Lỗ Ban Thuật: Yểm Thắng - Chương 15: Nắp Quan Tài Buộc Chỉ Ngũ Sắc Quấn Tóc Người Chết

Câu nói của bà Tám Bến Tre giáng xuống gian nhà chính hệt như một tiếng sét giữa trời quang. Tôi quỳ sụp dưới chân cột cái bằng gỗ lim nhẵn bóng, hai đầu…

Nội dung chương

Câu nói của bà Tám Bến Tre giáng xuống gian nhà chính hệt như một tiếng sét giữa trời quang.

Tôi quỳ sụp dưới chân cột cái bằng gỗ lim nhẵn bóng, hai đầu gối đập mạnh xuống nền gạch tàu lạnh buốt. Cơn đau từ khớp xương lan truyền thẳng lên sống lưng, nhưng sự tê dại nơi lồng ngực còn khủng khiếp hơn gấp bội. Máu tươi vẫn rỉ ra từ khóe miệng tôi, nhỏ từng giọt ấm nóng xuống mu bàn tay đang run rẩy bám chặt lấy chân cột.

Trước mắt tôi, tấm bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh loại ưu của Đại học Stanford, những bản kế hoạch đầu tư sinh thái hàng triệu đô la, những nguyên lý tài chính thực nghiệm đầy kiêu hãnh mà tôi tích lũy suốt bao năm bên bờ Tây nước Mỹ bỗng chốc vỡ vụn thành tro bụi. Logic xác suất và tư duy duy lý hoàn toàn bất lực trước món nợ máu tích tụ suốt một trăm năm qua của dòng họ Lê.

Cụ tổ Lê Văn Thừa để lại cho tôi cơ ngơi bề thế hai ngàn năm trăm mét vuông này, nhưng thứ đính kèm theo khối di sản trăm cột lim lại là một án tử vô hình được đóng đinh bằng đinh gỗ và tóc người chết.

"Ba đời trưởng nam..." Tôi lẩm bẩm, giọng khàn đặc, lẫn trong tiếng rít qua kẽ răng. "Cha tôi... ông nội tôi..."

Ký ức thời thơ ấu mà tôi từng cố chôn giấu sâu kín dưới đáy tiềm thức bất ngờ trồi lên cuồn cuộn. Năm tôi tròn bảy tuổi, cha tôi - ông Lê Văn Quý - đột ngột đổ gục ngay trên bàn làm việc trong căn biệt thự ở Sài Gòn. Khi xe cấp cứu đưa ông vào bệnh viện Chợ Rẫy, các bác sĩ đầu ngành kết luận ông bị suy hô hấp cấp do lao phổi bộc phát, phổi tràn dịch đặc quánh máu tươi. Nhưng trước ngày định mệnh ấy, cha tôi chưa từng ho một tiếng, thân hình ông cao lớn vạm vỡ, tuần nào cũng chơi quần vợt. Năm ông qua đời, ông vừa tròn ba mươi chín tuổi.

Xa hơn nữa, những mẩu chuyện rời rạc mà mẹ tôi từng vô tình nhắc đến trong những đêm giỗ chạp cũng ùa về. Ông nội tôi, ông Lê Văn Cảnh, cũng nằm xuống khi mới ba mươi tám tuổi, cơ thể gầy rộc, máu từ miệng ộc ra ướt đẫm tấm nệm bông gòn. Cả gia đình khi đó đều tin rằng dòng họ Lê mắc một chứng bệnh di truyền về đường hô hấp, một khiếm khuyết trong chuỗi gen mà y học thời đó chưa thể định danh.

Bà Tám Bến Tre chống cây gậy tre bước lại gần bàn thờ tổ tiên. Đôi bàn chân trần nứt nẻ của bà đạp lên những vệt vôi vữa rơi vãi sau trận rung chuyển của giàn giáo. Bà ngước nhìn lên bức chân dung cụ tổ Lê Văn Thừa treo lồng lộng giữa gian trung tâm. Ánh đèn măng-sông vàng vọt hắt lên đôi mắt vẽ bằng sơn dầu của cụ tổ, tạo ra một cái nhìn sắc lạnh, ngạo nghễ nhưng ẩn chứa sự kinh hoàng tột độ.

"Chú Bảy!" Bà Tám cất giọng đanh gọn, phá tan bầu không khí ngột ngạt. "Mở cái tủ chè bên góc trái bàn thờ ra. Lấy quyển gia phả bọc vải điều xuống đây cho tôi."

Ông Bảy Hoài lúc này vẫn chưa hoàn hồn sau vụ sập giàn giáo sắt, mặt cắt không còn hột máu. Nghe tiếng gọi, người thợ già luống cuống bò dậy, hai tay vịn vào mép chiếc phản gỗ gõ đỏ rồi lật đật bước tới góc bàn thờ. Ổ khóa đồng của tủ chè đã rỉ sét qua nhiều thập kỷ, ông Bảy phải dùng chiếc đục sắt giắt bên hông cạy mạnh hai lần mới bẩy tung được cánh cửa gỗ lim chạm trổ hoa cúc.

Một chiếc hộp bằng gỗ trắc đen bóng phủ đầy bụi bặm được mang ra đặt lên chiếc bàn đá cẩm thạch, ngay bên cạnh chiếc mâm đồng đang chứa cỗ quan tài gỗ vàng tâm. Lớp vải điều bọc ngoài quyển gia phả đã mục nát theo thời gian, sợi chỉ viền rách tơi tả khi ông Bảy Hoài run rẩy mở nắp hộp.

Bà Tám Bến Tre không trực tiếp chạm tay vào những trang giấy dó ố vàng. Bà dùng đầu cây gậy tre lật từng trang chữ Hán xen lẫn chữ quốc ngữ thời kỳ đầu. Từng dòng chữ mực nho sắc nét hiện ra dưới ánh sáng tù mù.

"Cậu Khải Minh, tự mắt cậu nhìn đi." Bà Tám chỉ đầu gậy vào cột ghi chép đời thứ hai sau cụ Lê Văn Thừa. "Đọc ngày tháng ghi bên cạnh tên người mất."

Tôi nuốt ngụm máu mặn chát nơi cổ họng, gượng sức chống tay vào mép bàn đá đứng dậy. Toàn thân tôi run rẩy dữ dội, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm lưng áo sơ mi. Tôi cúi sát mặt xuống trang giấy dó mỏng tang, nheo mắt đọc những nét chữ đã phai mờ:

"Trưởng nam Lê Văn Hưng. Sinh năm Bính Tuất (1886). Mất giờ Hợi, ngày rằm tháng Bảy năm Bính Dần (1926). Thọ bốn mươi tuổi. Bạo bệnh thổ huyết mà quy tiên."

Ngón tay tôi run rẩy lật tiếp sang trang kế bên:

"Trưởng nam Lê Văn Cảnh. Sinh năm Canh Thân (1920). Mất giờ Hợi, ngày rằm tháng Bảy năm Mậu Tuất (1958). Thọ ba mươi tám tuổi. Chứng huyết bộc phát tắc khí quản."

Và trang cuối cùng, dòng chữ viết bằng bút mực Cửu Long màu xanh đen do chính tay chú ruột tôi ghi lại:

"Trưởng nam Lê Văn Quý. Sinh năm Canh Dần (1950). Mất giờ Hợi, ngày rằm tháng Bảy năm Kỷ Tỵ (1989). Thọ ba mươi chín tuổi. Xuất huyết phổi cấp tính."

Trang giấy dó rung bần bật dưới ngón tay tôi. Đầu gối tôi lại mềm nhũn ra, tôi phải tì toàn bộ trọng lượng cơ thể vào mép đá hoa cương mới không ngã quỵ xuống đất.

Rằm tháng Bảy. Cả ba đời trưởng nam trước tôi đều chết vào đúng giờ Hợi, ngày rằm tháng Bảy.

Ba cái chết cách nhau mấy chục năm, diễn ra ở ba địa điểm hoàn toàn khác nhau. Một người chết ngay tại ngôi nhà cổ trăm cột này. Một người chết trên ghe bầu khi đang buôn gạo về Chợ Lớn. Một người chết trong bệnh viện hiện đại nhất Sài Gòn. Không một bác sĩ nào, không một giấy chứng tử nào chỉ ra được mối liên hệ giữa họ ngoài kết luận chung chung về bệnh phổi.

Nhưng ngày chết thì trùng khớp đến từng nét khắc trên bia mộ.

"Năm 1902..." Tôi ngẩng đầu lên, giọng nói nghẹn ngào vì kinh hãi tột cùng, nhìn trừng trừng vào cỗ quan tài gỗ vàng tâm nhỏ xíu trên mâm đồng. "Đứa nhỏ đó... con trai của thợ cả Phan Văn Sáu... nó chết vào ngày nào?"

Bà Tám Bến Tre nhắm nghiền hai mắt lại, đôi môi nhai trầu mấp máy như đang lần giở lại từng mẩu ký ức truyền miệng của giới thợ mộc miệt Tiền Giang suốt một thế kỷ:

"Đêm rằm tháng Bảy năm Nhâm Dần. Đúng vào tiết Trung nguyên, ngày cửa địa ngục mở toang, thợ cả Sáu ôm xác con trai từ bờ sông Tiền trở về căn chòi rách. Đứa nhỏ bị đám gia nhân của cụ Thừa dùng gậy tầm vông đập nát xương lồng ngực, thổ ra từng búng máu đen đặc rồi tắt thở đúng lúc chuông chùa bên kia sông điểm giờ Hợi. Khi thợ cả Sáu dùng dao rọc giấy chặt lóng tay út của con mình đem giấu vào cây đòn dông, ông ta đã lập thệ với tổ nghề Lỗ Ban Sát: chừng nào ngôi nhà này còn đứng vững trên đất cù lao, thì cứ hễ đến rằm tháng Bảy của năm mà trưởng nam nhà họ Lê bước vào hạn bốn mươi, đứa trẻ sẽ trở về đòi lại một mạng người."

Tôi ngước mắt nhìn lên nóc nhà.

Khung giàn giáo sắt đổ nghiêng đã làm xô lệch vài hàng ngói âm dương, để lộ ra những khoảng trống thông thống hướng thẳng lên bầu trời đêm xám xịt bên ngoài. Mưa giông bắt đầu kéo đến, từng hạt mưa nặng hạt gõ lộp độp lên mái ngói, phát ra những âm thanh rền rĩ như tiếng than khóc ai oán.

Ngay tại khớp mộng đòn dông gỗ lim bị đục khoét nham nhở, bóng đen quái dị kia lại xuất hiện.

Lần này, nó không còn mờ ảo trong những cơn mê sảng lúc nửa đêm của tôi nữa. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn măng-sông và ánh chớp chập chờn xé rách màn mưa ngoài hiên, tôi nhìn thấy nó rõ ràng đến từng chi tiết.

Đó là một đứa trẻ khoảng mười ba, mười bốn tuổi. Thân hình nó nhỏ thó, gầy gò, mặc chiếc áo bà ba rách bươm đã ố vàng vì bùn đất và máu khô. Hai chân nó buông thõng xuống từ thanh xà nóc, đung đưa nhịp nhàng theo từng cơn gió lùa qua khe ngói vỡ.

Gương mặt nó tái nhợt như xác chết ngâm nước lâu ngày, nhưng hai hốc mắt lại rỗng toác, đen ngòm như hai cái giếng sâu không đáy. Từ khóe miệng nứt nẻ của cái bóng đen, những giọt máu tươi đỏ sẫm đang chầm chậm chảy xuống, rơi thẳng tắp từ độ cao mười mét xuống nền gạch tàu ngay cạnh chỗ tôi đang quỳ.

"Tách... tách..."

Mỗi giọt máu rơi xuống mặt gạch đều làm bốc lên một làn khói trắng nhờ nhờ kèm theo thứ mùi tanh tưởi quen thuộc. Đứa trẻ không hề có biểu cảm giận dữ hay gào thét. Nó chỉ ngồi yên ở đó, nghiêng đầu nhìn xuống tôi với đôi mắt trống rỗng, một cái nhìn lạnh lẽo, kiên nhẫn của một kẻ đi săn đã chờ đợi con mồi suốt một trăm hai mươi năm.

Bàn tay phải của nó đưa ra phía trước. Bàn tay nhỏ bé, khẳng khiu với những vết chai sần của một đứa trẻ phụ việc thợ mộc từ thuở ấu thơ. Nhưng ngón tay út trên bàn tay phải ấy đã bị chặt cụt sát tận đốt xương, chỉ trơ lại một mẩu thịt thâm đen quắt queo.

Cỗ quan tài bằng ngón tay đặt trên mâm đồng rung bần bật. Lọn tóc người quấn quanh thân gỗ siết chặt lại, phát ra những tiếng kêu ken két như sợi dây thép đang bị kéo căng hết mức.

"Cụ tổ của cậu đã tính toán quá khôn ngoan, nhưng lại quá tàn độc," tiếng bà Tám Bến Tre đều đều vang lên bên tai tôi, trầm buồn như tiếng chuông báo tử. "Sau khi thợ cả Sáu bỏ trốn, cụ Thừa thừa biết mình đã bị ếm. Nhưng cụ không dám dỡ căn nhà ra. Cơ ngơi trăm cột lim này là thể diện, là uy quyền của cụ với quan lại thực dân thời đó. Cụ Thừa chọn cách sống thọ đến tám mươi tuổi, chấp nhận nhìn đứa con trai lớn của mình hộc máu chết trước mặt để giữ lấy sản nghiệp. Sự giàu sang của họ Lê được đổi bằng chính tính mạng của các thế hệ trưởng nam."

Tôi cắn chặt môi đến mức bật máu. Sự thật trần trụi và tàn nhẫn ấy xé toạc lòng kiêu hãnh của tôi. Hóa ra sự giàu có, gia thế hiển hách của dòng họ Lê mà cha tôi luôn tự hào trước khi nhắm mắt xuôi tay, tất cả đều được xây đắp trên nền móng của sự đê hèn và phản bội.

Cụ tổ Lê Văn Thừa đã quỵt tiền công của người thợ, đánh chết con trai của người ta, rồi khi bị nguyền rủa, cụ lại khoanh tay đứng nhìn con cháu đời sau gánh chịu quả báo thay mình.

"Bà Tám..." Tôi chống tay đứng thẳng người lên, dù hai chân vẫn run rẩy kịch liệt. Ánh mắt tôi không rời khỏi cỗ quan tài gỗ vàng tâm đang rỉ máu trên tấm vải điều. "Có cách nào hóa giải không? Tôi đã đưa nó ra khỏi khớp mộng rồi. Chúng ta đốt nó đi, hoặc ném nó xuống sông Tiền được không?"

"Hỗn xược! Tuyệt đối không được đụng đến lửa hay nước!" Bà Tám quát lớn, nét mặt nghiêm nghị đến đáng sợ. "Lỗ Ban Sát là bùa huyết thệ! Cậu tưởng lôi được nó ra khỏi cây đòn dông là xong chuyện sao? Trăm năm qua, cỗ quan tài này nằm trong tim của ngôi nhà, được thớ gỗ lim nuôi dưỡng, hút hết linh khí của đất cù lao và máu của ba đời trưởng nam họ Lê để biến thành một ổ tà linh hoàn chỉnh!"

Bà lão bước tới mép bàn, chỉ ngón tay run rẩy vào những sợi chỉ ngũ sắc đang căng cứng quanh thân cỗ quan tài:

"Khi nó còn nằm im trong khớp mộng, nó chỉ vận hành theo chu kỳ ba mươi năm một lần, đợi đến rằm tháng Bảy mới phát tác để đoạt mạng một người. Nhưng hôm nay, chính tay cậu đã cạy mộng gỗ, chính máu từ ấn đường của cậu đã nhỏ vào lọn tóc người chết trên nắp hòm! Cậu đã đánh thức toàn bộ oán khí của đứa trẻ dậy trước thời hạn!"

Như để chứng minh cho lời bà Tám, một tiếng gầm gừ quái đản từ sâu dưới nền móng đá ong của ngôi nhà bỗng nhiên dội lên. Không phải tiếng rung lắc cơ học của rường cột, mà là tiếng thở phì phò của một thứ gì đó tà ác đang cựa mình thức giấc dưới lòng đất.

Mặt đá cẩm thạch của chiếc bàn tròn bắt đầu nứt ra. Những đường nứt li ti như mạng nhện lan nhanh từ mép chiếc mâm đồng, chạy ngoằn ngoèo ra bốn phía.

Dòng dịch màu đỏ sẫm từ khe nắp cỗ quan tài gỗ vàng tâm không còn chảy chậm nữa. Nó bắt đầu sôi sùng sục, nổi lên những bong bóng máu đỏ lòm. Mùi tanh tưởi bốc lên nồng nặc đến mức ông Bảy Hoài phải ôm miệng nôn thốc nôn tháo xuống sàn gạch.

Tôi nhìn xuống bàn tay phải của mình.

Vết thương nơi lòng bàn tay - chỗ tôi đã nắm chặt cỗ quan tài khi trượt từ giàn giáo xuống - bắt đầu chuyển sang màu tím đen. Những đường gân máu màu xanh sẫm nổi phồng lên dưới da, ngoằn ngoèo bò ngược từ cổ tay lên cẳng tay, hướng thẳng về phía tim tôi. Mỗi nhịp đập của tim tôi lúc này đều kéo theo một cơn đau nhói buốt buốt tận tủy sống, giống như có hàng ngàn mũi kim sắt đang đâm xuyên qua mạch máu.

Tà thuật Lỗ Ban không thể bị tiêu hủy bằng những cách thức thông thường. Khi người mang dòng máu họ Lê chạm tay vào vật yểm mà không có phương pháp giải trừ bài bản, toàn bộ oán khí tích tụ một thế kỷ sẽ phản phệ trực tiếp lên cơ thể người đó.

"Khải Minh... năm nay cậu bao nhiêu tuổi?" Bà Tám đột ngột quay sang nhìn tôi, ánh mắt sắc lẹm như muốn nhìn thấu tâm can.

Tôi ôm chặt cánh tay phải đang co giật, khó nhọc cất tiếng:

"Ba mươi hai... Tôi sinh năm Nhâm Thân... ba mươi hai tuổi."

Bà Tám Bến Tre lẩm bẩm tính toán trên các đốt ngón tay gầy guộc. Khuôn mặt già nua của bà mỗi lúc một tối sầm lại, những nếp nhăn nơi khóe trán co rút dữ dội. Bà ngẩng phắt đầu lên nhìn tôi, giọng nói mang theo một sự tuyệt vọng lạnh toát:

"Hôm nay là ngày mười ba tháng Bảy âm lịch. Chỉ còn hai ngày nữa là đến rằm tháng Bảy."

Tiếng sấm rền vang rách toạc màn đêm ngoài sông Tiền. Ánh chớp xanh lè lóe lên qua những khoảng trống của mái ngói xô lệch, rọi thẳng xuống gian thờ tổ tiên.

Trên thanh đòn dông gỗ lim cao vút, bóng đen của đứa trẻ mười bốn tuổi bỗng nhiên chuyển động. Nó không còn ngồi vắt vẻo nữa. Nó chầm chậm xoay người lại, bò bằng cả tứ chi trên thanh gỗ lim trơn bóng, chiếc đầu nghiêng hẳn sang một bên, từng khớp xương cổ kêu lách cách khô khốc.

Hai hốc mắt rỗng toác của nó găm chặt vào tôi.

Và từ trong khoảng không tối đen sâu thẳm của xà nóc, một âm thanh vang lên, lạo xạo như tiếng răng người nghiến vào đá sỏi, luồn qua tiếng mưa gió đập vào vách gỗ, dội thẳng vào lồng ngực tôi:

"Trả nợ... Trả mạng cho tao..."

Tôi lảo đảo lùi lại phía sau, lưng đập mạnh vào chân cột cái. Máu trong huyết quản tôi như đang sôi lên sùng sục, nóng rực như dung nham thiêu đốt từng tấc da thịt. Đòn phản phệ của Trùng tang yểm đã chính thức bắt đầu, và chiếc đồng hồ đếm ngược sinh mệnh của tôi chỉ còn tính bằng từng canh giờ ngắn ngủi trước khi đêm rằm tháng Bảy buông xuống.

Chương khác

Xem thêm