Lỗ Ban Thuật: Yểm Thắng - Chương 16: Sáu Khảm Xuất Hiện
Lồng ngực tôi thắt lại thành một khối rắn đanh, chèn ép khí quản đến mức hơi thở nghẹn ứ nơi cuống họng. Một dòng chất lỏng nóng rực, tanh tưởi dồn ứ từ…
Nội dung chương
Lồng ngực tôi thắt lại thành một khối rắn đanh, chèn ép khí quản đến mức hơi thở nghẹn ứ nơi cuống họng.
Một dòng chất lỏng nóng rực, tanh tưởi dồn ứ từ dạ dày vọt thẳng lên miệng. Tôi không gượng nổi hai chân nữa. Trọng lượng toàn thân kéo tôi sụp xuống, đầu gối dập mạnh lên mặt sàn gạch tàu vang lên một tiếng cộc nặng nề. Tôi há to miệng, gập rạp người sát mép chân cột gỗ lim mà nôn thốc nôn tháo.
Từng búng máu đen đặc trào qua khóe môi, nhớt nháp và sền sệt, bắn tung tóe xuống nền gạch đỏ. Thứ dịch ấy đen kịt, lợn cợn những cục máu đông bầm tím to bằng đầu ngón tay cái, bốc lên mùi hôi thối nồng nặc giống như lòng cá ươn thối rữa lâu ngày dưới đáy hũ sành. Cơn co thắt dữ dội từ cơ hoành liên tiếp bóp nghẹt ruột gan tôi, rút kiệt chút sức lực tàn dư sau chuyến leo trèo trúng độc. Hai mắt tôi mờ đặc, mạch đập bên thái dương nảy thình thình từng nhịp đau buốt óc.
Đường gân xanh sẫm nổi cộm dọc cẳng tay phải đã đổi màu sang sắc tím bầm của tử thi. Nó giật giật liên hồi dưới lớp biểu bì, kéo dài từ vết rách ở lòng bàn tay chạy thẳng qua cùi chỏ, hướng thẳng vào hốc nách. Mỗi lần tim đập, sợi gân ấy lại phồng to lên, truyền đi luồng nhiệt thiêu đốt xương tủy.
"Tránh xa mép máu ra!" Tiếng bà Tám Bến Tre thét lớn, sắc nhọn như dao cạo qua lớp đá mài.
Ông Bảy Hoài đang run rẩy đứng gần đó lập tức lùi bật lại ba bước, lưng đập rầm vào cánh phản gỗ gõ đỏ, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Đôi mắt người thợ mộc già trợn tròn kinh hoàng nhìn bãi huyết dịch đang sủi bọt quanh đầu gối tôi.
Bà Tám Bến Tre bước xăm xăm tới, dáng người còng rạp thoăn thoắt một cách khác thường. Bà không để tâm đến vạt áo bà ba màu nâu sòng bị bụi bặm bám đầy, cũng chẳng sợ mùi xú uế đang bốc lên ngùn ngụt. Từ trong túi áo ngực, bà rút ra một mảnh giấy lệnh màu vàng úa đã gấp thành hình tam giác nhỏ bằng nửa bao diêm, mặt ngoài vẽ ngoằn ngoèo chu sa đỏ au.
"Há miệng ra! Ngậm chặt lại!" Bà Tám quát rát mặt, năm ngón tay gầy guộc khô khốc kẹp chặt hai bên quai hàm tôi, bóp mạnh vào huyệt hạ quan khiến miệng tôi buộc phải hé rộng.
Bà nhét phắt lá bùa vào sâu trong cuống lưỡi tôi.
Vị cay nồng của chu sa hòa lẫn bột ngải cứu khô và lưu huỳnh xộc thẳng lên vòm họng. Thứ bột giấy khô khốc chạm vào dịch đắng trong miệng lập tức bốc ra vị chát buốt đến tê dại. Tôi nuốt khan một cái, đầu lưỡi cứng đờ lại như ngậm phải than hồng.
"Nuốt nước miếng xuống, dùng chân khí ép cái thứ tà độc đó lại!" Bà Tám gằn từng tiếng, bàn tay khẳng khiu còn lại đập mạnh liên tiếp ba phát vào đốt sống lưng thứ bảy sau gáy tôi. "Họ Lê nhà cậu tích nghiệp quá dày, oan hồn đứa nhỏ bám rễ vào tim cậu rồi! Đừng có nhả ra, nhả bùa là đứt mạch máu chết tươi ngay tức khắc!"
Lực vỗ thô bạo của bà lão khiến lồng ngực tôi rung lên bần bật. Kỳ lạ thay, luồng nhiệt nóng rực đang sôi sục trong lồng ngực bỗng chốc khựng lại, co rút dần về phía rốn. Sợi gân tím thẫm nơi cẳng tay ngừng giật, dịu bớt cảm giác xé rách cơ bắp, nhưng toàn thân tôi vẫn rét run từng cơn, mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa ướt sũng lớp áo sơ mi mỏng.
Tôi thở dốc từng ngụm đứt quãng, hai bàn tay chống bệt xuống nền gạch tàu lạnh buốt để cố giữ thăng bằng. Giọng tôi khản đặc, nghẹn ngào trong cuống họng:
"Bà Tám... Tôi... tại sao lại thành ra thế này?"
Bà Tám Bến Tre đứng thẳng lưng dậy, đưa ống tay áo quẹt vội vệt trầu nơi khóe miệng. Bà ngước nhìn ra ngoài sân gạch. Mặt trời chiều buông xuống phía bên kia rặng bần ven sông Tiền, nhuộm cả khoảng trời sông nước miền Tây thành một màu đỏ quạch như máu loãng. Ánh hoàng hôn tà ma rọi xiên qua những khoảng thủng trên mái ngói âm dương xô lệch, hắt từng vệt sáng đỏ rực, u ám xuống mặt sàn gian thờ.
"Huyết Cực lúc hoàng hôn." Bà Tám cất giọng nặng nề, từng lời nói ra tựa hồ từng tảng đá ong đè nặng lên không khí ngột ngạt của ngôi nhà. "Hoàng hôn là giờ chuyển giao giữa dương và âm. Khi ánh mặt trời lặn hẳn xuống đáy sông Tiền, khí âm từ lòng đất sẽ trồi lên mạnh nhất. Cậu lại mang máu huyết họ Lê, chạm thẳng tay vào vật yểm giấu trong tim đòn dông. Cỗ quan tài gỗ vàng tâm kia vốn dĩ đang ngủ yên, cậu cạy nắp mộng làm kinh động đứa nhỏ, độc trùng tang ngấm thẳng vào lục phủ ngũ tạng."
Bà lão quay đầu lại nhìn tôi, ánh mắt đục ngầu lóe lên tia nhìn u ám:
"Lá bùa thanh hỏa của tôi chỉ tạm thời đóng chặt cửa tử, cầm cự cho tim cậu khỏi vỡ ra trong lúc tà khí xung động. Cậu chỉ còn đúng hai ngày để sống. Đúng giờ Tý đêm rằm tháng Bảy, khi cửa mả mở toang, máu độc chạy vào tâm mạch, dù có mười ông thầy pháp giỏi nhất vùng sông nước này tới đây cũng chỉ có nước khiêng cậu đi chôn."
Tôi bấu chặt những ngón tay run lẩy bẩy xuống mặt sàn. Hai ngày. Đối với một kế hoạch kinh doanh hay một hợp đồng đầu tư, hai ngày chỉ là khoảng thời gian chờ đợi phản hồi từ đối tác. Nhưng lúc này, hai ngày là giới hạn cuối cùng của sinh mệnh tôi, một chiếc đồng hồ cát đang rỉ từng hạt tàn nhẫn đo đếm từng hơi thở của kẻ thừa kế mang tội lỗi trăm năm.
Đúng lúc đó, ông Bảy Hoài bỗng thét lên một tiếng kinh hãi, ngón tay run rẩy chỉ thẳng xuống chân tôi:
"Bà Tám... Cậu Ba... Nhìn... nhìn bãi máu kìa!"
Tôi giật mình cúi đầu nhìn xuống.
Dưới ánh sáng hoàng hôn đỏ quạch rọi xiên qua kẽ ngói, bãi máu đen đặc tôi vừa nôn ra sàn gạch tàu không hề loang rộng ra chung quanh, cũng không ngấm vào những thớ đất sét nung xốp ráp của nền nhà như quy luật vật lý thông thường.
Chất lỏng màu đen sẫm ấy bắt đầu co rút lại. Những mép máu bỗng nhiên tự dịch chuyển, tách thành những vệt mảnh mai như những con giun đất màu đỏ đen, trườn bò loằng ngoằng trên bề mặt từng viên gạch. Chúng men theo những đường mạch hồ vôi vữa, chuyển động nhịp nhàng, uốn lượn một cách quái đản.
Máu của chính cơ thể tôi đang tự vẽ đường đi trên nền đá ong cổ xưa.
Từng vệt máu bò chầm chậm rồi ráp lại với nhau, đan kết thành từng nét gãy khúc sắc lẹm, dứt khoát. Trong sự im lặng chết chóc của gian nhà trăm cột, chỉ nghe thấy tiếng gió rít qua kẽ ngói và tiếng xèo xèo ghê rợn phát ra từ bãi dịch thể.
Trước mắt tôi, bãi máu đã đông cứng lại thành một đồ hình hoàn chỉnh. Đó là một chữ Nôm cổ, nét ngang nét phẩy rõ ràng, rành mạch.
Chữ "Sáu".
Chữ viết bằng máu đen đặc nằm sừng sững trên nền gạch tàu, đối diện trực tiếp với bức chân dung cụ tổ Lê Văn Thừa treo trên hương án. Ngay khi nét chữ cuối cùng khép lại, một tiếng "xì" chói tai vang lên. Từ bề mặt chữ "Sáu", một làn khói trắng mỏng tang bốc thẳng lên không trung, mang theo mùi khét lẹt đặc trưng của tóc người và móng tay bị thiêu cháy trong lò lửa.
Khói bốc nghi ngút, cuộn thành một vòng xoáy nhỏ lượn lờ quanh đầu tôi rồi tan biến vào khoảng không mờ tối của xà nóc gỗ lim.
Ông Bảy Hoài ngồi thụp xuống bậc cửa, hai tay ôm chặt lấy đầu, giọng nghẹn lại trong nước mắt:
"Oan hồn thợ cả Sáu... Là thợ cả Sáu trở về đòi nợ máu thật rồi! Chữ đó... chữ ký thợ mộc của ông Sáu ngày xưa khắc trên xà đòn dông miếu Bà Đen rạch Ba Dầu, tôi không thể nào nhìn lầm được! Ông ấy muốn tận diệt dòng giống nhà họ Lê!"
Bà Tám Bến Tre tiến lại gần, nhìn chằm chằm vào chữ máu trên mặt sàn, vẻ mặt đanh lại thành những nếp gấp sắc lạnh. Bà rút từ thắt lưng ra một chiếc dao nhíp nhỏ, khẽ gạt lớp sáp bám trên mặt viên gạch.
"Đây không đơn thuần là một vụ ma quấy." Bà Tám hạ thấp giọng, thanh âm trầm đục ghìm chặt nỗi căng thẳng. "Đây là Huyết Ngải Lỗ Ban kết hợp Trùng tang chú. Máu của cậu nhận diện máu của đứa con trai thợ cả Sáu năm xưa. Hai dòng máu đã chạm vào nhau, lập thành huyết khế nghịch đảo. Mỗi giọt máu cậu nôn ra đều mang tên của kẻ thù. Nếu không tìm được người của dòng họ Sáu đứng ra giải lời nguyền, máu trong người cậu sẽ tự khắc đông lại thành tro bụi."
Một cơn gió chướng thổi tạt qua hàng hiên, mang theo vị mặn chát của sông Tiền và hơi ẩm lạnh buốt của cơn mưa giông sắp kéo tới. Cả ngôi nhà trăm cột bắt đầu phát ra những tiếng cọt kẹt rợn người.
Những khớp mộng gỗ lim ở tít trên cao cọ xát vào nhau, ken két như tiếng nghiến răng ken két của hàng chục con người vô hình nấp kín trong bóng tối. Lớp ngói âm dương trên mái nhà rung lên bần bật, xô vào nhau lách cách. Bụi gỗ mục và mồ hóng từ thời thuộc địa rơi lả tả xuống sàn nhà, phủ một lớp xám xịt lên chiếc bàn đá cẩm thạch.
Ở giữa bàn, cỗ quan tài gỗ vàng tâm nhỏ xíu bằng ngón tay vẫn nằm im trên tấm vải điều. Nhưng những sợi chỉ ngũ sắc quấn quanh thân gỗ đã bắt đầu căng cứng đến mức sắp đứt. Những giọt chất lỏng màu đỏ từ khe nắp hòm rỉ ra liên tục, tạo thành một vũng tròn đỏ lòm dưới đáy mâm đồng.
Trên xà nóc, bóng đen gầy guộc của đứa trẻ mười bốn tuổi vẫn lặng lẽ nép mình bên cạnh khớp mộng vừa bị cạy thủng. Nó không biến mất. Đôi mắt sâu hoắm không có tròng của nó nhìn trừng trừng xuống chỗ tôi đang quỳ, cái đầu ngoẹo sang một bên một cách quái đản, dường như đang thưởng thức nỗi thống khổ tột cùng của hậu duệ kẻ đã giết chết nó.
Ngôi nhà này không còn là nơi chốn dung thân cho con người. Cấu trúc phong thủy trăm năm vốn để tụ tài tụ lộc giờ đây đã biến thành một cái bẫy chết người, một cỗ máy nghiền nát sinh khí của bất kỳ ai mang họ Lê bước chân qua ngưỡng cửa. Nếu tiếp tục ở lại đây qua đêm nay, cơn phản phệ của tà thuật sẽ bóp chết tôi ngay trên chiếc giường gõ đỏ của cụ tổ.
Tôi cắn chặt môi, vị máu mặn chát và cay nồng của lá bùa xộc thẳng vào khí quản. Tôi gượng đứng dậy, tựa hẳn một bên vai vào thân cột cái to lớn. Cảm giác nhục nhã và bất lực cuộn trào trong huyết quản. Tôi là một doanh nhân có học vị cao, từng tự tin dùng logic và tính toán tư bản để chinh phục thị trường tài chính, nhưng trước một khớp mộng gỗ lim chứa đầy oán thù trăm năm trước, toàn bộ tri thức của tôi trở nên vô dụng như một mớ rác rưởi.
"Bà Tám..." Tôi thở dốc, mắt găm chặt vào cỗ quan tài gỗ vàng tâm. "Chúng ta phải làm gì bây giờ? Không thể ngồi chờ chết ở đây được."
Bà Tám Bến Tre dứt khoát quay phắt người lại, chiếc khăn rằn trên cổ bà bay phần phật theo luồng gió độc thốc từ cửa chính vào.
"Thu dọn đồ đạc! Rời khỏi đây ngay lập tức!" Bà Tám ra lệnh, giọng điệu đanh thép không dung thứ bất kỳ sự chậm trễ nào. "Ngôi nhà này đã mở huyệt táng sống rồi. Đêm nay ở lại, cậu sẽ nôn hết máu ruột ra sàn gạch, biến thành con quỷ giữ cột thứ một trăm lẻ một cho cụ tổ nhà cậu!"
Bà chỉ tay sang ông Bảy Hoài:
"Anh Bảy, lấy tấm vải điều bọc kín cỗ quan tài lại! Nhớ kỹ, không được để da thịt trần chạm vào gỗ vàng tâm! Dùng dây gai trói chặt chín nút theo thế thắt bùa Khóa Khẩu, rồi bỏ vào giỏ tre lót tro bếp cho tôi!"
Ông Bảy Hoài mặt cắt không còn hột máu, nhưng trước uy quyền của bà lão phong thủy già dặn, ông ta chỉ biết run rẩy vâng dạ. Người thợ già dùng hai đoạn củi gõ đỏ kẹp cẩn thận từng mép tấm vải điều đỏ ối, khéo léo bọc kín cỗ quan tài tí hon lại, không dám để lọt một sợi chỉ ngũ sắc nào ra ngoài. Bàn tay ông run bần bật, trán ướt đẫm mồ hôi hột giữa luồng gió lạnh thấu xương.
Tôi nhìn theo từng động tác của họ, lồng ngực vẫn âm ỉ những cơn nhói buốt buốt tận tim.
"Bà định mang thứ đó đi đâu?" Tôi hỏi, giọng run lên vì cơn ớn lạnh bắt đầu lan tỏa từ cột sống.
Bà Tám Bến Tre nhìn thẳng vào mắt tôi, đôi mắt già nua hằn sâu những tia máu đỏ:
"Đi tìm người cài bùa thì phải tìm kẻ giữ chìa khóa gỡ bùa. Thợ cả Sáu chết rồi, nhưng dòng giống thợ mộc của ông ta chưa tuyệt diệt. Mối thù của họ Lê với họ Phan bắt đầu từ dòng sông Tiền này, thì phải về lại rạch Bến Tre mà kết thúc nó."
Bà lão dừng lại một nhịp, giọng nói chùng xuống mang theo sự nguy hiểm khôn lường:
"Sáu Khảm. Thằng chắt đời thứ tư của thợ cả Sáu hiện đang sống rúc trong một chòi lá hoang tàn sâu trong rạch Ba Dầu bên Bến Tre. Nó là người cuối cùng nắm giữ cây thước Lỗ Ban truyền đời của nhánh thợ mộc năm xưa. Chỉ có bàn tay của người mang dòng máu họ Phan, dùng đúng cây búa của thợ cả Sáu mới có thể tháo chỉ ngũ sắc, phóng thích vong hồn đứa trẻ mà không làm nổ tung lục phủ ngũ tạng của cậu."
"Nhưng... liệu ông ta có chịu giúp không?" Tôi khó nhọc hỏi, nhớ lại những gì bà Tám vừa kể về thảm kịch năm 1902. "Cụ tổ tôi đã đánh chết con trai của cụ cố ông ấy. Một trăm năm qua, mối huyết thù đó nuôi sống lời nguyền này..."
"Không chịu cũng phải ép nó chịu!" Bà Tám gắt lên, thanh âm lạnh lùng như nhát búa nện xuống đe sắt. "Không tìm tới nó thì cậu chết. Cậu chết rồi, dòng họ Lê tuyệt tự, và lời nguyền Trùng tang này sẽ vĩnh viễn biến cái dinh cơ trăm cột này thành mồ chôn tập thể của cả vùng cù lao! Xuống bến ngay!"
Màn đêm sụp xuống rất nhanh trên dòng sông Tiền. Vệt hoàng hôn đỏ quạch cuối cùng bị bóng tối nuốt chửng, chỉ còn lại màu đen kịt của dòng nước cuồn cuộn phù sa và tiếng gió rít gầm rú qua những ngọn dừa nước ven bờ.
Ông Bảy Hoài ôm chặt chiếc giỏ tre trước ngực, bước đi xiêu vẹo dẫn đường ra phía cổng rào gỗ lim chạm trổ rồng phượng. Tôi lảo đảo bước theo sau, từng bước chân nặng trĩu như đeo chì, bàn tay phải tê dại hoàn toàn giấu chặt trong túi áo khoác.
Khi bước qua ngưỡng cửa gian nhà chính, tôi bất giác quay đầu nhìn lại.
Trong bóng tối dày đặc của gian thờ, trên thanh đòn dông gỗ lim cao vút, bóng đen của đứa trẻ vẫn ngồi đó. Hai hốc mắt tối om của nó nhìn xuyên qua màn đêm, rọi thẳng vào lưng tôi. Một tiếng thì thầm rợn người luồn theo ngọn gió chướng, đuổi theo sát gót chân tôi ra tận mép sân gạch tàu:
"Đi đâu... cũng không thoát..."