Lỗ Ban Thuật: Yểm Thắng - Chương 17: Con Đục Thép Đen Cắm Vào Mũi Ván Thuyền

Cơn gió chướng quất từng đợt rát bỏng vào mạn thuyền máy đuôi tôm khi chiếc vỏ lãi tách khỏi chân cầu khỉ sau nhà cổ. Mặt nước sông Tiền lúc nửa đêm đen…

Nội dung chương

Cơn gió chướng quất từng đợt rát bỏng vào mạn thuyền máy đuôi tôm khi chiếc vỏ lãi tách khỏi chân cầu khỉ sau nhà cổ. Mặt nước sông Tiền lúc nửa đêm đen kịt như một chảo mực tàu khổng lồ, cuộn từng xoáy phù sa đục ngầu gầm gừ dưới lườn gỗ mỏng manh.

Tôi ngồi bệt dưới lòng thuyền, lưng dựa vào giàn be gỗ cong vút ướt đẫm nước mưa. Toàn thân tôi run lên bần bật trong cơn sốt hầm hập thiêu đốt da thịt, nhưng từ sâu thẳm trong xương tủy, một luồng hàn khí buốt giá lại không ngừng trồi lên làm hai hàm răng va vào nhau lập cập. Cánh tay phải của tôi bọc kín trong lớp áo khoác sũng nước, những vệt gân tím sẫm ngoằn ngoèo đã bò vượt qua cùi chỏ, nhắm thẳng về phía cuống tim mà cắn xé. Mỗi nhịp đập của quả tim tôi lúc này nặng nề và đau nhói hệt như có mảnh chai vỡ cọ xát trong lồng ngực.

Phía mũi thuyền, chiếc giỏ tre lót tro bếp đựng cỗ quan tài gỗ vàng tâm được ông Bảy Hoài đặt ngay ngắn trên một bao tải gai. Tấm vải điều bọc ngoài cỗ quan tài tí hon đã sẫm lại vì thấm đẫm huyết dịch rỉ ra từ kẽ nắp hòm. Chín nút thắt bằng dây gai căng tròn, bốc lên mùi tanh tao nồng nặc lấn át cả mùi dầu cặn của máy nổ.

Ông Bảy Hoài hai tay ghì chặt cần lái máy đuôi tôm, mắt nhìn chăm chăm về phía lòng sông mênh mông không một ánh đèn. Khuôn mặt người thợ già trắng bệch dưới ánh chớp xa xăm rạch ngang trời, hai vai co rúm lại vì sợ hãi.

"Thưa bà Tám... rạch Ba Dầu ban đêm nước cạn dữ lắm, nhiều bãi chà với gốc dừa mục chìm dưới lòng bùn." Ông Bảy Hoài hét lớn để át đi tiếng máy nổ tành tạch. "Chạy đêm hôm thế này, lỡ chân vịt quấn rác hay đâm trúng cọc đáy thì ba người mình chìm nghỉm giữa dòng sông Tiền chứ chẳng chơi!"

Bà Tám Bến Tre ngồi xếp bằng trên một tấm chiếu cói rách ngay cạnh tôi. Chiếc áo bà ba nâu sòng của bà dán chặt vào tấm lưng còng gầy guộc. Hai mắt bà nhắm nghiền, ngón tay gầy guộc lần tràng hạt bằng hạt bồ đề đen nhánh, miệng lẩm bẩm tụng những câu kinh trầm đục đều đặn.

Bà không mở mắt, cất giọng khàn đặc át cả tiếng gió rít qua mép ván:

"Anh Bảy cứ ghì chặt tay lái, nhắm thẳng vàm kênh Mỏ Cày mà đâm vào. Tà ma trong cỗ quan tài đã ngửi thấy mùi máu của thằng cháu họ Lê, nó đang kéo đàn kéo lũ đuổi theo sau đuôi thuyền đấy. Anh dừng lại hay quay mũi lúc này là cả thuyền lật úp làm mồi cho đáy sông ngay tức khắc!"

Lời cảnh báo của bà lão phong thủy làm sống lưng tôi lạnh toát. Tôi gượng ngóc đầu lên nhìn lại phía sau.

Qua màn mưa bụi mịt mù, bóng dáng ngôi nhà cổ trăm cột đã mờ dần thành một khối đen sẫm khổng lồ chắn ngang cù lao. Nhưng kỳ quái làm sao, trên nền trời xám xịt của đêm giông, tôi vẫn thấy rõ mồn một đỉnh nóc nhà gãy gập. Nơi khớp mộng đòn dông gỗ lim bị tháo dỡ, một đốm lân tinh màu đỏ lòm lập lòe trôi nổi giữa không trung, giống như một con mắt độc ác đang nhìn chằm chằm theo vệt sóng rẽ nước của chiếc thuyền máy.

Cơn buồn nôn xộc lên cổ họng. Tôi ho sù sụ, bàn tay run rẩy bịt chặt miệng. Khi mở lòng bàn tay ra dưới ánh đèn pin leo lét gắn trên mũi thuyền, tôi thấy một bọc đờm lẫn máu đỏ tươi nằm gọn giữa những đường chỉ tay đang dần thâm đen.

Bà Tám mở mắt ra. Đôi mắt già nua đục ngầu những tia máu đỏ quạch găm thẳng vào khuôn mặt tái ngắt của tôi. Bà thò tay vào túi vải rút ra một củ gừng già mọc đầy rễ nhánh, dùng dao bài gọt vội vài lát mỏng rồi nhét thẳng vào miệng tôi:

"Ngậm chặt lấy cuống họng! Nuốt nước cay của gừng tươi xuống bụng để giữ lại chút dương khí cuối cùng. Máu trong người cậu đang bị bùa Lỗ Ban kéo ngược ra ngoài. Hễ cậu nôn hết ba ngụm máu tươi thì đến rằm tháng Bảy này không cần người họ Phan bẻ bùa, lục phủ ngũ tạng của cậu cũng tự hóa thành vũng nước đen!"

Vị cay nồng xé rách vòm họng bốc thẳng lên tận hốc mũi, át đi vị tanh lợm của máu bầm. Tôi cắn chặt răng, nghiến nát lát gừng già cho dòng nước cay xè trôi chầm chậm qua thực quản nóng rực. Cảm giác đau đớn khiến thần trí tôi tỉnh táo lại đôi chút.

"Bà Tám... gia phả thợ mộc họ Phan... rốt cuộc có gốc tích ra sao?" Tôi khó nhọc thốt ra từng tiếng, hơi thở phì phò nặng trĩu. "Tại sao thợ cả Phan Văn Sáu năm xưa lại hận cụ tổ tôi đến mức đem cả tính mạng của dòng họ ra đánh cược?"

Chiếc thuyền chồm lên một ngọn sóng lớn giữa tim sông Tiền, nước bắn tung tóe qua be gỗ ướt sũng nửa thân người tôi.

Bà Tám Bến Tre tiếp tục lần từng hạt bồ đề, thanh âm trầm bổng hòa vào tiếng sóng vỗ bập bềnh:

"Năm 1902, thợ cả Phan Văn Sáu không đơn thuần là thợ mộc làm thuê. Dòng họ Phan gốc gác từ đất Thần Kinh, thừa kế bí truyền Lỗ Ban Sát từ ba đời trước. Họ Phan chỉ nhận cất nhà cho quan lại, địa chủ lớn miền Tây để mưu cầu thanh danh. Lúc nhận dựng ngôi nhà cổ trăm cột cho cụ tổ Lê Văn Thừa, cụ Sáu đem theo đứa con trai một mười bốn tuổi tên là thằng Cúc để truyền nghề."

Bà lão dừng lại, ngón tay bấm mạnh vào một hạt bồ đề phát ra tiếng kêu cắc gọn:

"Thằng Cúc trời sinh khéo tay, đục đẽo mộng gỗ lim khít khao không hở một sợi tóc. Nhưng cụ tổ Lê Văn Thừa năm đó ỷ thế giàu sang, vừa muốn dinh cơ bề thế vừa tiếc bạc vạn trả công thợ. Cụ tổ cậu viện cớ kèo cột có vết nứt dăm, vu cho cha con cụ Sáu tội lừa gạt tiền bạc của chủ nhà, rồi sai bọn tá điền dùng gậy sắt đánh chết thằng nhỏ ngay dưới chân giàn giáo giữa ban trưa."

Lồng ngực tôi thắt nghẹn lại. Một cảm giác tội lỗi truyền kiếp đè nặng lên từng khúc ruột. Dù tôi sinh ra ở thời hiện đại, được nuôi dạy bằng tri thức và văn minh phương Tây, nhưng dòng máu đang chảy trong người tôi chính là dòng máu của kẻ đã gây ra tội ác tày trời đó.

"Sau cái chết của con trai, cụ Sáu nuốt hận vào trong lòng," bà Tám kể tiếp, giọng bà lạnh lùng như băng đá. "Cụ già giả vờ quỳ lạy xin tha mạng, xin cụ tổ cậu cho phép làm nốt thanh đòn dông để hoàn tất nóc nhà rồi mới rời đi. Chính trong đêm dựng nóc năm đó, cụ Sáu đã dùng máu ở ngực thằng Cúc trộn với tóc nó, khoét hộc rỗng trên đòn dông gỗ lim mà yểm cỗ quan tài gỗ vàng tâm này vào. Bùa đóng xong, cụ ôm xác con trốn biệt tích về xứ rạch Ba Dầu, ẩn dật cất một chòi lá ven sông, thề đời đời con cháu chỉ được làm thợ mộc đóng hòm chôn người chết, tuyệt đối không bao giờ dựng nhà cho người sống nữa."

"Vậy... Sáu Khảm..." Tôi ngắt lời bà, từng ngón tay bấu chặt vào mép ván thuyền ướt lạnh.

"Sáu Khảm là chắt đích tôn của cụ Sáu. Thằng này năm nay bốn mươi lăm tuổi, tánh tình quái đản, hung tợn như chó dại. Cả đời nó chỉ sống thui thủi trong rạch sâu, ngày ngày đục đẽo ván hòm cho thiên hạ ven sông. Trên bàn thờ tổ tiên nhà nó, cái giá cắm cây thước Lỗ Ban và cây búa đồng của cụ Sáu vẫn còn để nguyên đó, ngày nào nó cũng thắp ba nén nhang thề trả mối huyết thù với họ Lê."

Bà Tám nhìn tôi, khóe miệng nhếch lên thành một nụ cười cay đắng:

"Cậu tưởng tìm đến nó là nó sẽ giơ tay cứu mạng cậu sao? Họ Phan đợi cái ngày họ Lê cạn kiệt đinh tử suốt một trăm năm nay rồi. Đêm nay cậu vác xác đến cửa nhà nó, khác nào dâng đầu vào miệng cọp!"

"Nhưng chúng ta không còn lựa chọn nào khác..." Tôi thì thào, cổ họng nghẹn ứ. "Nếu ông ta không chịu giải bùa, tôi sẽ chết. Và dinh cơ trăm cột kia sẽ nuốt trọn sinh mạng của những người tiếp theo."

Bà Tám không đáp lại. Bà quay mặt về phía trước, nơi con sông Tiền bắt đầu thu hẹp lại, nhường chỗ cho cửa con rạch Ba Dầu tăm tối.

Chiếc thuyền máy giảm tốc độ, mũi thuyền rẽ vào một lạch nước nhỏ quanh co. Không gian chung quanh lập tức chùng xuống một cách ngột ngạt. Tiếng sóng vỗ ầm ào của sông lớn biến mất, chỉ còn lại tiếng mái dầm khua nước bì bõm và tiếng côn trùng rền rĩ từ hai bờ rậm rạp.

Từng rặng dừa nước rậm rạp vươn những tàu lá dài ngoằng ra giữa lòng rạch, đan cài vào nhau che khuất toàn bộ bầu trời đêm. Ánh trăng mười ba âm lịch không thể xuyên qua nổi vòm lá rậm rịt, biến con rạch thành một đường hầm màu đen ngòm nhớp nháp.

Dưới ánh đèn pin lờ mờ, những chùm rễ dừa nước thõng xuống mặt bùn trông như những cánh tay khẳng khiu của người chết đuối đang cố vươn lên khỏi mặt nước. Mùi bùn sình thối rữa quyện với mùi lá mục bốc lên ngai ngái, xộc thẳng vào mũi làm tôi xây xẩm mặt mày.

Cơn mê man lại ập đến cuốn phăng chút tỉnh táo vừa chớm nở của tôi. Tôi thấy mình rơi vào một khoảng không đen đặc không đáy. Trong cơn ác mộng chập chờn, tôi thấy bóng đen của đứa trẻ mười bốn tuổi ngồi vắt vẻo trên một tàu dừa nước sà thấp sát mặt sông. Đứa trẻ nghiêng đầu nhìn tôi trừng trừng, khóe miệng rách toạc kéo dài đến tận mang tai cười lên khanh khách. Hai bàn tay khẳng khiu dính đầy máu tươi của nó chìa ra, từng ngón tay thon dài cào cấu vào lườn thuyền gỗ tạo nên những âm thanh ken két nhức óc.

"Khải Minh! Tỉnh lại mau!"

Một cái tát giáng mạnh vào má tôi làm tôi giật nảy mình mở choàng mắt.

Bà Tám Bến Tre đang nắm chặt bả vai tôi giật lắc liên hồi. Trên trán bà lão mồ hôi túa ra ròng ròng, chiếc khăn rằn tuột hẳn xuống cổ.

"Đừng để hồn phách phiêu bạt theo tiếng gọi của ma quỷ!" Bà Tám quát khẽ, giọng gắt gao bên tai tôi. "Chúng ta vào đến đất của họ Phan rồi. Địa khí ở đây toàn là âm sát do hàng trăm cỗ ván hòm tích tụ lại, hễ cậu buông lơi một tấc thần thức là nó đoạt xác ngay!"

Tôi thở dốc từng cơn, trán ướt đẫm mồ hôi lạnh ngắt. Tôi ngước mắt nhìn chung quanh.

Chiếc thuyền máy đã tắt ngấm động cơ từ lúc nào, chỉ trôi lờ lững theo dòng nước thủy triều đang rút chậm. Hai bên bờ rạch là những đụn bùn lầy nhấp nhô rễ dừa nước tua tủa. Giữa khoảng đất bồi sình lầy hoang vu, một căn chòi lá xiêu vẹo hiện ra dưới ánh đèn le lói.

Căn chòi dựng bằng những cây tràm khẳng khiu, mái lợp lá dừa nước rách bươm, vách che bằng những tấm ván bìa chắp vá đủ loại màu sắc. Trước căn chòi, hàng chục tấm ván gỗ gõ đỏ, gỗ thao lao dài thượt được dựng nghiêng vào thân dừa để hong gió. Dưới sàn đất bồi ngập ngụa mùn cưa và phoi bào mục rữa, nổi lềnh bềnh trên lớp bùn đen quánh.

Mùi gỗ tươi bị ẩm mốc quyện với mùi sơn ta nồng nặc đến nghẹt thở. Cả khoảng sân ngập ngụa phoi bào ấy toát lên một tử khí nặng nề, giống hệt một bãi tha ma chất đầy những nắp quan tài chưa kịp chôn.

Ông Bảy Hoài run rẩy dùng cây sào tre cắm sâu xuống đáy bùn để hãm đà chiếc thuyền lại.

"Đến... đến nơi rồi bà Tám ơi..." Giọng ông Bảy Hoài run bần bật, mắt dán chặt vào bóng tối mịt mùng bên trong căn chòi lá. "Đây là trại hòm của thằng Sáu Khảm. Cả cù lao này ai chết cũng phải chèo xuồng vào đây mua áo quan của nó..."

Bà Tám Bến Tre đứng thẳng người dậy, hai bàn tay nắm chặt chuỗi bồ đề trước ngực. Bà bước lên mui thuyền, đưa mắt nhìn thẳng vào cánh cửa liếp đóng kín mít của căn chòi lá:

"Sáu Khảm! Có người quen cũ bên sông Tiền sang tìm mượn búa!"

Tiếng nói của bà lão âm vang lảnh lót, dội vào vách lá rồi tan biến trong tiếng rền rĩ của đám ễnh ương dưới sình lầy.

Không có tiếng trả lời. Bên trong chòi lá im lìm như một nấm mồ hoang phế. Chỉ có một ngọn đèn dầu hỏa leo lét đặt trên chiếc bàn thờ bằng gỗ trắc nơi gian giữa hắt ra vài tia sáng đỏ quạch qua khe vách.

Chiếc thuyền máy trôi nhẹ thêm một thước, mũi ván gỗ từ từ cọ vào lớp lục bình bập bềnh ven mép bùn sình.

Đúng lúc mũi thuyền vừa chạm nhẹ vào dải đất lầy lội, một tiếng xé gió sắc lẹm đột ngột rít lên từ bóng tối dày đặc sau rặng dừa nước.

Vút!

Một luồng kình lực hung hãn bay vút qua không gian, rạch toạc màn sương đêm ẩm ướt.

Phập!

Một lưỡi đục thợ mộc bằng thép đen bóng cắm ngập sâu ba tấc vào ngay chính giữa mũi ván thuyền, chỉ cách chiếc giỏ tre đựng cỗ quan tài chưa đầy một gang tay. Cán đục bằng gỗ trắc đen nhánh rung lên bần bật, phát ra những tiếng vo ve rợn người giữa đêm khuya thanh vắng.

Từ bóng tối mịt mùng bên mé hiên chòi lá, một bóng người đàn ông cao lớn chậm rãi bước ra mép sàn bùn. Gã mặc bộ quần áo bà ba đen cộc tay sờn rách, để lộ hai cánh tay cuồn cuộn gân guốc sạm màu nắng gió. Trên gương mặt xương xẩu góc cạnh của gã, một vết sẹo dài chạy chéo từ thái dương xuống tận khóe cằm giật giật từng cơn dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu. Cặp mắt gã sau tròng kính bản nhỏ lóe lên những tia nhìn hung hãn, lạnh buốt như loài rắn độc vùng sông nước.

Gã thò bàn tay to bè thô ráp ra, ngón tay trỏ chỉ thẳng vào mặt tôi, một thanh âm khàn đặc gằn từng tiếng rợn óc xé rách màn đêm:

"Lũ súc sinh họ Lê! Dòng họ tao đợi ngày máu của chúng mày cạn kiệt suốt một trăm năm nay rồi! Cút ngay lập tức, trước khi tao dùng búa bửa đôi cái sọ của mày ra làm mồi cho cá bống rạch Ba Dầu!"

Chương khác

Xem thêm