Lỗ Ban Thuật: Yểm Thắng - Chương 10: Bóng Ma Trong Cơn Ho Ra Máu

Tiếng "tõm" thứ hai rơi xuống, đập vỡ tan sự ngột ngạt của buổi trưa đứng bóng. Tôi giữ chặt cánh cửa bức bàn, các khớp ngón tay cứng đờ vì lạnh dù ngoài…

Nội dung chương

Tiếng "tõm" thứ hai rơi xuống, đập vỡ tan sự ngột ngạt của buổi trưa đứng bóng.

Tôi giữ chặt cánh cửa bức bàn, các khớp ngón tay cứng đờ vì lạnh dù ngoài sân gạch tàu, hơi nóng từ những phiến đá ong bốc lên hầm hập. Trời tháng Ba miền Tây nắng như đổ lửa thiêu đốt cả dải phù sa ven sông Tiền. Suốt hơn hai tuần qua, không có lấy một gợn mây xám ngang qua bầu trời, mặt nước con rạch trước nhà cạn trơ đáy bùn nứt nẻ. Vậy mà ngay bên trên đỉnh đầu tôi, nơi trần gỗ lim bóng loáng đã khô khốc suốt hơn một thế kỷ, từng giọt chất lỏng đang nhỏ xuống sàn gạch.

Bà Tám Bến Tre đứng sững giữa ngạch cửa, đôi mắt đục ngầu trừng lên khoảng tối giữa những hàng rui mè dày đặc. Chiếc khăn rằn quấn trên cổ bà khẽ lay động theo từng nhịp thở dồn dập.

"Lùi lại, Khải Minh!" Bà Tám gằn giọng, bàn tay gầy guộc đầy những đốm đồi mồi vươn ra đẩy mạnh vào vai tôi. "Đừng bước vào luồng rơi của nó."

Tôi không lùi. Đôi giày tây đóng đế da cọt kẹt trên nền gạch tàu khi tôi rảo bước về phía phát ra âm thanh. Giữa khoảng ranh giới nối liền gian thờ tự với buồng ngủ phía tây, một vũng nước nhỏ đã đọng lại trên mặt sàn.

Vũng nước không trong suốt. Dưới ánh nắng vàng rực rọi xiên qua song cửa sổ con tiện, vệt nước hiện rõ một màu đỏ thẫm quánh đặc. Nó sủi bọt lăn tăn trên bề mặt đất nung đỏ au của viên gạch tàu, bốc lên một làn khói mỏng manh gần như vô hình cùng mùi tanh lợm giọng. Mùi rữa nát của bùn đáy sông trộn lẫn với mùi da thịt người ngâm nước lâu ngày xộc thẳng vào mũi, khiến cuống họng tôi cồn cào từng cơn buồn nôn dữ dội.

"Cái gì thế này?" Tôi ngước mắt nhìn thẳng lên trần nhà cao sáu mét.

Hệ thống xà ngang, đòn tay bằng gỗ lim vẫn đen nhánh, vuông vức và vững chãi. Nhưng ngay tại điểm mộng chốt gối lên thân cây cột cái số một, thớ gỗ lim vốn trơ lì trước thời gian nay lại rịn ra những giọt dịch nhầy nhụa. Chất lỏng màu huyết dụ rỉ ra từ kẽ hở giữa hai thanh gỗ lớn, đọng lại thành từng giọt căng tròn trước khi buông mình rơi tự do xuống đất.

Gỗ lim đỏ dầu là chuyện bình thường khi mới khai thác, nhưng đây là ngôi nhà đã qua một trăm hai mươi năm tuổi thọ. Toàn bộ nhựa sống của thân cây đã chết từ ngày cụ tổ Lê Văn Thừa dựng rui đặt nóc. Thứ đang ứa ra từ khớp mộng này không thể nào là nhựa cây.

"Nhà có tang máu thì nóc nhà đổ lệ," Bà Tám bước chầm chậm lại gần, rút từ cơi trầu ra một nhánh rễ cau khô rồi vứt thẳng vào vũng dịch đỏ trên sàn.

Ngay khi chạm vào chất lỏng, nhánh rễ cau khô cong queo lập tức bốc lên một tiếng xèo chói tai, lớp vỏ ngoài sém đen lại hệt như bị nhúng vào chảo mỡ sôi.

"Đó là uế dịch của trùng tang yểm," Bà Tám thì thầm, giọng nói khàn đặc run rẩy. "Vật yểm giấu trong đòn dông bị cậu phát hiện hành tung, tà khí bắt đầu tụ lại để tự vệ. Nó đang thúc ép sinh mạng của cậu đấy. Cái thứ bùa Lỗ Ban này một khi đã ngấm vào xà nóc, nó sẽ gặm nhấm phúc phần của chủ nhà cho đến giọt máu cuối cùng. Nắng hạn trơ gốc rạ mà trên nóc đổ huyết, đây là điềm tận diệt của dòng giống họ Lê."

Tôi siết chặt quai hàm, cố gắng duy trì sự bình tĩnh của một người từng quản lý hàng chục dự án đầu tư rủi ro. Tất cả những gì tôi được đào tạo tại phương Tây đều dạy tôi rằng mọi hiện tượng vật chất đều có nguyên nhân cơ học. Nhưng mùi xác chết đang bốc lên ngùn ngụt kia là thật, và vệt nước sôi sục trên nền đá gạch tàu kia cũng là thật.

Tôi tiến thêm một bước nhỏ, nghiêng đầu cố nhìn sâu hơn vào rãnh mộng trên xà nhà để xác định hướng chảy:

"Bà Tám, bà nhìn xem, chất dịch này không chảy tràn lan. Nó chỉ rỉ ra duy nhất từ cái khớp mộng thứ hai tính từ đòn dông chính gối vào đầu cột. Điểm yểm bùa nằm ngay tại vị trí đó."

"Cậu đứng xa ra!" Bà Tám quát lên thất thanh.

Lời cảnh báo của bà lão vừa dứt thì một tiếng rách toạc rất khẽ vang lên trên đầu. Một giọt dịch đỏ sẫm to bằng hạt ngô tách khỏi thớ gỗ lim, lao thẳng xuống không gian bên dưới.

Tôi nhận ra hiểm họa và giật mình lùi lại nửa bước, nhưng quán tính không kịp cứu tôi hoàn toàn. Giọt chất lỏng rơi trúng mu bàn tay trái.

Một cơn đau nhói buốt xộc thẳng lên tận đỉnh đầu. Cảm giác đau đớn dữ dội ập đến, nóng rát như thể có người vừa dí một đầu thanh sắt nung đỏ hay gạt tàn xì gà đang cháy dở vào da thịt. Chất dịch đỏ quánh lập tức ăn thủng lớp biểu bì, làm da tôi cháy xém, sủi bọt trắng đục rồi loang ra thành một vết loét tròn trịa bằng đồng xu.

Mùi thịt sống cháy khét quyện với mùi tanh nồng xộc thẳng vào xoang mũi. Cơn bỏng rát không dừng lại ở bề mặt da mà cắn sâu vào từng bó cơ, khiến các đường gân xanh trên mu bàn tay tôi giật nảy liên hồi, tím tái lại thành một mảng thâm sì như máu đọng dưới da tử thi.

"Chết tiệt!" Tôi nghiến răng rít lên qua kẽ môi, ôm chặt cổ tay lảo đảo lùi lại phía sau.

Bà Tám lập tức nhào tới, túm lấy vạt áo bà ba nâu chà mạnh lên vết thương của tôi để gạt phăng giọt độc dịch còn sót lại. Bà thò tay móc từ túi vải chàm ra một nắm vôi ăn trầu màu trắng đục, không chần chừ trát thẳng lên vết loét đang sôi xèo xèo.

Cơn rát bỏng bùng lên gấp đôi khiến mắt tôi tối sầm, hai đầu gối chực khuỵu xuống mặt sàn. Tôi phải cắn chặt môi dưới đến bật máu để không bật ra tiếng thét hèn nhát. Chất kiềm của vôi ăn trầu bắt đầu trung hòa thứ dịch nhầy quái ác, dập tắt ngọn lửa vô hình đang thiêu đốt các mạch máu.

"May cho cậu là dính phải giọt rơi lẻ loi," Bà Tám vừa ấn chặt vạt áo vừa thở hổn hển, mồ hôi vã ra như tắm trên vầng trán nhăn nheo. "Nếu để nó rỏ trúng đỉnh đầu, đục thủng thiên môn thì hồn vía cậu bị hút sạch vào cây đòn dông ngay tức khắc. Máu này là máu độc của người chết oan ngâm trong bùn rạch Bến Tre cả trăm năm trước, mang theo oán niệm Lỗ Ban không tan được."

Tôi nhìn xuống mu bàn tay mình. Lớp vôi trắng đã chuyển sang màu xám ngoét, vết thương sưng phồng lên thâm đen, nhưng cơn bỏng rát đã dịu đi đôi chút, chỉ còn lại cảm giác tê buốt chạy dọc theo các dây thần kinh lên đến tận vai.

Cơn đau thể xác không làm tôi tê liệt, ngược lại, nó kích hoạt toàn bộ bản năng sinh tồn hung hãn nhất. Cái chết không còn là một khái niệm trừu tượng nằm trong lời nguyền hay giấc mơ nữa. Nó là thứ độc chất có thật, đang rỉ ra từng giọt trên mái nhà của tổ tiên tôi, sẵn sàng biến tôi thành cái xác khô đen sì hai lá phổi trong vòng vài ngày tới.

Tôi nhìn vũng máu loãng trên nền gạch tàu vẫn đang không ngừng lan rộng.

"Phải dỡ mái nhà ngay lập tức," tôi nói, giọng trầm đặc và dứt khoát. "Không thể chờ đến ngày mai. Tôi phải bóc toàn bộ lớp ngói âm dương trên cái khớp mộng đó xuống trước khi trời tối."

"Cậu tìm ai dỡ?" Bà Tám phủi tay áo, mắt vẫn không rời khỏi vệt nước đỏ quạnh trên trần gỗ. "Thợ vùng này vừa nghe tiếng nhà trăm cột là quăng cưa quăng đục chạy mất dép. Chuyện con trai thợ Sáu chết thảm năm xưa truyền từ đời này sang đời khác, ai dám trèo lên đòn dông họ Lê mà kiếm cơm?"

"Họ chạy vì tiền chưa đủ nhiều," tôi lạnh lùng rút chiếc điện thoại từ túi áo vest, màn hình sáng lên phản chiếu khuôn mặt nhợt nhạt của tôi. "Trên đời này không có thứ gì không mua được bằng tiền. Nếu năm mươi triệu không xong, tôi trả một trăm triệu. Một ngày công bằng cả năm họ làm lụng, ắt sẽ có người dám liều mạng."

Tôi lướt nhanh danh bạ, tìm đến số điện thoại của ông Ba Đực, người thầu xây dựng chuyên phục dựng nhà cổ nổi tiếng nhất ở mỏm cù lao bên kia sông Tiền, người từng chào giá gói thầu cải tạo khu nghỉ dưỡng với tôi tuần trước.

Tiếng chuông điện thoại đổ từng hồi dài lê thê giữa không gian tĩnh mịch của gian nhà cổ. Mỗi tiếng tút dài dường như hòa cùng nhịp rơi của những giọt dịch quái dị từ trên xà nóc. Tõm. Tõm. Từng giọt một rớt đều đặn xuống nền gạch, khoét sâu vào nỗi hoang mang tột độ.

Đầu dây bên kia bắt máy, giọng khàn khàn của một người đàn ông miền Tây sực mùi thuốc lá rê:

"A lô, cậu Khải Minh phải hôn? Bữa nay cậu chốt bản vẽ khu nghỉ dưỡng chưa để tui cho tụi nhỏ chuẩn bị cây mè với gỗ?"

"Ông Ba Đực," tôi cắt ngang lời ông ta, giọng đanh lại. "Tôi cần một đội thợ mộc cứng tay nghề nhất của ông. Bảy người, mang đầy đủ giàn giáo sắt, búa tạ, đục bạt và dây thừng chịu lực. Có mặt tại nhà tôi trong vòng một tiếng nữa."

Đầu dây bên kia im lặng mất vài giây, sau đó vang lên tiếng cười ngập ngừng:

"Ủa, làm gấp dữ vậy cậu? Bữa nay giữa trưa đứng bóng, với lại nhà cậu... là cái nhà cổ trăm cột bên rạch phải không? Tụi thợ miệt này kiêng khem dữ lắm, leo lên nóc nhà cổ giờ trưa ngộ nhỡ phạm phải long mạch..."

"Một trăm triệu cho buổi chiều hôm nay," tôi ngắt lời ông ta, từng con chữ ném ra dứt khoát như những nhát búa đóng đinh. "Chỉ cần dỡ một khoảng ngói âm dương rộng ba mét vuông quanh cây đòn dông gian giữa. Làm xong trước sáu giờ tối, tôi chuyển khoản tại chỗ thêm năm mươi triệu tiền thưởng. Nếu xảy ra bất kỳ tai nạn xây dựng nào, tôi đền bù trọn gói hai tỷ đồng một người."

Tiếng thở dốc của ông Ba Đực truyền qua loa thoại rõ mồn một. Đối với một người thợ mộc miệt vườn quanh năm đục đẽo kiếm từng trăm ngàn bạc lẻ, con số một trăm năm mươi triệu tiền mặt cho một buổi chiều là một ma lực khủng khiếp vượt qua mọi nỗi sợ vô hình.

"Cậu... cậu nói thiệt đó hả cậu Minh?"

"Tôi chưa từng nói đùa về tiền bạc," tôi gằn giọng. "Bốn mươi lăm phút nữa tôi muốn thấy giàn giáo dựng trước sân gạch tàu. Nếu ông không nhận, tôi sẽ gọi cho đội thợ bên Chợ Lách."

"Nhận! Tui nhận liền! Cậu đợi tui gom tụi nhỏ qua liền tức khắc!"

Cuộc gọi ngắt phụt.

Tôi cất điện thoại vào túi, quay sang nhìn Bà Tám. Bà lão khẽ thở dài, lắc đầu ngao ngán:

"Đồng tiền đi trước là đồng tiền dại, cậu Minh à. Cậu dùng tiền mua mạng người ta để gánh họa thay mình, cái nghiệp này nặng lắm."

"Tôi không bảo họ chết thay tôi," tôi đáp, giọng lạnh băng khi nhìn vết loét sưng vù trên mu bàn tay. "Tôi trả tiền để họ làm một công việc cơ học: dỡ ngói. Còn thứ quái quỷ giấu bên trong khớp mộng đó, đích thân tôi sẽ giải quyết."

Đúng bốn mươi phút sau, tiếng máy nổ bình bịch của chiếc ghe đuôi tôm xé tan không gian tĩnh mịch của con rạch trước cổng nhà. Chiếc xe tải nhẹ chở đầy những ống thép giàn giáo và ván gỗ cũng ầm ầm quẹo vào con đường đất ven sông, bụi đỏ bốc lên mù mịt bám vào những tán lá me cổ thụ.

Cánh cổng gỗ lim chạm rồng phượng mở toang. Bảy người đàn ông lực lưỡng bước xuống xe, người nào người nấy bắp tay cuồn cuộn, da đen sạm vì nắng gió sông nước. Dẫn đầu là ông Ba Đực, trạc ngoài năm mươi tuổi, vóc người đậm chắc, khóe mắt sâu hoắm đầy những nếp nhăn từng trải. Ông ta mặc chiếc áo thun cá sấu cũ mòn vẹt cổ, bên hông lủng lẳng chiếc thước dây bằng thép.

Khi vừa bước chân qua khỏi cổng rào, đám thợ bỗng nhiên khựng lại. Nụ cười hớn hở vì món tiền thưởng béo bở thoáng chốc chùng xuống trên gương mặt từng người. Họ nhìn quanh quất khoảng sân gạch tàu rộng thênh thang, nhìn cây đa cổ thụ hai trăm năm tuổi đang rủ những chùm rễ dài như sợi thòng lọng, rồi ngước nhìn lên mái ngói âm dương rêu phong cổ kính.

Gió từ sông Tiền thổi thốc qua rặng dừa nước, nhưng khi lùa vào khoảng sân nhà cổ, nó bỗng biến thành một luồng khí lạnh ngắt, khô khốc.

"Sao lạnh lưng dữ vậy tụi bây?" Một gã thợ trẻ tuổi xốc lại bó ống thép trên vai, lẩm bẩm với người bên cạnh.

"Bớt nói nhảm đi, lo khiêng đồ vô lẹ đặng ăn tiền," ông Ba Đực nạt ngang, nhưng ánh mắt ông ta cũng lộ vẻ cảnh giác khi nhìn thấy Bà Tám Bến Tre đang ngồi trầm ngâm bên bậc tam cấp, tay lần tràng hạt gỗ.

"Cậu Minh," ông Ba Đực bước tới, cười gượng gạo xoa xoa hai bàn tay thô ráp. "Tụi tui qua đủ đồ nghề rồi đây. Dàn giáo ống kẽm, thang trượt, dây an toàn đầy đủ. Cậu muốn tụi tui mở chỗ nào?"

Tôi đưa bàn tay quấn đầy vạt áo trắng dính vôi chỉ thẳng vào gian giữa:

"Bên dưới đòn dông chính, đoạn gối mộng vào cây cột cái số một. Dựng giàn giáo cao lên tới sát trần gỗ, sau đó cho người trèo lên mái ngoài, lột toàn bộ ngói âm dương phủ phía trên đoạn mộng đó ra."

Ông Ba Đực ngẩng đầu nhìn theo hướng tay tôi. Khi nhìn thấy vũng nước màu đỏ thẫm bốc mùi tanh tưởi trên nền gạch tàu và những giọt dịch quánh đặc vẫn đang rỉ ra từ kẽ gỗ lim, sắc mặt người thợ cả chợt biến đổi dữ dội. Hai con ngươi của ông ta co rút lại.

"Gỗ lim rỉ huyết..." Ông Ba Đực lùi lại một bước, giọng lắp bắp. "Cậu Minh... cái này... cái này là nhà bị yểm Lỗ Ban rồi! Hồi nhỏ tui từng nghe tía tui kể, nhà nào trên nóc chảy máu là bên trong có giấu xác súc vật hoặc đồ trù ếm..."

Đám thợ mộc phía sau nghe thấy hai chữ "Lỗ Ban" liền nhốn nháo hẳn lên. Hai người thợ đang vác bó ống thép lập tức buông tay, kim loại va vào nền gạch tàu phát ra những tiếng "keng keng" chát chúa.

"Thôi chú Ba ơi, tiền nhiều cỡ nào cũng hổng bằng cái mạng!" Một người thợ trạc ba mươi tuổi hoảng hốt lên tiếng. "Tháng trước bên cồn Cát có ông thợ cưa trúng cây đòn dông có bùa, về nhà sốt mê man ba bữa rồi hộc máu chết tươi. Chuyện này hổng giỡn được đâu!"

"Đúng đó chú Ba, về đi! Đừng ham một trăm rưỡi triệu mà rước họa vô thân!"

Đám thợ bắt đầu rụt rè lùi lại phía cổng gỗ lim. Nỗi sợ hãi dân gian truyền đời của dân thợ mộc miệt sông Tiền như một bức tường vô hình ngăn chặn bước chân của họ.

Tôi không nói một lời nào. Tôi bước lại chiếc bàn trà bằng đá đặt ở góc sân, mở chiếc cặp da xách tay mang từ Mỹ về.

Ba cọc tiền mệnh giá năm trăm ngàn đồng còn nguyên đai niêm phong của ngân hàng được tôi rút ra, đập mạnh xuống mặt bàn đá phát ra tiếng "bốp" khô khốc.

"Đây là một trăm năm mươi triệu tiền mặt," tôi nói, giọng trầm và lạnh như băng tuyết. "Tôi trả trọn gói cho ba tiếng làm việc của các anh. Ai không dám làm thì bước ra khỏi cổng, tôi không ép. Ai ở lại dựng giàn giáo và lột ngói, chia đều số tiền này ngay tại chỗ, không cần đợi tới lúc xong việc."

Cả khoảng sân chìm vào im lặng tuyệt đối.

Màu xanh thẫm của những xấp tiền polyme mới cóng nằm ngạo nghễ trên mặt bàn đá đối lập hoàn toàn với khung cảnh hoang tàn, rêu phong của ngôi nhà cổ thế kỷ trước. Đám thợ dừng bước. Những đôi mắt đỏ ngầu vì nắng gió dán chặt vào cọc tiền, lồng ngực họ phập phồng theo từng nhịp thở nặng nhọc. Lòng tham và nỗi sợ hãi đang giằng xé dữ dội trong đầu từng người đàn ông trụ cột của những gia đình nghèo ven sông.

Ông Ba Đực nuốt nước bọt cái ực, yết hầu giật lên giật xuống. Ông ta nhìn tôi, rồi nhìn sang cọc tiền, cuối cùng quay lại nhìn đám thợ của mình:

"Thằng Hai, thằng Tèo! Hai đứa bây leo lên xe bốc thêm mấy cây kích tăng với dây bảo hộ xuống đây. Tụi mình chỉ dỡ ngói ngoài mái, hổng đụng chạm gì tới phần gỗ xà nóc bên trong. Có dây an toàn với nón cối, sợ cái đách què gì! Làm lẹ đặng trước khi tắt mặt trời còn về chia tiền!"

Lời hối thúc của người thợ cả cùng sự hiện diện đầy ma lực của cọc tiền đã đánh bạt nỗi sợ hãi mơ hồ.

"Dạ chú Ba!"

Đám thợ lập tức chia nhau hành động. Tiếng kim loại va đập leng keng, tiếng đế giày bảo hộ nện thình thịch trên nền gạch tàu bắt đầu khuấy động không gian u uất của căn nhà cổ trăm cột. Họ vác từng thanh giàn giáo kẽm vào gian nhà giữa, tiếng hô hoán chỉ huy của ông Ba Đực vang lên sang sảng để át đi bầu không khí nặng nề.

Tôi đứng tựa lưng vào một thân cột lim bên ngoài hành lang, hai tay khoanh trước ngực, ánh mắt dán chặt vào từng chuyển động của đám thợ. Vết loét trên mu bàn tay vẫn buốt nhói, nhắc nhở tôi về quỹ thời gian đang cạn dần.

Bà Tám Bến Tre bước đến đứng cạnh tôi, hai tay chắp sau lưng, ngước nhìn bộ giàn giáo bằng sắt đang dần dần vươn cao lên sát khoảng trần tối tăm:

"Cậu tưởng tiền của cậu dẹp yên được tà ma sao, Khải Minh? Máu đã chảy ra khỏi đòn dông nghĩa là nó đã ngửi thấy mùi người sống. Mở lớp ngói âm dương ra, chẳng khác nào cậu mở nắp cỗ quan tài đang chôn sống dòng họ cậu."

"Nếu không mở nắp quan tài," tôi nhìn thẳng vào mắt bà lão, con ngươi đen láy không chút dao động, "thì chính tôi sẽ là người nằm vào trong đó. Tôi không có sự lựa chọn nào khác."

Bên trong gian nhà chính, bộ khung giàn giáo bốn tầng đã được dựng xong, vươn cao sừng sững chạm tới sát hệ thống rui mè. Hai chiếc thang tre dài nối liền mặt đất với phần mái ngói dốc đứng phía bên ngoài cũng đã được cố định chắc chắn vào các mấu tường hoa văn đá ong.

Ba người thợ mộc khỏe nhất đeo dây bảo hiểm quanh bụng, lưng giắt theo búa nhổ đinh và xà beng nhỏ, bắt đầu đặt những bước chân đầu tiên lên bậc thang tre, chuẩn bị trèo lên khoảng mái ngói âm dương phủ đầy rêu xanh ngay phía trên cây đòn dông định mệnh.

Chương khác

Xem thêm