Lỗ Ban Thuật: Yểm Thắng - Chương 9: Trùng Tang Yểm Bắt Đầu Hoạt Động

Tiếng rắc giòn rụm từ trên mái ngói âm dương vọng xuống giữa trưa vắng khiến da đầu tôi tê rần. Cây kim chỉ nam trên chiếc la bàn cổ vẫn ghim chặt về…

Nội dung chương

Tiếng rắc giòn rụm từ trên mái ngói âm dương vọng xuống giữa trưa vắng khiến da đầu tôi tê rần. Cây kim chỉ nam trên chiếc la bàn cổ vẫn ghim chặt về hướng mối nối giữa đòn dông chính và cây cột cái số một, bất động dưới vết nứt chém xéo mặt kính.

Bà Tám Bến Tre đứng lặng giữa sân gạch tàu, hai bàn tay gân guốc siết chặt lấy mép hộp gỗ. Lớp da mặt nhăn nheo của bà giật giật từng cơn. Gió sông Tiền thổi lồng lộng qua rặng dừa nước ngoài bờ rạch, nhưng khi tràn qua cánh cổng gỗ lim chạm rồng phượng, luồng gió bỗng chốc ngưng bặt, để lại một bầu không khí đặc quánh mùi gỗ ngâm và hương trầm ẩm mốc.

"Vào trong." Bà Tám gằn giọng, thanh âm khàn đục lọt qua kẽ răng đen nhánh màu trầu. "Đứng ngoài này trơ trọi giữa thanh thiên bạch nhật, cái thứ trên xà nóc nó dòm ngó từ nãy tới giờ."

Bà cất chiếc la bàn nứt vỡ vào túi vải chàm, rồi dợm bước qua hàng ba, tiến thẳng vào gian chính của ngôi nhà cổ trăm cột. Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt cay xè nơi cuống họng, vội vã rảo bước bám sát phía sau lưng bà. Mỗi bước chân tôi nện xuống nền gạch tàu đỏ thẫm đều phát ra tiếng lộp cộp khô khốc, như thể bên dưới lớp gạch đá ong kiên cố kia là một khoảng rỗng khổng lồ chứa đầy khí lạnh.

Vừa bước qua ngạch cửa gỗ lim cao gần gang tay, nhiệt độ xung quanh lập tức tụt xuống đột ngột. Ánh nắng chói chang của ban trưa miền Tây hoàn toàn bị chặn đứng bên ngoài hàng hiên. Không gian bên trong đại sảnh tối om, chỉ le lói vài vệt sáng mỏng manh lọt qua khe các cánh cửa bức bàn khép hờ. Hàng chục cây cột lim đen bóng to bằng một vòng tay người ôm đứng sừng sững thành từng dãy dài dằng dặc, chia gian nhà rộng lớn thành những khoảng tối sâu hun hút.

Mùi ẩm mục của thớ gỗ trăm năm tuổi quyện lẫn mùi tanh lợm của máu khô phảng phất trong từng đợt hít thở. Cổ họng tôi lại bắt đầu ngứa ran, vết bầm tím hình năm ngón tay trên cổ tay phải giật giật từng hồi đau buốt.

Bà Tám đi thẳng tới gian giữa, nơi đặt bộ sập gụ và bàn thờ gia tiên của cụ tổ Lê Văn Thừa. Bà đặt chiếc túi chàm lên mặt sập, rồi ngửa mặt nhìn thẳng lên hệ thống rui mè, đòn tay chằng chịt trên trần nhà.

"Cậu Minh, đóng chặt cửa chính lại." Bà Tám ra lệnh, mắt vẫn không rời khỏi những thanh xà gồ đen sẫm. "Kéo then cài bằng đồng vào, đừng để gió sông lùa vào quấy động chân khí."

Tôi bước lui lại cửa, đẩy hai cánh cửa gỗ lim nặng trịch khép chặt rồi cài then sắt. Tiếng kim loại va chạm vang lên một tiếng "cạch" đanh gọn, cô lập hoàn toàn căn nhà với thế giới bên ngoài. Bóng tối lập tức bao trùm lấy chúng tôi, chỉ còn ánh sáng nhờ nhờ hắt xuống từ những khe ngói hở trên cao.

Bà Tám thò tay vào túi chàm, rút ra một chiếc đèn pin mắt ếch cỡ nhỏ bằng kim loại xỉn màu. Ánh sáng vàng vọt từ chóa đèn quét thành một vệt tròn sắc nét trên thân cột lim số một.

"Lại đây xem cho rõ cơ nghiệp mà tổ tiên cậu để lại." Bà Tám vẫy tay gọi tôi.

Tôi bước lại gần, đứng sát bên sườn bà lão. Dưới luồng sáng gom tụ của chiếc đèn pin, bề mặt cây cột gỗ lim hiện lên với những đường vân uốn lượn chằng chịt. Tuy nhiên, ở độ cao ngang ngực người lớn, mặt gỗ không hề phẳng phiu láng mịn như những vị trí khác. Nơi đó có dấu vết của một nhát đục sâu hoắm đã được thợ mộc thời xưa trám lại bằng một loại mùn cưa trộn nhựa cây màu đỏ sẫm.

Vết trám có hình một bàn tay cụt ngón, ngón giữa bị bẻ gãy gập chúc ngược xuống phía chân cột.

"Đây là cái gì vậy bà Tám?" Tôi cất giọng hỏi, cố đè nén sự run rẩy trong thanh quản.

Bà Tám rọi đèn dịch lên phía trên, soi thẳng vào khớp mộng nối giữa đầu cột cái và thanh xà ngang:

"Dấu khắc của thợ Lỗ Ban. Người trần mắt thịt nhìn vào chỉ tưởng thợ đục vụng về làm mẻ gỗ rồi trét keo vá lại. Nhưng dân trong nghề phong thủy nhà cổ vùng sông Tiền liếc mắt là nhận ra ngay bàn tay quỷ án môn. Cây cột này gánh chịu toàn bộ trọng lực của gian thờ, lại bị yểm thế cụt ngón chỉ đất, nghĩa là con cháu đời sau hễ bước chân vào đây đều bị tước đoạt quyền sinh quyền dưỡng, sinh con khó nuôi, làm ăn lụn bại."

Bà dừng lại một nhịp, nhổ toẹt một bãi bọt trầu vào góc chân cột đá ong rồi tiếp tục nói:

"Thời thuộc địa đầu thế kỷ hai mươi, cụ tổ Lê Văn Thừa của cậu giàu nứt đố đổ vách ở đất cù lao này. Tiền bạc chất cao như núi, thâu tóm ruộng đất ven sông Tiền, rước cả một đoàn thợ mộc danh tiếng nhất vùng về dựng ngôi nhà trăm cột này ròng rã suốt mấy năm trời. Nhưng thói đời bạo phát bạo tàn, người giàu thời đó ăn chặn tiền công, coi mạng thợ mộc rẻ rúng như cỏ rác. Cậu có biết chuyện gì xảy ra vào ngày khánh thành căn nhà này năm 1902 hay không?"

Tôi lắc đầu. Trong ký ức gia đình mà cha tôi truyền lại trước khi mất, ngôi nhà cổ chỉ được nhắc đến như một biểu tượng danh giá của dòng tộc, một khối tài sản khổng lồ mà cụ tổ dặn dò con cháu bằng mọi giá phải giữ gìn. Những ghi chép gia phả hoàn toàn bỏ trống quãng thời gian xây cất căn nhà.

"Thợ cả Phan Văn Sáu năm đó dẫn theo đứa con trai mười bốn tuổi làm phụ việc." Giọng Bà Tám trầm hẳn xuống, âm vang dội vào các vách gỗ lim nghe ghê rợn lạ kỳ. "Gần ngày phạt mộc gác đòn dông, thằng nhỏ sơ ý làm trầy một mảng chạm trổ đầu rồng trên cổng chính. Cụ tổ cậu nổi cơn thịnh nộ, cho gia nhân dùng đòn gánh đánh đập thằng bé thừa sống thiếu chết, rồi quỵt luôn toàn bộ nửa phần tiền công của cả phường thợ. Thằng nhỏ bị dập phổi, mang về chòi lá cầm cự được hai đêm thì hộc máu đen rồi tắt thở. Thợ cả Phan Văn Sáu ôm xác con trai gào khóc thấu trời, nhưng thời buổi đó quan Tây bao che điền chủ, kẻ nghèo hèn kêu oan chẳng ai thấu."

Bà Tám rọi chóa đèn pin thẳng lên cây đòn dông trên nóc nhà:

"Uất hận ngút trời, thợ Sáu nuốt hận quay lại hoàn thiện nốt phần xà nóc và lợp ngói âm dương. Ông ta dùng chính môn thuật Yểm Thắng bí truyền của dòng Lỗ Ban sát để trù ếm ngôi nhà này. Cụ tổ cậu tưởng mình khôn ngoan chiếm được dinh cơ lộng lẫy mà không tốn đủ tiền, ngờ đâu rước cả một cái bẫy sát nhân về chôn sống dòng họ mình."

Tôi cảm thấy toàn bộ mạch máu trong người mình như đông cứng lại. Hình ảnh chiếc lọ thủy tinh chứa những sợi tóc người khô giòn lẫn máu đen trong túi áo vest cộm lên rõ rệt.

"Thuật Yểm Thắng có thể khiến người ta ho ra máu như tôi sao?" Tôi móc chiếc lọ thủy tinh đặt lên mặt sập gụ.

Bà Tám cầm lấy chiếc lọ, đưa sát mắt nhìn những sợi tóc đen quăn queo đóng váng máu khô bên trong. Bà khẽ tặc lưỡi:

"Trùng tang yểm. Đây là thứ tàn độc nhất trong các thế yểm của Lỗ Ban. Người thợ cả đã dùng tóc của chính đứa con trai chết oan, bện chung với chỉ ngũ sắc và tro xương của nó, nhét sâu vào một cỗ quan tài gỗ vàng tâm nhỏ bằng ngón tay rồi giấu kín vào khớp mộng đòn dông. Cây đòn dông là xương sống của căn nhà, ngự trị ngay trên đầu người nằm ngủ. Khí tức của người chết oan ngậm hờn trăm năm sẽ hút dần sinh khí của kẻ mang dòng máu họ Lê."

Bà Tám ném chiếc lọ trở lại mặt sập rồi thò tay xuống đáy túi chàm, lôi ra một vật bằng gỗ mun dài chừng nửa mét, hai đầu bịt đồng thau sáng loáng.

Đó là một cây thước Lỗ Ban cổ.

Mặt thước bằng gỗ mun đen nhánh, chia làm nhiều tầng với những vạch khắc chìm phủ sơn son đỏ thẫm. Các chữ Hán cổ chỉ các cung cát hung nối tiếp nhau dọc theo chiều dài thân thước.

"Cậu có học vấn cao cấp bên Tây, cậu tin vào những con số và kích thước chính xác đúng không?" Bà Tám nhếch mép, nụ cười trên gương mặt già nua đầy vẻ mỉa mai lẫn xót xa. "Dân xây dựng các cậu gọi là tỷ lệ vàng, còn người xưa chúng tôi gọi đó là số đo sinh tử. Cầm lấy một đầu thước cho tôi."

Tôi ngập ngừng đưa tay đón lấy đầu thước bịt đồng. Kim loại lạnh buốt chạm vào lòng bàn tay tôi.

Bà Tám kéo dãn cây thước, áp mép gỗ mun vào khoảng cách giữa cây cột cái số một và cây cột quân liền kề. Ánh đèn pin quét qua từng vạch khắc màu đỏ son.

Mũi ngón tay khẳng khiu của Bà Tám chỉ thẳng vào ký tự Hán tự đang nằm ngay chính giữa điểm nối tâm cột.

"Xem đi. Khoảng cách tim cột này là bốn mét chín mươi mốt phân. Rơi đúng vào cung 'Tử Biệt'."

Bà Tám không dừng lại ở đó. Bà kéo tôi đi dọc theo gian giữa, đo tiếp khoảng cách từ hàng cột cái sang hàng cột nhì đối diện. Cây thước gỗ mun lại dừng lại ở một con số chuẩn xác đến từng mi-li-mét.

"Hai mét sáu mươi bảy phân. Rơi vào cung 'Họa Hại'." Bà Tám gõ ngón tay côm cộp lên mặt thước, âm thanh vang vọng giữa các thân cột lim. "Từ dạ đòn tay hạ xuống mặt sàn gạch tàu, từ khoảng cách tim xà nóc bổ dọc xuống mép giường cậu nằm... toàn bộ kết cấu của ngôi nhà trăm cột này không có lấy một phân tấc nào rơi vào cung Tài, cung Lộc hay cung Quý Nhân. Kẻ thợ cả năm 1902 đã cố ý tính toán từng nhát cưa, từng đường đục để biến cả hai ngàn năm trăm mét vuông đất này thành một trận đồ tử khí."

Những con số trên cây thước gỗ mun đập thẳng vào mắt tôi như những bằng chứng toán học không thể chối cãi. Là một người từng tốt nghiệp thạc sĩ quản trị kinh doanh tại Stanford, tôi đã dành cả tuổi trẻ để làm việc với các bảng biểu, các thuật toán tài chính và các mô hình dự báo rủi ro xác suất. Tôi luôn tin rằng mọi sự vật hiện tượng trên đời đều vận hành theo quy luật vật lý và số liệu cụ thể.

Giờ đây, trước mắt tôi, các số đo kích thước kiến trúc xây dựng từ hơn một thế kỷ trước đang hiện ra với một mục đích duy nhất: sát phạt huyết mạch. Người thợ cả Phan Văn Sáu không chỉ dùng bùa chú mơ hồ; ông ta đã vận dụng sự am hiểu sâu sắc về hình học không gian, sự lưu chuyển của dưỡng khí và trường bức xạ tự nhiên của vật liệu gỗ để tạo nên một bộ máy hành quyết chậm rãi.

"Tại sao lại là ba đêm?" Tôi siết chặt cán thước, đốt ngón tay trắng bệch. "Bác sĩ Huỳnh ở thị xã nói bất kỳ ai ngủ lại đây quá ba đêm đều bị ho ra máu."

Bà Tám thu chiếc thước gỗ mun lại, cẩn thận cài vào cạp quần bà ba. Bà ngước nhìn trần nhà tối om:

"Ba đêm là chu kỳ tụ khí của Trùng tang yểm. Đêm thứ nhất, tà vật trên đòn dông thức giấc, bắt đầu định vị chân khí của người trong nhà. Đêm thứ hai, âm khí thâm nhập vào ngũ tạng qua đường hô hấp, làm tắc nghẽn phế khí. Đến đêm thứ ba, khi cậu ngủ say, cái bóng oan hồn bị giam giữ trong cỗ quan tài gỗ vàng tâm sẽ bò ra khỏi khớp mộng xà nóc, ngồi vắt vẻo bên trên mà hút cạn nguyên khí của cậu. Máu đen trào ra từ cuống họng chính là huyết ứ của phế tạng bị bóp nghẹt. Còn những sợi tóc mục kia... đó là vật dẫn truyền tà thuật mọc ngược từ trong khí quản của cậu ra ngoài."

Cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng khiến tôi rùng mình một cái. Ký ức về cái bóng đen gầy guộc ngồi vắt vẻo trên cây đòn dông trong đêm mưa giông lại dội về. Ánh mắt trắng dã vô hồn nhìn chằm chằm xuống giường, mùi xác chết trôi sông nồng nặc và cảm giác ngực bị đè nghẹn như có tảng đá nặng ngàn cân đè bẹp. Tất cả những điều quái đản đó không phải là ảo giác do thiếu ngủ hay kiệt sức. Đó là một bản án tử hình vô hình đang đếm ngược từng giờ.

"Nếu không phá được bùa, tôi sẽ sống được bao lâu?" Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt đục ngầu của bà lão.

Bà Tám lắc đầu, giọng nói lạnh tanh:

"Bảy đêm. Người có thể trạng cường tráng như cậu, cùng lắm cầm cự được đến đêm thứ bảy. Khi đó, máu trong người sẽ trào ra bằng hết qua đường mũi, đường miệng. Người chết mắt trợn trừng, hai lá phổi đen sì như than củi, giống hệt cái chết của con trai thợ Sáu năm xưa."

"Có cách nào giải không?"

"Có." Bà Tám chỉ ngón tay khẳng khiu ngược lên mái nhà cao vút. "Chỉ có một cách duy nhất: trèo lên nóc nhà, tháo dỡ toàn bộ lớp ngói âm dương phủ phía trên cây đòn dông chính. Tìm cho ra khớp mộng bí mật nơi giấu cỗ quan tài gỗ vàng tâm, lôi vật yểm ra rồi dùng búa đồng đập nát, kết hợp với các thứ kiêng kỵ để trừ khử tà khí. Đòn dông bị khoét rỗng ở đâu, bùa chú nằm ở đó."

Tôi nhìn lên trần nhà cao gần sáu mét. Hệ thống rui mè bằng gỗ lim đen đặc ken dày đặc, bên trên là hàng ngàn viên ngói âm dương rêu phong cổ kính đã nằm yên suốt hơn một trăm năm qua. Để tìm ra một chiếc hộp nhỏ bằng ngón tay giấu sâu trong một khớp mộng giữa hàng trăm thanh gỗ đồ sộ là một công việc vô cùng gian nan.

"Tự chúng ta không thể dỡ ngói được," tôi tính toán nhanh. "Mái nhà này quá cao, diện tích ngói âm dương lại nặng hàng tấn. Tôi phải thuê một đội thợ mộc lành nghề ở địa phương tới dựng giàn giáo và bóc dỡ từng lớp ngói."

Bà Tám khẽ nhíu mày, ánh mắt lộ vẻ lo âu sâu sắc:

"Tìm thợ mộc miệt này không dễ đâu. Dân thợ ở sông Tiền nghe tới nhà cổ trăm cột họ Lê đều né như né tà. Với lại, động tới mái nhà có yểm Lỗ Ban là chuyện nguy hiểm tới tính mạng. Đòn phản phệ của bùa chú không tha cho bất kỳ ai dám xâm phạm nơi trú ngụ của nó. Nếu tháo ngói không cẩn thận, tà khí phát tán ra ngoài, người đầu tiên gánh họa chính là những người thợ trèo lên nóc."

"Dù tốn bao nhiêu tiền tôi cũng phải thuê bằng được." Tôi siết chặt nắm đấm, bản năng sinh tồn trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Toàn bộ sự hoài nghi của một doanh nhân mang tư duy lý tính đã bị bóp nát hoàn toàn trước thực tế tàn khốc. Tôi muốn sống, và muốn sống sót thì phải tiêu diệt cội nguồn của cơn ác mộng này. "Tôi sẽ trả tiền công gấp năm, gấp mười lần bình thường. Ngay chiều nay tôi sẽ liên hệ với các xưởng mộc lớn nhất vùng."

Bà Tám thở dài một tiếng nặng nhọc, đôi vai còng hơi sụp xuống. Bà với lấy chiếc túi vải chàm, bước chầm chậm về phía cửa chính:

"Cậu muốn làm gì thì làm nhanh lên. Thời gian của cậu không còn nhiều đâu. Nhớ kỹ lời tôi dặn: tuyệt đối không được ngủ lại trong căn nhà này đêm nay nữa. Nếu cố chấp ở lại đêm thứ tư, dù có rước cả mười ông thầy phong thủy về đây cũng không gom đủ hồn vía cho cậu đâu."

Tôi tiến lại gần, đưa tay mở chốt then cài bằng đồng của cánh cửa bức bàn để tiễn bà lão.

Đúng lúc then sắt vừa trượt khỏi ổ khóa phát ra một tiếng rít chói tai, một âm thanh lạ lùng từ trên khoảng trần tối tăm của gian thờ tự bỗng nhiên vang lên.

Đó là một tiếng "tõm" rất khẽ, tựa như một giọt nước nặng trĩu vừa rớt từ xà nóc xuống mặt ván trần gỗ lim ngay trên đầu chúng tôi.

Tôi và Bà Tám cùng lúc khựng lại, ngẩng phắt đầu nhìn lên khoảng tối thăm thẳm của mái nhà cổ. Giữa trưa nắng chang chang không một giọt mưa, không gian trên trần nhà bỗng nhiên chuyển động một cách quái đản, kéo theo một làn gió lạnh buốt phả thẳng xuống gáy.

Chương khác

Xem thêm