Lỗ Ban Thuật: Yểm Thắng - Chương 14: Cỗ Quan Tài Gỗ Vàng Tâm Nhỏ Xíu

Mùi bùn non của lòng sông Tiền bốc lên nồng nặc từ chiếc mâm đồng, quấn lấy mùi máu tanh tao xộc thẳng vào cuống họng tôi. Cỗ quan tài bằng gỗ vàng tâm…

Nội dung chương

Mùi bùn non của lòng sông Tiền bốc lên nồng nặc từ chiếc mâm đồng, quấn lấy mùi máu tanh tao xộc thẳng vào cuống họng tôi.

Cỗ quan tài bằng gỗ vàng tâm chỉ nhỏ bằng một lóng tay người lớn nằm lọt thỏm giữa tấm vải điều đỏ thắm. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn măng-sông, từng thớ gỗ vàng sẫm ánh lên chất dầu bóng lẫy, hoàn toàn nguyên vẹn sau hơn một thế kỷ bị giam hãm trong buồng tối của khớp mộng đòn dông. Những sợi chỉ ngũ sắc xanh, đỏ, trắng, vàng, đen quấn quanh thân gỗ siết chặt từng nếp gấp, đan cài kín kẽ lấy lọn tóc người đen nhánh.

Tóc của kẻ đã khuất đáng lẽ phải khô mục, giòn vụn theo năm tháng. Nhưng búi tóc này vẫn mềm rũ, bết dính lấy lớp sáp ong nâu đen, từng sợi tóc mỏng manh căng bóng đang ngậm lấy thứ dịch lỏng màu đỏ sẫm. Dịch máu ứa ra từ kẽ nắp quan tài, chầm chậm loang rộng trên mặt vải điều, tạo thành một vệt sẫm màu có hình thù méo mó.

Bà Tám Bến Tre đứng gập lưng bên bàn đá, hai bàn tay gầy guộc run rẩy bấu chặt vào cây gậy tre mấu khúc. Đôi mắt đục ngầu của bà lão chằm chằm nhìn vào vệt máu tươi, khóe miệng nhai trầu giật liên hồi.

"Lóng tay út..." Tôi thốt lên, giọng khản đặc đến chính bản thân cũng khó lòng nhận ra. Vết rách nơi ấn đường vẫn rỉ máu, giọt máu ấm chảy chầm chậm xuống khóe mắt trái, nhuộm một nửa tầm nhìn của tôi thành sắc đỏ quạch. "Ý bà là sao? Ai chặt tay đứa trẻ con?"

Bên cạnh cột cái, ông Bảy Hoài vừa nghe đến đó liền vội vã lùi thụt lùi ra sau, lưng dán chặt vào thân gỗ lim to hai người ôm. Người thợ mộc già run như cầy sấy, hai hàm răng va vào nhau lập cập:

"Trời cao đất dày ơi... Lỗ Ban sát hài đồng... Năm xưa trong giới thợ mộc miệt Tiền Giang người ta đồn đãi râm ran, tui tưởng đâu chuyện hù dọa con nít ăn cơm... Ai dè phường thợ Bến Tre dám làm thiệt!"

"Ngậm cái miệng mồm lại đi Bảy Hoài!" Bà Tám Bến Tre quát khẽ, giọng rít qua kẽ răng đen nhánh màu thuốc lá và bã trầu. "Nghiệp của ai gieo thì người đó gánh, đất này có mạch, trời này có mắt. Một trăm năm qua con quỷ nhỏ này bị nhốt trên xà nóc, nó đói máu, nó khát hơi người sống. Cậu Khải Minh đụng tay kéo nó ra khỏi mộng gỗ, giờ hồn nó đã thức trọn vẹn rồi."

Tôi hít một hơi sâu, luồng không khí lạnh buốt tràn vào buồng phổi khiến lồng ngực đau nhói như bị dao cứa. Vết hoại tử thâm đen nơi lòng bàn tay phải vẫn tê dại, mất hết cảm giác, chất dịch nhờn bốc mùi sáp ong tanh tưởi chảy dài xuống cổ tay áo sơ mi đắt tiền tôi mua ở San Francisco.

Mọi lý thuyết quản trị rủi ro, mọi mô hình phân tích kinh tế tại trường kinh doanh Stanford tôi từng học đều biến thành đống giấy vụn vô dụng ngay lúc này. Trước mắt tôi là một thứ vật thể hữu hình chứa đựng tội ác dã man, một cỗ quan tài tí hon đang rỉ ra máu tươi giữa gian nhà cổ bề thế của dòng họ tôi.

"Bà Tám, bà nói rõ cho tôi biết," tôi bước lên nửa bước, chống tay trái lên mặt bàn đá cẩm thạch mát lạnh, gằn giọng qua từng nhịp thở nặng nhọc. "Dòng họ Lê chúng tôi rốt cuộc đã làm gì vào năm 1902? Cụ tổ Lê Văn Thừa đã gây ra chuyện gì với thợ cả Phan Văn Sáu?"

Bà Tám Bến Tre thở dài một hơi nặng trĩu. Bà chậm rãi xoay người, hướng mắt nhìn lên bức hoành phi sơn son thiếp vàng treo trang trọng chính giữa gian thờ, nơi khắc bốn chữ đại tự "Tích Đức Lưu Phương" lấp lánh bụi thời gian.

"Tích đức lưu phương..." Bà Tám cười khẩy, tiếng cười the thé khô khốc nghe não nề giữa căn nhà vắng. "Chữ nghĩa hào nhoáng của mấy tay phú hào thời Tây để che đậy cái dạ lang muông. Cậu Khải Minh, cậu sinh ra ở thời bình, ăn học xứ ngoại quốc, cậu chỉ biết cụ tổ cậu là đại điền chủ giàu có nhất vùng sông Tiền, sở hữu cả ngàn mẫu ruộng mẫu vườn, dựng lên cái nhà trăm cột gỗ lim này để rạng danh tông tộc. Nhưng cậu đâu biết, từng cây cột lim chở từ rừng sâu về đây, từng viên gạch tàu lót dưới chân cậu, đều ngâm trong nước mắt của dân phu và máu của phường thợ."

Bà lão chống gậy, bước từng bước vòng quanh chiếc mâm đồng. Đầu gậy tre gõ cồm cộp xuống nền gạch, mỗi tiếng gõ đanh thép như dộng thẳng vào màng nhĩ tôi.

"Năm Nhâm Dần 1902, cụ tổ Lê Văn Thừa của cậu muốn cất căn nhà gỗ lớn nhất cõi Nam Kỳ lục tỉnh này để nghênh đón quan toàn quyền Pháp. Cụ cho người lùng sục khắp miệt Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, tìm cho bằng được tay thợ mộc khéo nhất. Người ta chỉ về rạch Ba Tri, nơi có ông Phan Văn Sáu, tay thợ cả nức tiếng về ngón đục chạm rồng phượng, lại tinh thông phép Lỗ Ban dựng nhà dựng cửa. Cụ Lê Văn Thừa đích thân đi thuyền buôn mang bạc trắng xuống tận nhà rước ông Sáu lên, hứa hẹn trả công ba trăm đồng bạc Đông Dương cùng mười mẫu ruộng màu mỡ ven sông Tiền khi ngôi nhà hoàn tất."

Ông Bảy Hoài ngồi co ro nơi chân cột khẽ nuốt nước bọt, tiếp lời bà lão bằng giọng run run:

"Hồi đó, ba trăm đồng bạc Đông Dương là cả một gia tài khổng lồ... Dân nghèo làm quần quật ba đời chưa chắc thấy được mặt một đồng..."

"Phải, món tiền quá lớn làm mờ mắt người lương thiện," bà Tám tiếp tục, ánh mắt đăm đăm nhìn vào vệt máu đang rỉ ra từ cỗ quan tài. "Thợ cả Phan Văn Sáu gom hết đồ nghề, dẫn theo ba mươi thợ bạn giỏi giang nhất dòng họ Phan xuôi thuyền lên đất Tiền Giang. Trong số đó, ông Sáu cưng nhất là đứa con trai mười bốn tuổi tên Phan Văn Nhẫn. Thằng nhỏ sáng dạ, tay chân thoăn thoắt, phụ trách việc dùi mộng, bào nhẵn xà ngang và xách ấm nước cho thợ thuyền. Cả toán thợ ròng rã ăn ngủ trên đống gỗ lim suốt ba năm trời, dãi nắng dầm mưa, đục từng khớp mộng âm dương tinh xảo, cất nên bộ khung sườn một trăm cây cột vững chãi không cần dùng tới một cây đinh sắt."

Tôi siết chặt nắm tay trái. Móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau điếng, cố giữ cho bản thân tỉnh táo giữa câu chuyện u ám của quá khứ.

"Rồi sao nữa?" Tôi hỏi dồn. "Công trình hoàn thành, cụ tổ tôi không trả tiền?"

"Nếu chỉ là quỵt tiền công thì người ta đâu có liều mạng trù ếm đến mức tuyệt tử tuyệt tôn như vầy!" Giọng bà Tám đột ngột cao vút lên, đanh thép và đầy phẫn nộ. "Lòng tham của cụ tổ cậu sâu hơn đáy sông Tiền! Khi ngôi nhà sắp sửa gác đòn dông lợp ngói, toàn bộ đồ gỗ quý chạm trổ xong xuôi, cụ Lê Văn Thừa tiếc ba trăm đồng bạc và mười mẫu ruộng trù phú. Cụ cấu kết với hương chức trong làng, dựng lên một màn vu oan giá họa đê hèn."

Một cơn gió từ ngoài bờ sông thổi thốc qua khe cửa chính, làm ngọn lửa đèn măng-sông chao đảo dữ dội. Bóng của ba người chúng tôi in trên vách tường vôi trắng đổ dài, méo mó dị dạng.

"Cụ Thừa cho gia nhân lén nhét chiếc lư hương bằng đồng mắt cua quý giá của quan Tây tặng vào rương đựng đục bào của thợ cả Phan Văn Sáu," bà Tám kể, từng lời buông ra chậm rãi nhưng nặng nề như chì. "Sáng hôm sau, cụ hô hoán mất trộm, kéo theo đám tay sai cầm gậy gộc xông vào lán thợ lục soát. Chiếc lư hương được lôi ra từ đáy rương. Cụ Lê Văn Thừa trở mặt thành lang sói, tuyên ba phường thợ Phan gia là quân trộm cắp bất lương. Cụ không những quỵt sạch tiền công ba năm ròng của ba mươi con người, mà còn ra lệnh cho gia nhân đánh đập họ tàn nhẫn rồi tống cổ ra khỏi đất Tiền Giang."

Lồng ngực tôi thắt lại. Tôi nhìn lên di ảnh của cụ tổ Lê Văn Thừa đặt trên bàn thờ. Bức ảnh đen trắng chụp một người đàn ông trung niên mặc áo dài gấm, đầu đội khăn đóng, nét mặt phương phi phúc hậu, đôi mắt dài khép hờ uy nghiêm. Tôi từng tự hào về người cụ tổ đã khai phá cơ nghiệp gia tộc, từng nghĩ rằng dòng máu đang chảy trong huyết quản mình thuộc về một bậc tiền nhân lỗi lạc.

Nhưng bức màn nhung danh giá vừa bị xé toạc, để lộ ra bản chất tàn độc phía sau.

"Đám tay sai dùng gậy tầm vông bịt sắt đánh gãy chân thợ cả Sáu," giọng bà Tám chùng xuống, mang theo âm hưởng tang thương rợn người. "Thằng Nhẫn, con trai ông Sáu, thấy cha bị đánh liền lao vào ôm lấy chân cụ Thừa mà van xin khóc lóc. Nó khóc rống lên, vạch trần âm mưu của cụ, bảo rằng chính mắt nó nửa đêm thấy người của cụ nhét chiếc lư hương vào rương. Lời nói của thằng nhỏ làm cụ Thừa thẹn quá hóa giận. Cụ sợ chuyện gian manh bại lộ, sợ mất mặt với quan trên và làng xóm, liền chỉ tay ra lệnh cho đám gia nhân: 'Đập chết cha con đứa vu khống này cho tao!'"

Bà Tám dừng lại, đưa tay quệt ngang khóe mắt nhăn nheo.

Gian nhà chính chìm vào sự im lặng nghẹt thở. Chỉ còn nghe thấy tiếng gió rít qua những khe ngói âm dương bị xô lệch trên mái cao và tiếng nước sông Tiền vỗ bì bõm vào chân cầu khỉ sau vườn.

"Bọn gia nhân say máu xúm lại," bà lão tiếp tục, thanh âm nghẹn đặc. "Một thanh gậy tầm vông đập thẳng vào đỉnh đầu thằng Nhẫn. Đứa con nít mười bốn tuổi ngã gục ngay trên sân gạch tàu này đây, máu non nhuộm đỏ một góc sân. Nó giãy giụa rồi tắt thở ngay trước mắt cha ruột nó. Thợ cả Phan Văn Sáu ôm xác con trai gào khóc đến mức nôn ra máu tươi, nhưng thân cô thế cô giữa đất Tiền Giang, ông không thể nào cứu được con mình. Đêm hôm đó, cụ Thừa sai người quẳng xác thằng nhỏ xuống mé rạch Ba Dầu, cho nước lớn cuốn trôi ra sông Tiền để phi tang chứng cớ."

Tôi bàng hoàng đứng chôn chân tại chỗ. Mặt đất dưới chân dường như chao đảo. Tôi nhìn xuống nền gạch tàu màu đỏ sẫm dưới chân bàn thờ. Những viên gạch nung cổ kính mà tôi từng lên kế hoạch đánh bóng để phục vụ khách du lịch phương Tây, giờ đây hiện lên như một bãi tha ma đẫm máu.

"Vậy... cỗ quan tài này..." Tôi chỉ tay vào chiếc mâm đồng, giọng run rẩy.

"Thợ cả Phan Văn Sáu không bỏ đi," bà Tám nói, ánh mắt nhìn xoáy vào mặt tôi. "Đêm hôm đó, ông lội bùn ven rạch vớt xác con trai lên. Đứa trẻ chết oan ức, hai mắt mở trừng trừng không chịu nhắm, oán khí ngút trời. Ông Sáu là đệ tử chân truyền của Lỗ Ban phái, ông biết rõ thuật yểm đoạt mạng. Người ta bảo, lúc ông vuốt mắt cho con, máu từ mắt thằng nhỏ chảy ròng ròng xuống ngực ông. Trong cơn uất hận tột cùng, ông Sáu đã dùng dao đục xương chặt lấy lóng tay út bàn tay phải của con trai mình lúc thi thể còn chưa kịp lạnh ngắt. Ông cắt một lọn tóc của nó, dùng chỉ ngũ sắc niệm chú Trùng tang phong ấn vào trong cỗ quan tài bằng gỗ vàng tâm."

Ông Bảy Hoài ôm mặt rên rỉ:

"Gỗ vàng tâm là loại gỗ liệm xác của vua quan... Dùng gỗ này làm hòm tí hon, nhốt phần thân thể đứa trẻ chết oan, đó là cách giam giữ linh hồn nó vĩnh viễn không cho đi đầu thai..."

"Chẳng những không cho đầu thai, mà còn bắt nó làm quỷ giữ nhà, biến nó thành lưỡi hái đoạt mạng con cháu họ Lê!" Bà Tám gằn giọng. "Đêm trước ngày gác đòn dông chính thức, thợ cả Sáu giả vờ khuất phục, lén quay lại căn nhà đang xây dở. Ông khoét một cái hộc rỗng ngay tại khớp mộng đòn dông gỗ lim trên nóc nhà, nhét cỗ quan tài chứa lóng tay con trai vào đó, trét kín bằng sáp ong pha máu tươi rồi ngậm ngùi bỏ xứ mà đi. Từ ngày cây đòn dông được đặt lên xà nóc, ngôi nhà này đã biến thành một ngôi mộ lộ thiên khổng lồ."

Tôi nhìn trừng trừng vào cỗ quan tài gỗ vàng tâm.

Đúng lúc đó, một sự việc dị thường diễn ra ngay trước mắt tôi. Lọn tóc người quấn quanh thân gỗ bỗng nhiên khẽ cựa quậy. Không có một ngọn gió nào lọt vào góc bàn đá, nhưng những sợi tóc đen nhánh kia lại tự động tách rời nhau ra, vặn vẹo như những con giun đất đang ngọ nguậy tìm đường thoát thân.

Từ khe nắp quan tài, dòng dịch màu đỏ sẫm không còn rỉ ra chầm chậm nữa. Nó ứa ra ồ ạt, trào qua mép gỗ vàng tâm, nhỏ từng giọt đặc quánh xuống tấm vải điều.

"Tách... tách..."

Từng giọt máu rơi xuống mặt vải đỏ, bốc lên một làn khói trắng mỏng tang kèm theo thứ mùi tanh tưởi đến lợm giọng. Đó là mùi của bùn non sông Tiền bị ủ kín hàng thế kỷ, mùi của tử khí mục rữa hòa lẫn với vị mặn chát của oán hận khôn cùng. Làn khói lượn lờ bay lên cao, cuộn tròn lại thành hình một gương mặt trẻ con méo mó, hai hốc mắt trống rỗng tối đen đang nhìn chằm chằm vào tôi.

Cơn sốt trong người tôi bùng phát dữ dội. Lồng ngực tôi nghẹn lại, một cơn ho dữ dội ập đến không cách nào kìm nén. Tôi gập người xuống, ôm chặt lấy ngực, ho sặc sụa.

"Khụ... khụ!"

Tôi phun ra một ngụm máu tươi đỏ thẫm ngay bên mép bàn cẩm thạch. Máu của tôi bắn tung tóe lên mặt đá, hòa lẫn với thứ dịch tanh tưởi từ cỗ quan tài bốc ra. Cơn đau thấu xương tủy lan từ ấn đường xuống cột sống, từng khớp xương trên cơ thể tôi kêu răng rắc như muốn gãy vụn.

"Cậu Khải Minh!" Bà Tám bước nhanh tới, nhưng bà không dám chạm vào người tôi. Bà đưa tay chặn ngang ngực ông Bảy Hoài khi ông thợ già định lao lên đỡ lấy tôi. "Đừng đụng vô nó! Máu trùng tang đang sôi! Huyết mạch của họ Lê đang bị nó đòi nợ!"

Tôi quỳ sụp một chân xuống nền gạch tàu, một tay chống vào thành bàn để giữ cho bản thân không ngã gục. Đầu óc tôi quay cuồng trong cơn mê loạn. Những ảo ảnh chập chờn hiện ra trước mắt tôi: tiếng gậy tầm vông đập chan chát vào da thịt, tiếng gào khóc xé lòng của người cha giữa đêm mưa rạch Ba Dầu, và tiếng cười ngạo mạn của người đàn ông trên bức di ảnh bàn thờ.

Một trăm năm qua, dòng họ Lê của tôi đã sống trong vinh hoa phú quý, con cháu đời đời ăn học thành tài, kiêu hãnh với cơ ngơi bề thế bên dòng sông Tiền. Nhưng tất cả sự thịnh vượng đó được xây dựng trên cái chết tức tưởi của một đứa trẻ mười bốn tuổi, trên nỗi đau cùng cực của một người cha bị cướp đoạt cả mồ hôi nước mắt lẫn đứa con ruột thịt duy nhất.

Cái giá phải trả cho tội ác của cụ tổ Lê Văn Thừa năm 1902 không bao giờ tan biến. Nó được niêm phong cẩn thận trong thớ gỗ lim của cây đòn dông, âm thầm tích tụ oán khí qua từng mùa mưa lũ miền Tây, chờ đợi thời cơ để bóp nghẹt từng người mang dòng máu họ Lê.

"Bà Tám..." Tôi ngước mặt lên, khóe miệng đầy máu, cất giọng yếu ớt nhưng run rẩy vì kinh hoàng. "Tại sao... tại sao nó lại chọn lúc này? Tại sao đời ông nội tôi, đời ba tôi... không ai nhắc tới chuyện này?"

Bà Tám Bến Tre nhìn tôi bằng ánh mắt bi thương, nếp nhăn nơi khóe mắt hằn sâu như những vết nứt trên mặt đất cằn cỗi. Bà chỉ tay vào vết máu đang không ngừng tuôn ra từ cỗ quan tài gỗ vàng tâm, giọng trầm buồn như vọng lại từ cõi âm:

"Đâu phải không nhắc tới... Ba đời trưởng nam của dòng họ Lê trước cậu, có ai sống sót qua tuổi bốn mươi đâu?"

Chương khác

Xem thêm