Lỗ Ban Thuật: Yểm Thắng - Chương 12: Thợ Mộc Tháo Ngói Âm Dương
Vết máu của hai người thợ bị rơi từ mái nhà xuống vẫn còn đọng thành từng vệt sẫm màu trên nền gạch tàu. Không khí trong gian nhà chính đặc quánh mùi…
Nội dung chương
Vết máu của hai người thợ bị rơi từ mái nhà xuống vẫn còn đọng thành từng vệt sẫm màu trên nền gạch tàu. Không khí trong gian nhà chính đặc quánh mùi tanh tao, quyện chặt lấy làn khói nhang trừ tà cay nồng mà bà Tám Bến Tre vừa đốt ở bốn góc cột cái. Nhóm thợ của ông Ba Đực đã tháo chạy sạch trơn, để lại những thanh giàn giáo kẽm đứng chơ vơ vươn thẳng lên nóc nhà tối om.
Tôi ngồi bệt xuống bậc thềm đá ong, lồng ngực co thắt từng cơn đau buốt. Mỗi nhịp thở hắt ra đều mang theo vị sắt tanh lợm của máu tươi nơi cuống họng. Tôi rút chiếc khăn tay trắng trong túi áo vest, ho bật ra một búng đờm lẫn những tia máu đỏ thẫm. Bàn tay phải của tôi, nơi vết loét ăn sâu vào thịt từ đêm thứ ba ngủ lại căn nhà, lúc này giật giật từng chập buốt nhức buốt xương tủy.
Lý trí của một kẻ tốt nghiệp thạc sĩ quản trị kinh doanh, quen giải quyết khủng hoảng bằng những con số và quy trình cơ học, đang bị dồn vào chân tường. Căn bệnh ho ra máu này y học hiện đại có thể giải thích bằng nhiễm nấm phổi hoặc độc tố từ gỗ mục, nhưng sự sụp đổ dây chuyền của những người thợ trèo lên xà nóc thì vượt ra ngoài mọi xác suất ngẫu nhiên. Dù vậy, tôi không chấp nhận bỏ chạy. Nếu quay lưng bước ra khỏi cánh cổng gỗ lim chạm rồng phượng kia, tôi biết bản thân cũng sẽ chết rũ mục trong một phòng cấp cứu nào đó mà không bao giờ biết được thứ gì đang gặm nhấm dòng máu họ Lê.
Tiếng bước chân lộp cộp trên nền gạch kéo tôi ra khỏi dòng suy nghĩ. Bà Tám Bến Tre dẫn theo một người đàn ông trạc sáu mươi tuổi, dáng người gầy guộc nhưng gân guốc, mặc chiếc áo bà ba màu xanh công nhân bạc phếch. Trên vai ông ta vắt một chiếc túi da đựng đồ nghề mộc cũ kỹ, tay cầm theo bó rễ cây ngải khô.
"Đây là ông Bảy Hoài," bà Tám lên tiếng, giọng khàn đặc vì hít phải khói nhang. "Thợ mộc trùng tu đình chùa lão thành miệt Chợ Lách. Tao phải đem uy tín cả đời ra bảo lãnh, ổng mới chịu theo tao tới đây ngó qua cái đòn dông."
Ông Bảy Hoài đặt chiếc túi đồ nghề xuống mặt bàn đá, ngước cặp mắt sâu hoắm lên nhìn khoảng trần nhà nơi các thanh giàn giáo đang cắm thẳng lên xà nóc. Ông ta rút tẩu thuốc rê ra châm lửa, rít một hơi dài rồi nhả khói trắng xóa về phía cây cột cái bằng gỗ lim:
"Cậu Khải Minh, hồi nãy chạy xe ngang qua đầu vàm, tui thấy xe cấp cứu chở thằng Hai với ông Chín đi rồi. Dân thợ mộc xứ này đồn ầm lên là xà nóc nhà cụ Lê Văn Thừa quật gãy chân thợ. Tui nhận lời bà Tám tới đây vì cái nghĩa ngày xưa bà cứu mạng con gái tui, chớ hổng phải vì tiền. Muốn tui leo lên đó, cậu phải chuẩn bị tinh thần nghe những chuyện cậu hổng muốn nghe."
Tôi đứng dậy, chỉnh lại cổ áo sơ mi dù mồ hôi lạnh đang ướt đẫm sau lưng:
"Tôi cần sự thật, thưa ông Bảy. Tôi cần biết cấu trúc cây đòn dông trên kia có vấn đề gì."
"Cấu trúc rui mè đòn dông thì có thợ mộc nào lạ," ông Bảy Hoài gõ nhẹ cán tẩu vào đùi. "Nhưng cái nhà này dựng từ năm 1902. Thời đó thợ cả Phan Văn Sáu là tay búa cừ khôi nhất Nam Kỳ Lục Tỉnh. Một đường đục của ổng ăn đứt ba đời thợ sau này. Nếu ổng đã cố ý giấu cái gì vô khớp mộng, mắt người thường dòm từ dưới đất lên ngàn năm cũng chẳng thấy."
Tôi với tay lấy chiếc đèn pin tuần tra công suất lớn mang từ Mỹ về, loại đèn vỏ nhôm chuyên dụng dùng cho lực lượng cứu hộ với độ sáng ba ngàn lumen, rồi thắt chặt đai bảo hộ quanh hông:
"Tôi sẽ leo lên cùng ông."
Bà Tám Bến Tre nhìn tôi, ánh mắt nghiêm nghị:
"Cậu ráng giữ chặt tâm trí. Máu trong người cậu đang sôi lên vì trùng độc, lên càng gần xà nóc, hơi lạnh càng ép tim cậu đập loạn. Cầm lấy nhánh ngải này ngậm chặt dưới lưỡi, khi nào thấy ngực nghẹn quá thì cắn mạnh cho nước đắng ứa ra."
Tôi nhận lấy nhánh ngải khô ráp từ tay bà lão, nhét vào khóe miệng. Vị đắng chát ngay lập tức xông thẳng lên vòm họng, át đi phần nào mùi tanh lợm của máu tươi.
Hai người chúng tôi bắt đầu bám vào các bậc thang sắt của giàn giáo. Từng bước chân nện lên thanh kim loại phát ra những tiếng rung bần bật vang vọng khắp gian nhà rộng lớn. Càng lên cao, không khí càng trở nên ngột ngạt và hầm hập. Lớp ngói âm dương bên ngoài đã bị bóc dỡ một mảng lớn vào buổi trưa, để lộ ra những tia nắng chiều nghiêng nghiêng rọi thẳng vào hệ thống rui mè đen nhánh bám đầy bụi thời gian.
Đến tầng giàn giáo thứ tư, độ cao đã cách mặt đất gần sáu mét. Tôi phải bám chặt hai tay vào gióng sắt để giữ thăng bằng khi một cơn chóng mặt ập đến. Tim tôi nện thình thịch vào lồng ngực như muốn xé toạc các xương sườn. Ngay trước mặt chúng tôi, nằm ngang qua trục chính của căn nhà, là cây đòn dông gỗ lim dài hơn mười mét, đường kính thân cây to bằng một vòng tay người ôm.
Thân gỗ lim màu nâu đen bóng nhẫy, thớ gỗ mịn màng và cứng như sắt nguội. Thế nhưng, tại vị trí giao nhau giữa đòn dông và đầu cột trâm trung tâm, một thứ mùi khó tả bắt đầu xộc thẳng vào mũi tôi. Đó không phải mùi ẩm mốc thông thường của gỗ mục, mà là mùi tanh của mỡ động vật ôi thiu hòa lẫn với mùi vải liệm mốc meo lâu ngày dưới lòng đất.
"Cậu rọi đèn vô đây," ông Bảy Hoài bám một tay vào thanh xà phụ, tay kia chỉ về phía khớp mộng đầu hồi.
Tôi bật công tắc đèn pin. Luồng ánh sáng trắng cực mạnh xé toạc bóng tối nhờ nhờ dưới mái ngói, rọi rõ từng đường vân gỗ và những nét chạm khắc hoa văn chữ Thọ chạy dọc thân đòn dông. Dưới ánh sáng quang phổ cao, bề mặt gỗ lim hiện lên những vết lồi lõm bất thường mà ban ngày nhìn từ dưới đất hoàn toàn không thể phát hiện.
Tại vị trí khớp mộng mang cá - nơi cây đòn dông ngàm chặt vào cột trụ đỡ mái - có một khe hở dài chừng hai tấc. Thông thường, các thợ mộc thời xưa khi đóng mộng liên kết sẽ dùng hỗn hợp vôi cật, mật mía và nhựa cây dầu rái để miết kín khe hở, ngăn mối mọt và nước mưa xâm nhập. Hỗn hợp truyền thống đó khi khô sẽ có màu xám trắng hoặc ngả vàng nhạt, cứng như đá vôi.
Thế nhưng, đường viền của khớp mộng này lại mang một màu đen kịt nhờn bóng.
"Cậu thấy cái mép mộng hổng?" Ông Bảy Hoài ghé sát mặt vào thân gỗ, ngón tay run rẩy đưa lên nhưng không dám chạm thẳng vào bề mặt. "Hổng có miếng vôi cật mật mía nào ở đây hết."
Tôi đưa đầu đèn pin lại gần hơn, khoảng cách chỉ còn vài centimet. Luồng sáng gom tụ làm hiện rõ chất liệu đang bít kín khe mộng. Đó là một lớp chất dẻo dày đặc, bề mặt gồ ghề và có những hạt cặn lợn cợn màu xám tro.
Ông Bảy Hoài rút từ túi đồ nghề ra một chiếc mũi dùi thép nhỏ. Ông thận trọng dùng đầu nhọn khẽ cạo một mẩu vụn nhỏ ở mép ngoài cùng của khe nứt. Một mẩu vật chất màu đen rơi ra, dính dấp trên đầu mũi thép.
Ông lão đưa mũi dùi lên gần mũi ngửi, rồi lập tức quay mặt đi, nôn thốc nôn tháo xuống khoảng không bên dưới.
"Sáp ong rừng... trộn tro giấy tiền vàng mã," ông Bảy Hoài thì thào, giọng run lên bần bật giữa tiếng gió rít qua khe ngói. "Lại còn có cả mỡ người... Mỡ người ướp xác chết trôi sông mới có cái mùi béo tanh ngấy như vầy! Quân ác độc!"
Cơn ớn lạnh chạy dọc từ thắt lưng lên tận chân tóc tôi. Tôi cắn mạnh nhánh ngải trong miệng, vị đắng ngắt làm đầu óc tôi tỉnh táo lại đôi chút:
"Tại sao lại dùng sáp ong trộn tro vàng mã để trám mộng?"
"Để giấu đồ và bít kín oán khí!" Ông Bảy Hoài đưa tay quệt mồ hôi đang vã ra như tắm trên trán. "Sáp ong cách ẩm tuyệt đối, tro vàng mã dẫn đường cho âm hồn, còn mỡ xác chết dùng để nuôi ngải. Thợ Lỗ Ban khi muốn trù ếm gia chủ tới đời đời kiếp kiếp, họ sẽ đục một cái hộc rỗng ngay giữa tim của khớp mộng đòn dông. Cây đòn dông là xương sống của cả căn nhà, gánh toàn bộ sinh khí của dòng họ. Khoét rỗng xương sống để nhét đồ độc vô trù ếm, thì con cháu trong nhà hổng chết đâm cũng chết chém, hổng điên dại cũng tuyệt tự trùng tang!"
Tôi nhìn chằm chằm vào vệt sáp đen. Dưới ánh đèn pin cực mạnh, tôi nhận thấy lớp sáp ong này không hề lấp đầy toàn bộ khe hở một cách ngẫu nhiên. Nó được miết phẳng một cách tỉ mỉ, tạo thành một cái nắp đậy hình chữ nhật dài khoảng một gang tay, rộng chừng ba ngón tay, ăn sâu vào phần lõi của thân gỗ lim.
Một hộc rỗng nhân tạo.
Về mặt cơ học kiến trúc, việc khoét một lỗ rỗng ngay tại điểm chịu lực uốn lớn nhất của cây đòn dông là một điều cấm kỵ tuyệt đối. Nó làm suy yếu cấu trúc chịu tải của toàn bộ hệ thống mái ngói nặng hàng tấn phía trên. Người thợ cả năm xưa nếu không có tay nghề đạt đến mức thượng thừa và tính toán chuẩn xác từng thớ gỗ chịu lực, thì khi đục cái hộc này ra, sức nặng của ngói âm dương đã bẻ gãy gập cây xà nóc ngay trong ngày cất nóc năm 1902. Kẻ tạo ra cái hộc này không chỉ là một phù thủy tà thuật, mà còn là một thiên tài về kết cấu gỗ. Hắn đã chấp nhận mạo hiểm cả tính mạng của mình để tạo ra một huyệt mộ rỗng ngay trên đỉnh đầu của gia tộc họ Lê.
"Bên trong cái hộc này... có cái gì?" Tôi hỏi, giọng nghẹn lại sau một cơn ho khan.
"Tui hổng biết," ông Bảy Hoài lùi lại nửa bước trên sàn giàn giáo, hai tay nắm chặt lấy thanh gióng sắt. "Nhưng chắc chắn hổng phải vàng bạc châu báu. Cậu nhìn kỹ mấy đường chỉ đỏ chìm dưới lớp sáp coi."
Tôi ghé mắt sát hơn nữa. Xuyên qua lớp sáp ong đen mờ đục, ẩn hiện những sợi chỉ nhỏ li ti đan chéo vào nhau theo hình mạng nhện. Những sợi chỉ này dường như được nhuộm bằng một loại phẩm màu đỏ sẫm, hoặc chính là máu tươi đã khô lại qua hơn một thế kỷ. Chúng giữ chặt lấy một vật thể hình khối chữ nhật nằm sâu bên trong thớ gỗ rỗng.
Đột nhiên, từ sâu bên trong cái hộc rỗng phát ra một tiếng "cách" rất nhỏ.
Âm thanh khô khốc vang lên như tiếng khớp xương người cử động sau một giấc ngủ dài. Cùng lúc đó, một làn hơi lạnh buốt từ khe sáp xì ra, phả thẳng vào mặt tôi. Đó là thứ khí lạnh của băng giá dưới mười độ âm, hoàn toàn đối nghịch với cái nóng hầm hập của buổi chiều miền Tây. Mùi tử khí nồng nặc ùa ra khiến tôi nghẹt thở, hai mắt cay xè.
Dưới sân gạch, tiếng gậy tre của bà Tám Bến Tre gõ dồn dập xuống nền đá:
"Khải Minh! Bảy Hoài! Thấy khớp mộng chưa? Đừng có lấy tay không đụng vô lớp sáp! Trùng tang ngậm máu một trăm năm mươi năm rồi, đụng vô là đứt mạch máu chết tươi đó!"
Tiếng cảnh báo của bà lão dội ngược từ dưới đất lên, hòa lẫn với tiếng gió sông Tiền bắt đầu thổi mạnh qua những khoảng ngói vỡ. Mặt trời đang lặn dần sau rặng bần bên kia sông, hắt những vệt nắng đỏ quạch như máu cuối cùng lên mái nhà cổ. Bóng tối đang nhanh chóng bò lên các chân cột lim, nuốt chửng từng gian phòng bên dưới.
Tôi nhìn xuống bàn tay mình. Lớp da quanh vết loét đang thâm đen lại với tốc độ nhìn thấy được bằng mắt thường, chất dịch nhờn rỉ ra bắt đầu bốc mùi y hệt mùi sáp ong trên xà nóc. Thời gian của tôi không còn tính bằng ngày nữa, mà đang tính bằng từng giờ.
"Ông Bảy," tôi quay sang nhìn người thợ già, ánh mắt lạnh băng không một tia dao động. "Đem đục sắt ra đây."
Ông Bảy Hoài biến sắc, lùi sát người vào vách tường gạch:
"Cậu điên rồi! Nạy nắp sáp ra lúc trời sụp tối là rước nguyên con quỷ Lỗ Ban ra ngoài! Bùa chưa giải mà phá mộng, cả cái nhà này sập đè chết hết bây giờ!"
"Nếu không nạy nó ra, tối nay tôi cũng chết!" Tôi gằn giọng, hơi thở nặng nhọc phả ra mùi máu. "Tôi không chết vì nhà sập thì cũng chết vì đống trùng độc này! Đưa cây đục cho tôi, hoặc chính ông làm!"
Ông Bảy Hoài nhìn gương mặt đanh lại vì đau đớn và quyết tâm điên cuồng của tôi, rồi nhìn xuống đôi bàn tay run lẩy bẩy của chính mình. Sự giằng xé hiện rõ trên từng nếp nhăn nơi khóe mắt người thợ mộc già. Ông hiểu rõ quy luật của nghề mộc: một khi đã nhìn thấy yểm thắng lộ thiên, người thợ hoặc là quay đầu bỏ chạy để giữ mạng, hoặc phải đi tới cùng để hóa giải nghiệp chướng của tiền nhân.
Một cơn gió chướng thổi thốc từ mé sông Tiền vào, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống giàn giáo sắt. Những thanh gióng va vào nhau kêu leng keng rợn người. Cây đa cổ thụ hai trăm năm trước sân nhà xào xạc lá, cành nhánh cọ vào mái ngói âm dương phát ra những âm thanh rin rít như tiếng móng tay cào trên gỗ.
Ông Bảy Hoài nghiến chặt răng, chửi thề một tiếng bằng phương ngữ Nam Bộ. Ông thò tay vào chiếc túi da đeo bên hông, rút ra một cây đục sắt bản dẹt đã mòn vẹt đầu vì năm tháng, chuôi đục bằng gỗ trắc lên nước bóng loáng. Cùng với đó là một chiếc búa gõ nhỏ bằng đồng thau đen xỉn.
"Cậu Khải Minh, mạng cậu lớn hay mạng tui lớn, tối nay trông cậy vô trời đất," ông Bảy Hoài thì thầm, bàn tay gân guốc nắm chặt lấy cán búa đồng.
Ông bước lên một thanh giàn giáo cao hơn, điều chỉnh tư thế đứng vững chãi, rồi cẩn thận đặt lưỡi đục sắt sắc lẹm áp sát vào mép ngoài của lớp sáp ong đen kịt đang bít kín hộc rỗng.
Lưỡi đục vừa chạm vào bề mặt sáp, một luồng khói mỏng màu xám tro bất thần xì ra từ thớ gỗ, accompanied bởi một tiếng rít the thé tựa như tiếng thở dài của kẻ bị chôn sống dưới mồ sâu. Cây đòn dông gỗ lim dài mười mét dưới chân chúng tôi khẽ rùng mình một cái, truyền đi một xung lực run rẩy chạy dọc suốt chiều dài của ngôi nhà trăm cột.