Lỗ Ban Thuật: Yểm Thắng - Chương 13: Hộc Rỗng Trong Khớp Mộng Đòn Dông
Mũi đục sắt mài vẹt cắm sâu vào mép lớp sáp ong đen kịt. Mỗi nhát búa đồng của ông Bảy Hoài gõ xuống đều phát ra tiếng "chát, chát" khô khốc xé toạc…
Nội dung chương
Mũi đục sắt mài vẹt cắm sâu vào mép lớp sáp ong đen kịt.
Mỗi nhát búa đồng của ông Bảy Hoài gõ xuống đều phát ra tiếng "chát, chát" khô khốc xé toạc không gian ngột ngạt trên nóc nhà. Lớp sáp phong kín suốt hơn một trăm năm đã biến tính, cứng chắc chẳng khác nào đá hoa cương, nhưng dưới sức nặng của lưỡi thép già, từng mảng sáp xám đen bắt đầu rạn vỡ.
Mùi tử khí tích tụ cả thế kỷ lập tức tuôn trào ra ngoài qua những đường nứt chân chim. Đó là mùi bùn sình thối rữa dưới đáy sông Tiền trộn lẫn với mùi mỡ người đông đặc và vị tanh lợm của máu khô. Thứ mùi đặc quánh ấy ập thẳng vào sống mũi khiến cuống họng tôi thắt lại, mật xanh mật vàng trào ngược lên tận miệng. Tôi phải bấu chặt các đầu ngón tay vào thanh gióng sắt của giàn giáo để khỏi ngã nhào xuống nền gạch bên dưới.
"Cẩn thận cái tay, cậu Khải Minh!" Giọng ông Bảy Hoài khản đặc sau lớp khăn rằn bịt kín nửa mặt. Mắt ông trợn tròn sau tròng kiếng lão mờ đục, hai bắp tay gân guốc nổi phồng lên khi ghìm chặt chuôi đục gỗ trắc. "Mộng gỗ lim này ăn sâu vô đòn dông tới ba tấc. Đục lệch một phân làm phạm vô tim xà là nguyên cái rui mè nó vặn gãy hết!"
Dưới sân gạch, bóng tối đã bắt đầu nuốt chửng những khoảng sáng cuối cùng rớt lại sau rặng bần. Gió chướng từ mé sông Tiền thổi thốc qua những khoảng trống do ngói âm dương bị dỡ bỏ, cuốn theo hơi nước lạnh buốt rít qua các khe gỗ. Cây đa cổ thụ hai trăm năm tuổi trước cổng liên tục quất cành vào vách tường gạch, phát ra chuỗi âm thanh kẽo kẹt rợn người.
"Bảy Hoài! Nhẹ tay thôi!" Tiếng bà Tám Bến Tre từ dưới đất dội thẳng lên, khô khốc và sắc nhọn. "Dưới lớp sáp là then gài bằng chỉ ngũ sắc! Đứt một sợi là huyết oán nó xộc thẳng vô mặt hai đứa bây đó!"
Ông Bảy Hoài nghiến chặt hàm răng rụng gần hết, mồ hôi túa ra đầm đìa hai bên thái dương, chảy ròng ròng xuống cằm rồi rơi lộp bộp lên mặt gỗ lim xám xịt. Lưỡi đục sắt của ông lách ngang một đường cực kỳ điêu luyện. Từng miếng sáp bong ra, để lộ ra miệng một chiếc hộc nhỏ hình chữ nhật nằm gọn lỏn ngay chính giữa khớp mộng đuôi én nối giữa cây đòn dông và cột cái số bốn.
Chiếc hộc này được khoét bằng tay với độ chính xác đến từng mi-li-mét. Đường viền mép gỗ nhẵn thín, chứng tỏ kẻ thi công đã dùng loại đục lòng máng tinh xảo nhất của phường thợ mộc xưa.
"Rớt miếng sáp lớn rồi!" Ông Bảy Hoài thốt lên, giọng lạc hẳn đi.
Một mảng sáp tròn bằng miệng chén rơi tụt xuống sàn giàn giáo, vỡ vụn thành lớp bột màu chì.
Không gian bên trong hộc rỗng lộ diện dưới luồng ánh sáng vàng vọt từ chiếc đèn pin đội đầu của tôi. Sâu chừng mười lăm phân trong lòng thớ gỗ lim đỏ sẫm, một vật thể nằm yên lìm trên lớp mạt cưa mịn như nhung.
Nó dài chưa đầy một ngón tay trỏ.
Cả người tôi đông cứng lại trên độ cao sáu mét. Vết loét trên mu bàn tay tôi bất thần nhói buốt, từng mạch máu giật nảy lên theo nhịp tim dồn dập. Trước mắt tôi là một cỗ quan tài thu nhỏ, hoàn chỉnh đến từng chi tiết góc cạnh, từ phần nắp vát tròn hình mai rùa cho đến bốn vách áo quan khép kín không hở một sợi tóc.
Chất gỗ làm nên chiếc quan tài tí hon này có màu vàng óng pha sắc xanh xám đặc trưng. Đó là gỗ vàng tâm, loại danh mộc đắt đỏ bậc nhất chỉ dùng đóng áo quan cho bậc quyền quý thời xưa, thứ gỗ dù chôn sâu dưới ba thước đất ngập úng qua trăm năm cũng không hề mục rữa hay bị mối mọt xâm thực.
Bao bọc bên ngoài cỗ quan tài không phải dây thép hay dây mây, mà là một mạng lưới chằng chịt bện bằng năm sợi chỉ màu: xanh, đỏ, trắng, đen, vàng. Từng nút thắt ngũ sắc đan cài vào nhau theo thế bát quái trói hồn, siết chặt lấy thân gỗ vàng tâm. Lồng vào giữa những sợi chỉ ngũ sắc ấy là một lọn tóc người đen nhánh, dài mượt, quấn quanh nắp quan tài ba vòng bảy lượt. Dưới ánh đèn pin quét qua, lọn tóc đen tuyền đó bóng nhẫy dầu mỡ, tươi nguyên lạ thường, hoàn toàn đối lập với tuổi đời hơn một thế kỷ của ngôi nhà cổ.
"Gỗ vàng tâm... chỉ ngũ hành trói vía... tóc đồng nam..." Ông Bảy Hoài run rẩy lùi lại, cây búa đồng trên tay ông va vào thanh sắt giàn giáo kêu leng keng. "Đúng là Lỗ Ban sát rồi! Thợ cả Phan Văn Sáu năm đó dùng ngải hòm trù ếm tận xương tủy nhà họ Lê!"
"Bốc nó ra mau!" Tôi thở dốc, một cơn ho bất thần xộc lên cổ họng làm tôi phun ra một búng bọt máu dính đầy ngực áo sơ mi. "Mau lên ông Bảy! Tôi không thở nổi nữa rồi!"
"Cậu Khải Minh, tui... tui hổng dám rờ vô đâu!" Người thợ già lắc đầu quầy quậy, gương mặt tái mét không còn một giọt máu. "Quy tắc đời thợ tụi tui, đụng tay trần vô hòm yểm là mang họa tam đại, chết không đất chôn thây! Cậu là đích tôn họ Lê, nợ máu của nhà cậu thì chính tay cậu phải gỡ!"
Lời nói của ông Bảy Hoài rớt vào giữa cơn gió rít gào buốt lạnh.
Mọi lý thuyết kinh doanh, mọi sự kiêu hãnh của một kẻ nắm trong tay tấm bằng MBA Stanford và hàng triệu đô la đầu tư giờ đây đều trở nên vô nghĩa trước mảnh gỗ vàng tâm bé nhỏ này. Tôi nhìn xuống bàn tay phải của mình, những vệt máu thâm tím đã bò lan qua cổ tay, tiến sát về phía khuỷu. Cơ thể tôi đang thối rữa từ bên trong. Chờ đợi thêm một phút đồng nghĩa với việc đặt một chân vào cửa tử.
Tôi hít một hơi thật sâu, nén chặt cơn buồn nôn đang dâng lên nghẹn ứ, rồi vươn những ngón tay run rẩy thò thẳng vào miệng hộc rỗng trên cây đòn dông.
Khoảng không gian bên trong khúc gỗ lim lạnh lẽo tột cùng. Không khí ở đó giống như bị nhốt trong một hầm băng vĩnh cửu, vừa đưa ngón tay vào, da thịt tôi đã tê dại đi vì buốt giá. Các đầu ngón tay tôi chạm vào bề mặt gỗ vàng tâm. Cảm giác nhẵn mịn, ẩm ướt truyền thẳng qua da thịt, mang theo một lực hút vô hình ghì riết lấy bàn tay tôi. Lọn tóc đen quấn quanh thân quan tài cọ vào đầu ngón trỏ của tôi mềm mại một cách quái đản, cảm giác y hệt như đang luồn tay vào mái tóc của một đứa trẻ còn sống.
Tôi cắn chặt môi đến bật máu, dùng hai đầu ngón tay kẹp chặt lấy thân cỗ quan tài tí hon, vận sức kéo mạnh ra ngoài.
"Rắc!"
Một tiếng nẹp gỗ bật ra rất giòn vang lên bên trong khớp mộng.
Khối gỗ vàng tâm rời khỏi vị trí giam hãm suốt một trăm hai mươi năm, rơi gọn vào lòng bàn tay tôi.
Cái lạnh thấu xương lập tức từ lòng bàn tay phóng thẳng lên cánh tay, xuyên qua tủy sống rồi ập vào tim. Cả người tôi co rúm lại, hai hàm răng va vào nhau cầm cập. Cỗ quan tài bé bằng ngón tay nặng trịch một cách phi lý, sức nặng của nó trong lòng bàn tay tôi chẳng khác nào một khối chì đúc đặc. Những sợi chỉ ngũ sắc quấn chặt bên ngoài dường như đang siết mạnh hơn, ép chặt lấy lọn tóc đen nhánh.
Đúng vào giây phút cỗ quan tài nằm trọn trong tay tôi, biến cố kinh hoàng ập đến.
Một âm thanh trầm đục, rền vang như tiếng sấm ngầm dưới lòng đất bất ngờ phát ra từ sâu bên trong hệ thống cột kèo.
"Rầm... rầm... rầm..."
Cả một trăm cây cột gỗ lim to bằng hai người ôm đồng loạt rùng mình chuyển động. Toàn bộ căn nhà cổ rộng hai ngàn năm trăm mét vuông run rẩy dữ dội. Những viên ngói âm dương còn sót lại trên mái nhà xô vào nhau loảng xoảng, bụi vôi vữa trắng xóa và phân dơi khô rớt xuống rào rào như mưa trút. Những thanh xà nóc, rui mè, đòn tay vặn xoắn lấy nhau, phát ra những tiếng kêu răng rắc ghê rợn tựa như xương cốt của một con quái vật khổng lồ đang bị bẻ gãy từng khúc.
"Sập nhà rồi! Mau leo xuống!" Ông Bảy Hoài thất thanh gào thét, hai tay bám chặt vào thang sắt của giàn giáo tụt thục mạng xuống đất, bỏ mặc cả búa đồng lẫn đục sắt trên sàn thao tác.
Giàn giáo sắt chao đảo ngả nghiêng. Tôi phải hạ thấp trọng tâm, ngồi thụp xuống thanh gióng ngang, một tay nắm chặt cột sắt, tay kia siết chặt cỗ quan tài vàng tâm giấu vào trước ngực.
Đột nhiên, một giọt chất lỏng ấm nóng từ đỉnh xà nóc rơi thẳng xuống mặt tôi.
"Tách."
Giọt nước ấy rớt trúng ngay vị trí ấn đường, giữa hai hàng lông mày của tôi.
Cơn buốt lạnh trên người tôi bỗng chốc bốc cháy hừng hực ngay tại điểm tiếp xúc. Tôi đưa mu bàn tay áo quẹt vội lên trán rồi nhìn xuống.
Đó là một giọt máu tươi đỏ thẫm.
Máu không hề có mùi tanh thông thường, mà bốc lên nồng nặc mùi bùn non phù sa của dòng sông Tiền, pha lẫn vị ngai ngái của cỏ dại ven rạch. Ngay trên đầu tôi, từ khe hở của khớp mộng đòn dông nơi vừa bị rút cỗ quan tài ra, một dòng máu tươi đỏ rực bắt đầu rỉ ra thành dòng, chầm chậm bò dọc theo thớ gỗ lim xám xịt rồi nhỏ giọt xuống sàn giàn giáo. Cây đòn dông bằng gỗ vô tri dường như đang ứa máu từ vết thương vừa bị bóc trần.
"Khải Minh! Nhảy xuống mau! Giữ chặt cái hòm, đừng để nó chạm đất!"
Tiếng bà Tám Bến Tre thét lớn át cả tiếng rui mè cọ xát. Tôi nhìn xuống bên dưới. Qua làn bụi vôi mù mịt, bà Tám đang đứng giữa gian chính, hai tay cầm chiếc mâm đồng lớn phủ một tấm vải điều đỏ rực, ngửa mặt lên nhìn tôi với đôi mắt sáng quắc đầy lo âu.
Cơn rung chuyển của ngôi nhà mỗi lúc một dữ dội hơn. Khung giàn giáo sắt bắt đầu nghiêng hẳn về phía tây, các khớp nối bulông kêu răng rắc sắp sửa bung ra.
Tôi không còn thời gian để chần chừ. Bọc cỗ quan tài nhỏ xíu vào lòng bàn tay bị thương, tôi bám lấy cột giàn giáo rồi trượt nhanh xuống từng nấc thang tre. Sức nóng từ ấn đường lan tỏa khắp da đầu, hòa lẫn với cái lạnh chết chóc từ bàn tay đang nắm giữ vật yểm tạo thành hai luồng xung lực đối nghịch cào xé cơ thể tôi. Chân tôi vừa chạm xuống nền gạch tàu cứng như đá ong thì hệ thống giàn giáo sắt phía trên rầm rầm đổ nghiêng, đập mạnh vào vách tường gạch tạo nên một âm thanh đinh tai nhức óc.
Ông Bảy Hoài đang ngồi bệt dưới chân cột cái, ôm đầu thở dốc, cả người run rẩy không ngừng.
"Đặt lên mâm! Mau lên cậu!" Bà Tám Bến Tre bước giật lùi về phía chiếc bàn tròn bằng đá cẩm thạch đặt giữa gian thờ tổ tiên, đặt chiếc mâm đồng xuống mặt bàn rồi giục giã.
Tôi bước từng bước nặng nề lại gần chiếc bàn đá, mỗi bước đi tựa như mang theo chì nặng nghìn cân. Cánh tay phải của tôi lúc này đã tê liệt hoàn toàn, các khớp ngón tay cứng đờ lại như xác chết. Tôi phải dùng bàn tay trái gỡ từng ngón tay phải ra để cỗ quan tài vàng tâm rơi xuống giữa tấm vải điều đỏ thắm.
"Keng."
Vật yểm chạm vào lòng mâm đồng phát ra một tiếng vang thanh mảnh nhưng vang vọng khắp gian nhà rộng lớn.
Ngay khi cỗ quan tài nằm gọn trên tấm vải điều, toàn bộ cơn rung lắc của một trăm cây cột lim bỗng nhiên ngừng bặt. Sự tĩnh lặng đột ngột quay trở lại, đặc quánh và ngột ngạt đến mức nghe rõ cả tiếng muỗi vo ve ngoài hiên và tiếng thở dốc hỗn hển của ba con người còn sống sót.
Bà Tám Bến Tre vội vã thò tay vào túi áo bà ba nâu sòng, rút ra một nắm muối hột trộn lẫn với gạo sống, rắc một vòng tròn khép kín quanh mép chiếc mâm đồng. Miệng bà lầm rầm niệm những câu chú cổ bằng phương ngữ Nam Bộ mà tôi không thể nào nghe rõ từng chữ. Sau khi rải xong vòng bảo vệ, bà lão mới chống cây gậy tre, cúi gập tấm lưng còng xuống sát chiếc mâm, nheo đôi mắt đục ngầu quan sát vật thể vừa được lôi ra từ bóng tối trăm năm.
Dưới ánh sáng của ngọn đèn măng-sông treo trên xà nhà, cỗ quan tài gỗ vàng tâm hiện lên rõ mồn một.
Nó nhỏ nhắn đến mức đáng thương, chỉ vừa vặn bằng một ngón tay người lớn, nhưng từng đường nét chạm trổ đều toát lên vẻ trang nghiêm quái dị của một ngôi mộ phần thực thụ. Lọn tóc người đen nhánh quấn quanh thân gỗ dưới ánh đèn không hề có vẻ gì là đã khô héo, từng sợi tóc vẫn mềm mại, căng bóng, quấn chặt lấy các nút thắt chỉ ngũ sắc.
Từ các khe hẹp giữa nắp và thân quan tài, một vệt dịch lỏng màu đỏ sẫm đang chầm chậm ứa ra, thấm ướt một góc tấm vải điều màu đỏ. Mùi phù sa sông nước và mùi máu tanh nồng lại bốc lên ngùn ngụt từ chiếc mâm đồng.
"Trùng tang yểm... Đoạt mạng tuyệt tự..." Bà Tám run rẩy đưa đầu ngón tay nhăn nheo chạm nhẹ vào lớp chỉ ngũ sắc, rồi rút tay lại như vừa bị lửa thiêu. Bà ngước nhìn tôi, đôi môi nhai trầu run bần bật, giọng nói trĩu nặng sự kinh hãi tột cùng: "Cậu Khải Minh... cái thứ nằm bên trong cỗ quan tài này không phải bùa giấy vẽ mực chu sa đâu."
Tôi đứng vịn vào mép bàn đá, vết thương nơi ấn đường vẫn rỉ ra dòng máu tươi ấm nóng, chảy dài xuống sống mũi rồi đọng lại nơi khóe môi một vị mặn chát. Cơn đau buốt từ bàn tay truyền thẳng vào đại não, nhưng tâm trí tôi lúc này hoàn toàn bị hút chặt vào vật thể nhỏ bé trước mặt.
"Nó là cái gì, bà Tám?" Tôi gằn từng tiếng qua kẽ răng.
Bà lão thở dài một tiếng sầu thảm, ánh mắt nhìn trừng trừng vào vệt máu tươi đang rỉ ra từ cỗ quan tài gỗ vàng tâm:
"Bên trong này là một lóng tay út của một đứa trẻ. Một đứa con nít bị chết oan uổng, bị người ta chặt lấy ngón tay lúc vừa tắt thở để luyện bùa ngải chôn sống lên xà nóc nhà cậu từ năm 1902."