng về phía bóng đen đang đứng lù lù trên mép sàn bùn. Bà nâng chuỗi tràng hạt bồ đề lên ngực, cất giọng sang sảng át cả tiếng ễnh ương kêu ran góc rạch:

- Sáu Khảm! Đừng vội vung rìu múa búa trước mặt người quen. Tao là Tám Bến Tre đây. Năm mươi năm trước, chính tay tao phụ ba mày mua vải liệm tẩm dầu cho ông nội mày nằm xuống. Chuyện ân oán giữa hai nhà Lê - Phan sâu dày bao nhiêu, tao và mày đều biết rõ. Nhưng đêm nay tao dắt thằng cháu đích tôn của nhà họ Lê sang đây, không phải để đấu võ mồm với mày!

Người đàn ông tên Sáu Khảm vẫn đứng im lìm như một thân cây khô cắm giữa bãi lầy. Ánh sáng vàng vọt từ ngọn đèn hột vịt treo lắt lay trên vách lá hắt ra, rọi rõ gương mặt góc cạnh, sạm đen vì dãi dầu mưa nắng. Gã chừng bốn mươi lăm tuổi, vóc người cao lớn thô kệch, khoác chiếc áo bà ba đen rách vai để lộ những bắp thịt cuồn cuộn như rễ dừa già. Cặp kính cận gọng kim loại bản nhỏ trễ xuống sống mũi gãy, che khuất đôi mắt sâu hoắm đang vằn lên những tia máu hung hiểm.

Nghe bà Tám gọi đích danh tên tuổi và nhắc lại chuyện chôn cất đời trước, cơ mặt Sáu Khảm hơi giật một nhịp. Vết sẹo dài chạy chéo từ thái dương xuống cằm gã đỏ ửng lên. Gã liếc nhìn chiếc giỏ tre bọc vải điều mà ông Bảy Hoài đang ôm khư khư trước ngực, rồi chuyển ánh mắt sắc lẻm sang gương mặt nhợt nhạt đầm đìa mồ hôi của tôi. Khóe miệng gã nhếch lên thành một nụ cười gằn đầy cay độc:

- Bà Tám. Tôi nể mặt bà từng đưa tiễn người già họ Phan, nên chiếc đục vừa rồi mới cắm lệch đi nửa thước. Bằng không, cái sọ của thằng công tử họ Lê này đã thủng một lỗ to bằng miệng chén rồi. Dòng họ Lê các người hưởng vinh hoa phú quý trên xương máu của đứa con nít nhà tao suốt một thế kỷ qua, bây giờ nghiệp quật tới cổ họng rồi mới biết mò sang đất này van lạy hay sao?

Sáu Khảm nhổ toẹt một bãi nước bọt đỏ lòm xuống lớp bùn nhão nhoét dưới chân, rồi xoay người bước thụt lùi vào trong bóng tối của căn chòi lá, cánh cửa liếp bằng tre nứa cứ để mặc cho đung đưa cót két.

Bà Tám Bến Tre quay sang nhìn tôi, giọng nói hạ thấp nhưng nghiêm nghị:

- Khải Minh, lau máu trên miệng đi. Nuốt cái tôi ngạo mạn của cậu xuống bụng. Cậu muốn sống sót rời khỏi đất cù lao này thì nhấc chân bước theo tôi. Dù nó có chửi rủa hay xỉ vả mồ mả tổ tiên cậu, cậu cũng phải cắn răng mà chịu. Một câu phản kháng lúc này là cậu tự tay đóng nắp áo quan của mình lại đấy!

Bà Tám dứt lời liền dứt khoát bước qua mũi thuyền, giẫm thẳng đôi chân trần lên dải đất sình lầy trơn tuột. Ông Bảy Hoài sợ sệt ghì chặt chiếc giỏ tre, rụt rè bám sát gót bà lão.

Tôi hít một hơi thật sâu, nuốt ngược vị tanh nồng vào lồng ngực đang đau thắt. Đôi giày da ngoại nhập đắt tiền lún ngập sâu trong bùn đen quánh đặc, nước sình lạnh ngắt tràn qua cổ chân, thấm ướt ống quần tây đắt giá. Tôi lảo đảo bám vào những gốc tràm dựng tạm ven mé rạch, khó nhọc lết từng bước chân nặng nề như đeo chì tiến về phía căn chòi lá.

Bước qua tấm cửa liếp rách bươm, một mùi vị đặc quánh lập tức xộc thẳng vào cánh mũi làm tôi nghẹn thở. Mùi gỗ gõ đỏ cưa dở nồng nặc quyện với mùi sơn ta ngai ngái, mùi mùn cưa ẩm mốc bốc lên từ nền đất ẩm thấp và mùi khói nhang trầm cháy âm ỉ trên bàn thờ tổ nghề.

Căn chòi của Sáu Khảm rộng chừng bốn mươi mét vuông, nhưng không gian bị bóp nghẹt bởi hàng tá cỗ ván hòm xếp san sát nhau từ sàn lên tận mái lá. Những tấm gỗ dày cộm đen bóng đã được bào nhẵn, dựng đứng dọc theo vách nứa như những tấm bia mộ sừng sững chờ đợi người chết. Trên các xà ngang bằng gỗ tràm, hàng trăm loại dụng cụ thợ mộc treo lủng lẳng: những lưỡi cưa lọng cong vút như hàm răng cá mập, những cây bào tay bằng gỗ lim xỉn màu, giàn đục bạt đủ kích cỡ từ ngón tay đến bàn tay, và những cuộn dây mực tàu đen ngòm nhỏ từng giọt cáu bẩn xuống sàn.

Sáu Khảm ngồi xếp bằng trên một chiếc ghế đẩu thấp bằng gỗ trắc, đối diện với chiếc bàn thợ mộc dài ngoằng đóng bằng gỗ xà cừ cổ thụ. Mặt bàn lỗ chỗ những vết đục, vết búa nện và những đường cưa lẹm sâu hoắm tích tụ qua nhiều năm tháng.

Ngọn đèn dầu hỏa đỏ quạch đặt ở góc bàn hắt bóng lưng gã trùm lên vách lá, to lớn và dị dạng như một con gấu đen khổng lồ. Gã không thèm ngẩng đầu nhìn ba người chúng tôi bước vào. Hai bàn tay gã vẫn thoăn thoắt ghì chặt một khúc gỗ nhỏ xíu, lưỡi dao trổ sắc bén trong tay gã gọt từng đường dứt khoát, đẩy những dải phoi bào mỏng dính màu vàng nhạt rơi lả tả xuống đùi.

Tôi bước lại gần chiếc bàn thợ mộc, hai mắt trợn trừng kinh ngạc khi nhìn rõ vật thể đang dần thành hình dưới bàn tay điêu luyện của gã.

Đó là một cỗ áo quan thu nhỏ.

Khúc gỗ vàng tâm dài chừng một ngón tay, rộng hai đốt lóng, màu vàng sáp ong óng ả dưới ánh đèn dầu. Sáu Khảm đang dùng một mũi đục siêu nhỏ tỉ mẩn khoét rỗng lòng cỗ quan tài, từng khớp mộng âm dương ở bốn góc nắp áo quan đều được gọt giũa vuông vức, tinh xảo đến từng li. Hình dáng, tỉ lệ, chất gỗ và cả những đường rãnh soi mép nắp hoàn toàn trùng khớp với cỗ quan tài quái dị mà ông Bảy Hoài vừa lôi ra từ khớp mộng cây đòn dông nhà tôi ban chiều.

Tim tôi đập thình thịch liên hồi bên lồng ngực trái. Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm lưng áo. Người đàn ông này không hề xa lạ với thứ tà thuật đang bóp nghẹt sinh mạng tôi. Gã đang tái hiện lại chính cái vật yểm đã chôn vùi số phận của dòng họ tôi suốt hơn một thế kỷ.

Bà Tám Bến Tre bước lên phía trước nửa bước, đưa mắt nhìn cỗ quan tài gỗ vàng tâm trên bàn rồi chậm rãi lên tiếng:

- Trùng tang yểm. Thước Lỗ Ban ngậm chỉ đỏ, ván vàng tâm táng tóc người chết non. Trăm năm qua, nhánh thợ mộc của ông thợ cả Sáu bên rạch Ba Dầu này vẫn không chịu buông tay đục, vẫn còn muốn truyền cái nghiệp oán hờn này cho con cháu đời sau hay sao Khảm?

Sáu Khảm dừng lưỡi dao trổ lại. Gã từ từ thổi một hơi dài, tống khứ lớp bụi gỗ mịn bám trên mặt nắp quan tài tí hon. Bụi gỗ bay tản mác trong không khí, lấp lánh dưới ánh đèn dầu hột vịt.

Gã ngước cặp mắt sắc lạnh lên nhìn bà Tám, giọng nói khàn khàn khô khốc như tiếng hai thanh củi cọ vào nhau:

- Buông tay đục? Bà Tám, bà nói nghe nhẹ tênh như gió thoảng qua ngọn dừa vậy. Tổ tiên nhà bà không bị người ta vu oan giáo họa, cha ông nhà bà không bị người ta trói lại đánh chết tươi rồi quăng xác xuống lòng sông Tiền cho cá rỉa! Dòng họ Phan chúng tôi đời đời ăn cơm nhờ cây cưa cây đục, kiếm từng đồng tiền mồ hôi nước mắt bằng nghề dựng nhà lập ấp. Năm xưa, cố nội tao dốc hết tâm can mang cả đoàn thợ sang dựng cái nhà trăm cột nguy nga tráng lệ bậc nhất xứ Nam Kỳ cho người ta, đổi lại được cái gì?

Sáu Khảm dằn mạnh lưỡi dao trổ xuống mặt bàn, âm thanh đanh gọn vang lên giữa căn chòi vắng:

- Đổi lại là một cái xác không toàn thây của ông bác tao! Mười bốn tuổi đầu, thằng nhỏ mới biết cầm cái cào phụ việc gọt mộng, chỉ vì lỡ tay làm mẻ một góc cột gỗ lim mà bị lão già ác đức trói vào gốc đa trước sân, dùng roi mây quất cho đến chết rồi quỵt luôn ba ngàn đồng bạc tiền công của cả phường thợ! Thù này là nợ máu! Trăm năm hay ngàn năm thì máu của họ Lê cũng phải trả bằng xương tủy của chính các người!

Từng lời từng chữ của Sáu Khảm như những nhát búa nện thẳng vào đầu tôi. Mối thù gia tộc mà tôi từng nghĩ chỉ là một câu chuyện truyền miệng hoang đường nơi thôn dã, nay hiển hiện bằng xương bằng thịt trước mắt tôi với đầy đủ sự phẫn uất tột cùng.

Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt đặc quánh mùi máu, dẹp bỏ mọi sự kiêu hãnh của bản thân, tiến lên một bước cúi đầu thật thấp trước chiếc bàn thợ mộc:

- Thưa chú Sáu... Chuyện năm xưa của cụ tổ Lê Văn Thừa, thế hệ con cháu chúng tôi hôm nay không hề hay biết. Tội lỗi của tiền nhân, tôi không dám ngụy biện chối bỏ. Nhưng người chết thì đã thành tro bụi dưới lòng đất rồi, còn ngôi nhà trăm cột ven sông Tiền hiện giờ...

Chưa để tôi nói hết câu, hai tròng mắt của Sáu Khảm bỗng trợn trừng lên sòng sọc. Gân xanh trên trán và cổ gã giật giật từng cơn điên loạn. Khi cái tên Lê Văn Thừa và ngôi nhà cổ trăm cột ven sông Tiền vừa thốt ra khỏi miệng tôi, toàn bộ vẻ lạnh lùng kiềm chế trên mặt gã lập tức vỡ vụn, thay thế bằng một cơn cuồng nộ hung tợn tột cùng.

- Câm mồm!

Sáu Khảm gầm lên một tiếng xé toạc màn đêm.

Bàn tay phải gã chộp lấy cán cây rìu thợ mộc bằng sắt đúc nặng trịch đang đặt cạnh chân bàn, vung mạnh một đường cung xé gió trong không trung.

Phập!

Lưỡi rìu sắc lẹm bổ thẳng xuống mặt bàn gỗ xà cừ, cắm phập ngập sâu gần nửa gang tay, chỉ cách những ngón tay đang run rẩy của tôi chưa đầy năm phân. Mảnh dăm gỗ bắn tung tóe lên mặt tôi, rát bỏng. Ngọn đèn dầu trên bàn chao đảo dữ dội, suýt chút nữa đổ ụp xuống đống mùn cưa khô khốc.

- Mày vừa nhắc đến ai? Lê Văn Thừa? Cái dinh cơ trăm cột ven sông Tiền?

Sáu Khảm đứng bật dậy, chồm nửa thân người qua chiếc bàn gỗ, dí sát gương mặt bừng bừng sát khí vào mặt tôi. Hơi thở của gã phả ra nóng rực, nồng nặc mùi thuốc rê và rượu trắng:

- Mày chính là cái giống nòi nhớp nhúa của thằng giặc Thừa đó sao? Mày dám vác cái mặt phản trắc sang tận bờ rạch này để xin xỏ? Cút! Cút hết mẹ chúng mày ra khỏi chòi tao ngay lập tức! Tao không bửa cái đầu mày ra ở đây là đã nể tình đất này có thổ công rồi! Biến đi trước khi tao chặt đứt chân mày quăng xuống rạch Ba Dầu!

Trong cơn thịnh nộ tột cùng, cánh tay trái của Sáu Khảm giơ thẳng lên, ngón tay chỉ thẳng vào mặt tôi mà xua đuổi.

Dưới ánh lửa bập bùng của ngọn đèn dầu, mắt tôi dán chặt vào bàn tay trái đang run lên bần bật của gã.

Bàn tay thô ráp xù xì, nhưng ở mé ngoài bàn tay, ngón áp út và ngón út đã biến mất hoàn toàn từ bao giờ. Vết thẹo cụt sát tận khớp xương mu bàn tay co rúm lại, nhăn nheo như một cục thịt cháy sém, để lại một khoảng trống hoắm đầy dị dạng.

Đó là dấu vết đoạn chỉ của thuật Lỗ Ban.

Bà Tám Bến Tre đứng phía sau tôi bỗng thở dài một tiếng não nề. Giọng bà lão chùng xuống, mang theo sự run rẩy hiếm thấy:

- Ngũ hư tam tật... Khảm ơi là Khảm, cố nội mày ngày xưa hạ bùa Trùng tang, chấp nhận cho dòng họ Phan đời đời chịu nghiệp cụt ngón tuyệt tự. Mày cũng nối nghiệp mà chặt đi hai ngón tay để giữ cái bùa yểm này sống đến ngày hôm nay sao?

Sáu Khảm cười lên sằng sặc, tiếng cười man dại vang vọng giữa những cỗ quan tài đen sì trong căn chòi lá:

- Mất hai ngón tay mà đổi lại được cảnh cả dòng họ Lê các người chết dần chết mòn trong đau đớn, máu cạn tủy khô, thì có chặt hết cả bàn tay này tao cũng cam lòng! Cút ngay!

Chiếc rìu thợ mộc vẫn cắm chặt trên mặt bàn, lưỡi thép ánh lên sắc lạnh tàn khốc giữa đêm giông bão đang dần kéo đến ngoài mé rạch.

Chương khác

Xem thêm