Lỗ Ban Thuật: Yểm Thắng - Chương 8: Bóng Đen Trên Xà Nóc

Sương mù sáng sớm trên dòng sông Tiền bảng lảng như một dải lụa xám tro trôi lững lờ trên mặt nước. Tôi đạp lút chân ga, chiếc xe bốn chỗ gầm rú xé toạc…

Nội dung chương

Sương mù sáng sớm trên dòng sông Tiền bảng lảng như một dải lụa xám tro trôi lững lờ trên mặt nước. Tôi đạp lút chân ga, chiếc xe bốn chỗ gầm rú xé toạc màn sương dày đặc dọc theo con lộ nhỏ dẫn về miệt Giồng Trôm. Cổ họng tôi vẫn còn vương mùi tanh nồng của huyết sắc, rát buốt từng cơn sau cơn thổ huyết lúc rạng sáng ở phòng khám bác sĩ Huỳnh. Chiếc lọ thủy tinh nhỏ đựng mấy sợi tóc mục màu đen nằm chỏng chơ trong túi áo vest, cấn vào xương sườn tôi đau nhói, nhắc nhở rằng từng giây trôi qua đều là từng bước chân tôi đang tiến gần hơn tới bờ vực của cái chết.

Bàn tay tôi siết chặt vô lăng bọc da. Cổ tay phải tê dại, năm vết bầm tím do bàn tay xác chết để lại đã bắt đầu chuyển sang màu xám đen úa tàn, các thớ thịt quanh khớp xương sưng mọng lên, toát ra một thứ hàn khí buốt tận tủy sống. Một kẻ tốt nghiệp trường kinh doanh danh tiếng, quen nhìn thế giới qua các bảng biểu tài chính và mô hình rủi ro định lượng, giờ đây lại đang bấu víu vào một hy vọng mơ hồ từ lời mách nước của cô y tá tỉnh lẻ.

Hỏi thăm mấy người chèo đò dọc mé rạch rợp bóng dừa nước, tôi tìm được căn nhà lá ba gian nép mình dưới bóng cây me cổ thụ sum suê. Trước sân, mấy nong cau phơi khô tỏa ra mùi chan chát quen thuộc của thôn quê Nam Bộ.

Một bà lão lưng hơi còng đang ngồi trên chiếc chõng tre trước hiên, tay cầm con dao nhỏ thoăn thoắt tiện từng miếng cau tươi. Bà mặc bộ bà ba màu nâu sòng bằng vải ú, chiếc khăn rằn quấn quanh cổ, mái tóc bạc trắng búi gọn gàng sau gáy. Dù tuổi đã gần tám mươi, đôi mắt bà vẫn sáng quắc, cái nhìn sắc bén lạ lùng quét thẳng vào người tôi khi tiếng bước chân đạp lên lớp sỏi sân vang lên.

Tôi dừng lại trước mé hiên, cúi đầu chào theo phép lịch sự:

"Thưa bà, có phải bà là Bà Tám Bến Tre không ạ? Cháu từ bên cù lao sông Tiền sang, có việc khẩn cấp muốn nhờ bà giúp đỡ."

Bà lão không ngẩng mặt lên ngay, nhát dao vẫn bổ đều đặn xuống miếng cau già, tách lớp vỏ xanh để lộ phần hột đỏ sẫm:

"Cậu từ nhà lớn của ông Lê Văn Thừa qua đây chớ gì? Mùi gỗ lim ngâm nước với mùi máu ứ từ cuống họng cậu bay nồng nặc cả góc sân, cách mười trượng tôi cũng ngửi thấy."

Lời nói bình thản của bà khiến sống lưng tôi lạnh toát. Tôi chưa hề xưng danh tính, cũng chưa nhắc tới lai lịch căn nhà hay nguồn cội dòng họ. Sự tự tin duy lý của tôi vỡ thêm một mảng lớn.

Tôi bước lên hai bậc thềm, rút chiếc lọ thủy tinh trong túi áo vest đặt lên mặt chõng tre, kế bên cơi trầu bằng đồng đã xỉn màu:

"Bà Tám... nửa đêm qua cháu ho ra thứ này. Bác sĩ ở bệnh viện chụp phim không thấy tổn thương phổi, nhưng cô y tá bảo cháu phải tìm đến bà ngay lập tức."

Bà Tám dừng con dao lại. Bàn tay gầy guộc nổi đầy gân xanh của bà cầm chiếc lọ thủy tinh lên, đưa ngang tầm mắt đón ánh nắng sớm le lói qua kẽ lá me. Ánh mắt bà nheo lại khi nhìn thấy những sợi tóc mục khô quắt quấn tròn trong lớp dịch màu đen nâu.

"Tóc người chết chôn dưới mồ sâu ba tầng đất." Giọng Bà Tám trầm hẳn xuống, đanh lại như tiếng đá va vào nhau. "Cậu nuốt nhằm tà khí của Lỗ Ban, rễ bùa đã đâm vào tận phế quản rồi. Cậu ngủ lại trong căn nhà đó mấy đêm rồi?"

"Dạ... vừa tròn ba đêm." Tôi đáp, giọng run rẩy.

Bà Tám đặt chiếc lọ xuống chõng tre, quay ngoắt sang nhìn tôi. Ánh mắt bà dừng lại ở cổ tay phải của tôi, nơi mép tay áo vest xô lệch làm lộ ra dấu vết năm ngón tay tím bầm. Bà vươn tay chụp lấy cổ tay tôi nhanh như một nhát cắt. Bàn tay bà khô ráp, những vết chai sần cọ vào da tôi nóng rực, trái ngược hoàn toàn với cái lạnh chết chóc đang ứ đọng trong huyết quản tôi.

"Đưa bàn tay trái ra đây!" Bà Tám gằn giọng.

Tôi vội vàng chìa bàn tay trái ra. Bà Tám không nhìn lòng bàn tay tôi để xem chỉ tay như những thầy bói dạo ngoài chợ. Ngón tay cái của bà bắt đầu nhảy múa liên hồi trên các đốt ngón tay trỏ, ngón giữa và ngón áp út của chính bàn tay bà. Từng khớp xương cọt kẹt chuyển động theo nhịp bấm chỉ cổ truyền: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Miệng bà lẩm bẩm những khẩu quyết bí hiểm bằng thứ âm sắc cổ xưa của dân gian vùng sông nước, nghe rợn người và nặng nề như tiếng nước xoáy dưới chân cầu bến bắc.

Mỗi lần ngón tay cái của Bà Tám chạm vào một cung đốt, sắc mặt bà lại biến đổi. Đôi mày bạc nhíu chặt lại, gò má hóp sâu giật giật từng cơn.

"Năm Nhâm Dần... một ngàn chín trăm lẻ hai." Bà Tám lẩm bẩm, hơi thở dồn dập. "Đoài kim khắc Chấn mộc, ngũ quỷ tọa trung cung, tuyệt mệnh nhập trạch. Đòn dông gãy gập vô hình, xà nóc khóa linh hồn... Trời đất ơi, đứa nào thất đức tới mức lập thế sát trùng tang này để tuyệt diệt cả một dòng tộc!"

Bà buông tay tôi ra, lảo đảo lùi lại nửa bước rồi tựa lưng vào cột hiên. Bà nhổ toẹt một bãi bọt trầu xuống góc sân, ngực phập phồng:

"Cậu là cháu đích tôn của ông Lê Văn Thừa đúng không? Máu mủ ruột rà đời thứ tư trở về đúng vào năm tròn chu kỳ. Cái bóng trên xà nóc chờ cậu đúng một trăm năm có lẻ rồi đó."

Trái tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực. Từng chi tiết bà nói ra đều khớp chuẩn xác với niên đại xây dựng ngôi nhà ghi trên tấm hoành phi và gia phả dòng họ Lê mà tôi mang từ Mỹ về.

"Bà Tám, cháu không hiểu gì về bùa chú hay thuật Lỗ Ban." Tôi cúi người, giọng khẩn thiết, bỏ mặc hoàn toàn vẻ ngoài kiêu hãnh của một thạc sĩ Stanford hay một nhà sáng lập quỹ đầu tư. "Cháu chỉ biết nếu không giải quyết được thứ này, cháu sẽ chết như người thợ mộc năm xưa mà bác sĩ Huỳnh từng kể. Xin bà đi cùng cháu về ngôi nhà, giúp cháu hóa giải nó. Bao nhiêu tiền cháu cũng trả!"

Bà Tám quắc mắt nhìn tôi, ánh mắt sắc lẹm khiến tôi phải rụt cổ lại:

"Tiền hả? Cậu tưởng tiền của xứ tư bản phương Tây mua được mạng sống trước đòn thù của thợ cả Lỗ Ban sao? Dòng họ Phan năm xưa đã đánh đổi bằng cả mạng người, bằng oán khí ngập trời thì mới kết thành cái trùng tang yểm độc địa bực này. Cậu đem mấy cọc giấy bạc ra khè ai?"

Tôi cắn chặt môi, cúi gầu mặt xuống: "Cháu xin lỗi bà. Cháu nói sai rồi. Cháu chỉ muốn sống, và muốn biết rõ sự thật rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra trên mái nhà của tổ phụ cháu."

Bà Tám im lặng hồi lâu. Tiếng gió rít qua rặng dừa nước bên mé rạch nghe như tiếng thở dài của một người già đã chứng kiến quá nhiều tang tóc. Bà đưa mắt nhìn chiếc lọ thủy tinh trên mặt chõng, rồi lại nhìn khuôn mặt trắng bệch vì mất máu của tôi.

"Được rồi. Nghiệp chướng trăm năm của miệt sông Tiền này, nếu tôi trốn tránh mãi thì lúc nhắm mắt xuôi tay cũng chẳng yên lòng với tổ nghề." Bà Tám đứng thẳng người dậy, dáng vẻ lưng còng bỗng chốc trở nên vững chãi lạ thường. "Cậu chở tôi về bên đó. Phải tận mắt xem cái ổ tà khí ấy nó đã ăn sâu vào rường cột tới mức nào."

Bà Tám quay vào nhà, mang ra một chiếc túi vải thô màu chàm đã bạc thếch. Bên trong túi đựng một ống tre đựng trầu thuốc, một cuộn chỉ đỏ thắt nút phức tạp, và một chiếc hộp gỗ hình vuông có then cài bằng đồng đã lên ten xanh rêu.

Tôi vội vã mở cửa xe đón bà lên. Suốt chặng đường quay trở lại cù lao, Bà Tám không nói thêm một lời nào. Bà ngồi thẳng lưng ở ghế phụ, ngón tay vẫn tiếp tục bấm chỉ nhẩm tính, ánh mắt đăm đăm nhìn về phía dòng sông Tiền đang cuộn sóng đục ngầu phù sa.

Gần trưa, chiếc xe rẽ qua cây cầu sắt dẫn vào con đường làng rợp bóng cây ăn trái, tiến thẳng về phía cổng chính của dinh cơ họ Lê.

Ngôi nhà cổ trăm cột hiện ra sừng sững sau bức tường gạch rêu phong bao quanh khu đất hai ngàn năm trăm mét vuông. Cây đa cổ thụ hai trăm năm tuổi đứng trước cổng tỏa bóng râm đen kịt trùm lên một khoảng sân rộng, cành lá rủ xuống như những cánh tay khẳng khiu của loài thủy quái. Cánh cổng gỗ lim to bản chạm trổ rồng phượng tinh xảo thời thuộc địa đang mở hờ, để lộ khoảng sân lát gạch tàu đỏ au và dãy hành lang cột gỗ lim đen nhánh bên trong.

Chiếc xe vừa dừng bánh trước cổng, không khí xung quanh đột ngột chùng xuống, ngột ngạt và nặng trĩu tựa như có một khối chì vô hình đè nặng lên màng nhĩ.

Bà Tám vịn tay vào cửa xe bước xuống. Đôi chân trần gân guốc của bà vừa dẫm lên bờ gạch trước cổng, thân hình bà bỗng khựng lại. Bà đứng sững như trời trồng, hai mắt trợn trừng nhìn trân trân vào khoảng không gian phía trên mái ngói âm dương của gian nhà chính.

Gương mặt nhăn nheo của bà thoắt cái biến sắc, từ vẻ bình thản chuyển sang kinh hoàng tột độ. Lớp da mặt bà giật liên hồi, khóe môi run rẩy.

"Phỉ!"

Bà Tám nhổ toẹt một bãi trầu đỏ quạch xuống nền đá ong xám xịt ngay dưới chân cổng. Vệt nước trầu đỏ tươi loang ra trên mặt đá lạnh ngắt, sủi lên vài bọt khí nhỏ li ti tanh tưởi trước khi ngấm vào rãnh đá.

Bà giơ cánh tay khẳng khiu, ngón tay trỏ run rẩy chỉ thẳng lên đỉnh nóc nhà, nơi cây đòn dông gỗ lim đang gối đầu lên những hàng cột cái đồ sộ:

"Nghiệt súc! Ngậm tà sát chủ... Cả cái thế đất này bị biến thành một cỗ đại quan tài lộ thiên rồi!"

Tôi bước vội đến bên cạnh bà, tim đập thình thịch:

"Bà Tám, bà nhìn thấy gì trên đó?"

"Nhìn cái gì mà nhìn!" Giọng Bà Tám the thé, vỡ ra từng chặp vì phẫn nộ lẫn sợ hãi. "Hàng rào phong thủy bị bẻ gãy từ gốc rễ. Con rồng trên cổng gỗ lim bị đóng đinh xuyên mắt, phượng hoàng bị cắt cụt đuôi. Khí lành từ sông Tiền chảy vào đây không tụ lại được mà biến thành tử khí, chảy ngược lên nóc nhà rồi dội thẳng xuống giường ngủ. Cậu ngủ ở gian giữa, ba đêm không chết tươi ngay tại chỗ là nhờ phúc đức ba đời của dòng họ cậu còn sót lại một chút mạt vận đó!"

Bà không đợi tôi trả lời, một tay ôm chặt chiếc túi vải chàm, chân thoăn thoắt bước qua cánh cổng gỗ lim, tiến thẳng vào khoảng sân gạch tàu rộng thênh thang. Tôi vội vàng bám sát theo sau.

Càng bước gần vào gian nhà chính, mùi hương trầm mục xen lẫn mùi xác thối rỉ ra từ kẽ gỗ lim lại phảng phất bay trong không khí, dù lúc này trời đang giữa trưa, ánh nắng gay gắt rọi thẳng từ đỉnh đầu xuống sân gạch.

Bà Tám dừng lại ở chính giữa sân gạch tàu, ngay trước bậc tam cấp dẫn lên hàng ba. Bà mở chiếc túi vải chàm, cẩn thận lấy ra chiếc hộp gỗ hình vuông. Mở then cài bằng đồng, bà nhấc ra một chiếc la bàn phong thủy cổ.

Mặt la bàn làm bằng đồng thau dày dặn, chạm khắc bát quái, thiên can địa chi và hai mươi bốn sơn hướng chi chít những ký tự chữ Hán màu đen đỏ xen kẽ. Mặt kính bên trên đã ngả màu ố vàng theo năm tháng, bao bọc lấy cây kim chỉ nam bằng sắt mỏng manh có hình đuôi cá.

"Để xem cây đòn dông của nhà cậu cướp đi bao nhiêu mạng người rồi." Bà Tám trầm giọng, hai tay nâng chiếc la bàn ngang thắt lưng, giữ thăng bằng tuyệt đối.

Tôi nín thở đứng bên cạnh, mắt dán chặt vào chiếc la bàn cổ.

Vừa được đưa vào tâm điểm của sân gạch, cây kim chỉ nam bỗng nhiên rung bần bật. Nó không hề quay về hướng nam hay hướng bắc theo từ trường tự nhiên của trái đất.

Cây kim bắt đầu chuyển động giật cục. Một giây sau, nó quay tít mù.

Tốc độ quay của cây kim nhanh đến mức mắt thường chỉ còn thấy một vệt tròn mờ ảo màu đen xám trên mặt đồng thau. Tiếng kim loại cọ xát vào trục quay phát ra những âm thanh rít ráo riết như tiếng móng tay cào vào mặt kính. Gió từ đâu bỗng thổi thốc tới, cuốn tung những chiếc lá me khô xào xạc trên mặt sân gạch tàu, dù ngoài bờ kênh sông Tiền mặt nước vẫn phẳng lặng như tờ.

"Không xong rồi..." Bà Tám nghiến răng, hai bàn tay run rẩy cố ghì chặt chiếc hộp la bàn. "Âm khí xung thiên! Tà vật trên xà nóc đang thức giấc!"

Lời bà vừa dứt, một tiếng "tách" giòn tan, sắc lạnh vang lên chói tai giữa khoảng sân vắng lặng.

Mặt kính dày của chiếc la bàn cổ nứt toác làm đôi. Một đường nứt chém xéo qua tâm vòng bát quái, để lộ vết rạn sắc lẻm.

Cây kim chỉ nam lập tức khựng lại sau cú nứt vỡ. Nó không quay nữa mà cắm phập đầu nhọn về một hướng duy nhất, chĩa thẳng đứng lên trên một góc bốn mươi lăm độ, chỉ đích danh vào điểm nối giữa đòn dông chính và cây cột cái số một gian thờ tự.

Cùng lúc đó, từ trên mái ngói âm dương cổ kính phía trên đầu chúng tôi vang lên một tiếng rắc khô khốc, tựa như có một bàn chân vô hình vừa dẫm mạnh lên lớp ngói phủ đầy rêu phong.

Chương khác

Xem thêm