Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 1: Tiền Buộc Chỉ Mượn Mạng
Mười một giờ mười lăm phút đêm, tôi bước ra khỏi cổng phân xưởng ép đế giày của nhà máy Vĩnh An. Toàn thân tôi ám chặt mùi keo công nghiệp hăng hắc cùng…
Nội dung chương
Mười một giờ mười lăm phút đêm, tôi bước ra khỏi cổng phân xưởng ép đế giày của nhà máy Vĩnh An. Toàn thân tôi ám chặt mùi keo công nghiệp hăng hắc cùng mùi cao su cháy khét, bám dai dẳng vào tận chân tóc. Gió đầu thu ở trấn Vĩnh An thuộc đất Hà Nam này mang theo cái rét buốt đặc trưng, luồn qua lớp áo công nhân mỏng tang khiến tôi run rẩy. Sương mù dày đặc trùm kín những mái ngói rêu phong, làm ngọn đèn đường vàng vọt ở đằng xa mờ mịt, chập chờn theo từng cơn gió.
Trong túi quần, chiếc điện thoại màn hình vỡ nát rung lên bần bật ba hồi. Không cần nhìn tôi cũng biết là tin nhắn đòi nợ từ ứng dụng vay tiền trực tuyến. Năm mươi triệu đồng tiền gốc lẫn lãi đè nặng lên ngực tôi suốt ba tháng qua, biến tôi thành một kẻ chỉ chực phát điên. Lương công nhân ba cọc ba đồng, mỗi ngày tăng ca mười bốn tiếng cũng chỉ đủ trả tiền lãi cắt cổ. Nếu tuần này không xoay đủ tiền, đám đòi nợ thuê chắc chắn sẽ tìm đến tận xưởng lột da tôi.
Tôi cắm đầu rảo bước qua ngã tư Tây Môn. Đây là giao lộ vắng vẻ nhất thị trấn, ban đêm hiếm khi có xe cộ qua lại vì người già trong vùng đồn rằng nơi này tụ nhiều âm khí, thời phong kiến từng là pháp trường chém đầu tử tội.
Đúng lúc bước chân chạm vào tâm ngã tư, mắt tôi bắt gặp một đốm màu đỏ tươi nằm trơ trọi trên nền nhựa đường xám xịt ẩm ướt.
Đó là một tờ tiền mệnh giá một trăm tệ còn mới nguyên, phẳng phiu không tì vết. Giữa màn đêm sương giăng mờ mịt, màu đỏ của tờ tiền rực rỡ một cách bất thường. Nhưng điểm kỳ quái nằm ở chỗ: ngay chính giữa tờ tiền được cột chặt bởi một sợi chỉ đỏ tươi, thắt nút hình cánh bướm tinh xảo.
Người xưa ở trấn Vĩnh An vẫn răn dạy con cháu: ra đường thấy tiền rơi ở ngã tư, tuyệt đối không được nhặt. Đó có thể là tiền mua chuộc ma quỷ, tiền xả xui, hoặc tiền gánh hạn của người sống gửi cho kẻ chết.
Nhưng một trăm tệ lúc này tương đương ba trăm năm mươi ngàn đồng, đủ cho tôi ăn bánh bao chay cầm cự qua một tuần. Đối với một kẻ đang ngập trong nợ nần và đói khát, nỗi sợ thần linh quỷ thánh chẳng thấm tháp vào đâu so với nỗi sợ bị bọn chủ nợ bẻ gãy khớp ngón tay. Tôi tự cười khẩy một tiếng, lẩm bẩm:
Thời buổi này, ma đói cũng không đáng sợ bằng nợ nần.
Tôi cúi xuống, thò tay nhặt tờ tiền lên.
Ngay khi ngón tay tôi vừa chạm vào bề mặt tờ giấy bạc, sợi chỉ đỏ buộc quanh đột ngột đứt phựt một tiếng giòn tan. Sợi chỉ không rơi xuống đất mà bắn ngược lên, quấn chặt lấy cổ tay phải của tôi đúng ba vòng rồi thắt nút lại. Cảm giác trên da thịt không giống như sợi bông mềm mại, mà lạnh buốt, thít chặt hệt như một sợi dây đồng tây cọ xát vào biểu bì.
Tôi giật mình gãi gãi cổ tay, cố cạy sợi chỉ ra nhưng nó bám quá sát, tựa hồ một vòng chỉ trang sức bó sát da. Cho rằng chỉ là sợi nilon dính bụi bẩn vô tình vướng phải, tôi nhét vội tờ một trăm tệ vào túi áo khoác, rảo bước thật nhanh về khu nhà trọ.
Căn phòng trọ của tôi nằm ở cuối con hẻm đất, rộng vỏn vẹn tám mét vuông, ẩm thấp và bốc mùi ẩm mốc. Tôi bật bóng đèn tuýp nhấp nháy trên trần nhà, khóa trái hai then cài cửa sắt rồi ngồi bệt xuống mép giường gỗ ọp ẹp.
Tôi rút tờ tiền một trăm tệ trong túi ra để ngắm nghía dưới ánh đèn. Mặt trước in hình chân dung quen thuộc sắc nét, mực in mịn màng, dải bảo an lấp lánh phản quang, chắc chắn là tiền thật một trăm phần trăm.
Nhưng khi tôi lật mặt sau lại, ngực tôi đập trật một nhịp.
Mặt sau của tờ tiền hoàn toàn không có hình ảnh Đại lễ đường Nhân dân. Toàn bộ mặt giấy trắng bệch, ở giữa in một hàng chữ Hán màu đỏ thẫm như dùng máu tươi viết lên, nét chữ xiêu vẹo ma quái:
"Cảm ơn đã đến thay ta."
Mùi mực in biến mất, thay vào đó là mùi khét lẹt nồng nặc bốc lên từ lòng bàn tay. Tờ tiền trên tay tôi không cần lửa bỗng nhiên tự bốc cháy, ngọn lửa màu xanh lét âm u không tỏa ra hơi nóng mà tỏa ra hơi lạnh thấu xương. Tôi hốt hoảng buông tay, tờ tiền rơi xuống sàn gạch men biến thành một đống tro xám đen ngoằn ngoèo, tan biến vào không khí sau vài giây ngắn ngủi.
Cổ tay phải của tôi bỗng nhói buốt. Sợi chỉ đỏ quấn quanh ban nãy đã biến mất, để lại trên da thịt một lằn chỉ đỏ rực chìm sâu dưới biểu bì, nhìn giống hệt một vết sẹo mới cắt.
Tôi run rẩy lùi lại, va lưng vào bức tường vôi tróc lở. Giữa không gian tĩnh mịch của đêm khuya, tiếng côn trùng ngoài bụi cỏ rả rích kêu từng hồi não nuột. Tôi tự trấn an bản thân rằng mình làm việc quá sức nên hoa mắt, hoặc có kẻ nào đó trong xưởng cố tình làm trò ảo thuật để chơi khăm tôi.
Đúng một giờ sáng.
"Cộc. Cộc. Cộc."
Ba tiếng gõ cửa vang lên đều đặn, chậm rãi và khô khốc.
Tiếng gõ không mạnh, nhưng vang vọng khắp căn phòng chật hẹp, đập thẳng vào màng nhĩ tôi. Tôi nín thở, mắt dán chặt vào cánh cửa gỗ mỏng manh. Khu trọ này chỉ có vài công nhân thuê, giờ này ai cũng đã ngủ say như chết sau ca làm kiệt sức.
Ai đấy? - Tôi cất giọng khàn đặc, tay vớ lấy chiếc cờ lê sắt đặt cạnh chân bàn.
Bên ngoài không có tiếng trả lời. Chỉ có tiếng gió rít qua khe cửa và tiếng thở phì phò khe khẽ của chính tôi.
Tôi bước rón rén từng bước đến sát cửa, ghé mắt nhìn qua lỗ nhòm quang học gắn trên tấm ván. Hành lang bên ngoài ngập trong màn sương mù mờ ảo, bóng đèn vàng leo lét chao đảo, tuyệt nhiên không có một bóng người.
Tôi chần chừ vài giây rồi nhẹ nhàng xoay chốt khóa, hé mở cánh cửa một khoảng nhỏ bằng bàn tay.
Không gian bên ngoài lạnh buốt. Gió lùa vào cuốn theo mùi hương trầm nồng nặc, loại hương chuyên dùng trong các đám tang ở vùng nông thôn. Dưới ngưỡng cửa phòng tôi, đặt ngay ngắn một đôi giày cưới thêu hoa văn chỉ vàng màu đỏ thẫm.
Đôi giày mũi cong vút, kiểu dáng thời xưa, nhỏ nhắn tinh xảo chỉ vừa chân của một thiếu nữ mười tám đôi mươi. Trên mũi giày còn dính vài vệt bùn đất ẩm ướt chưa kịp khô.
Tôi giật nảy mình, vung chân đá mạnh đôi giày ra xa rồi sập cửa cài then thật chặt. Đôi giày bị đá văng vào góc tường phát ra tiếng "bộp" nặng nề, giống như bên trong đôi giày vải đó có chứa da thịt người thật.
Đêm đó, tôi không dám tắt đèn, ngồi co ro trên giường ôm chặt chiếc cờ lê sắt cho đến khi hai mi mắt díp lại vì mệt mỏi cùng cực, rồi chìm vào giấc ngủ mê man lúc nào không hay.
Khi tôi mở mắt ra, xung quanh là một màn đêm đen kịt, đặc quánh và ngột ngạt đến mức không thở nổi.
Không khí sực nức mùi gỗ thông mới cưa, mùi ẩm mốc của đất sâu và mùi nhang trầm đậm đặc xộc thẳng vào cuống họng. Lưng tôi nằm trên một lớp vải lụa thô ráp, hai bên sườn bị ép chặt bởi những tấm ván gỗ cứng ngắt.
Tôi vươn tay lên phía trên, những ngón tay lập tức chạm phải một nắp gỗ phẳng lỳ, thô ráp, cách mặt tôi chưa đầy một gang tay.
Tôi không còn ở trong phòng trọ. Tôi đang nằm trong một cỗ quan tài gỗ đóng kín.
Cơn hoảng loạn tột độ bùng nổ. Tôi gào thét điên cuồng, dùng cả hai tay và hai chân đạp mạnh lên nắp quan tài.
"Rầm! Rầm!"
Nắp quan tài chừng như chưa được đóng đinh cố định, sau ba cú đạp dốc toàn lực của tôi, tấm ván gỗ nặng trịch trượt sang một bên rồi rơi xuống đất tạo nên một tiếng động chát chúa.
Tôi ho sặc sụa, lồm cồm bò ra khỏi cỗ áo quan, ngã nhào xuống sàn gạch lạnh buốt.
Khung cảnh hiện ra trước mắt khiến máu trong huyết quản tôi đông cứng lại.
Tôi đang ở trong một gian nhà thờ tổ cổ kính, rộng thênh thang. Khắp các cột đình bằng gỗ lim đều treo dải lụa đỏ xen lẫn những dải vải trắng tang tóc. Trên bàn thờ lớn ở chính diện, hai ngọn nến sáp trắng to bằng bắp tay đang cháy bập bùng, tỏa ra ánh sáng leo lét ma quái. Bát hương bằng đồng to tướng cắm đặc những chân nhang đỏ rực, khói tỏa nghi ngút khắp căn phòng.
Khắp mặt sàn vương vãi hàng ngàn tờ giấy tiền vàng bạc cắt hình tròn, xen lẫn những thỏi vàng mã bằng giấy lấp lánh dưới ánh nến. Giữa bức tường chính diện, một chữ "Hỷ" màu đỏ tươi khổng lồ được dán đè lên một chữ "Tang" màu trắng toát.
Đây là một gian phòng cưới của đám tang, một nghi lễ minh hôn - đám cưới ma rùng rợn trong hủ tục cổ xưa.
Tôi quay đầu nhìn lại cỗ quan tài gỗ mun mình vừa bò ra. Bên cạnh nó, có một cỗ quan tài thứ hai nhỏ hơn, nắp đã mở toang từ bao giờ. Bên trong trống rỗng.
Có ai không? Cứu tôi với! - Tôi hét lên lạc cả giọng, lao về phía cánh cửa gỗ lớn dẫn ra sân ngoài.
Tôi nắm lấy then cài cửa, giật điên cuồng, nhưng cánh cửa lớn đã bị khóa chặt bằng ba vòng xích sắt to bản từ bên ngoài. Qua khe hở giữa hai cánh cửa, tôi chỉ thấy một nghĩa địa hoang tàn ngập trong sương mù dày đặc của vùng ngoại ô Vĩnh An, những ngôi mộ đất nhấp nhô dưới ánh trăng mờ.
Một luồng gió lạnh thấu xương thổi tắt một bên nến trắng trên bàn thờ.
Tờ giấy tiền vàng mã trên mặt đất bỗng nhiên bay xào xạc, xoay tròn giữa không trung rồi rơi lả tả xuống chân tôi. Từ trong góc tối sau bức hoành phi, tiếng bước chân nhẹ tênh, ma mị cất lên:
"Lộp cộp. Lộp cộp."
Đó là tiếng bước đi của đôi giày cưới thêu hoa văn màu đỏ thẫm.
Tôi nép chặt lưng vào cánh cửa khóa kín, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Từ trong bóng tối mịt mùng, một bóng người từ từ bước ra dưới ánh nến leo lét.
Đó là một cô gái trẻ khoác trên mình bộ hỷ phục màu đỏ thắm thời nhà Thanh, từng đường chỉ thêu rồng phượng bằng sợi kim tuyến ánh lên sắc lạnh. Khuôn mặt cô ta trắng bệch như thoa một lớp sáp dày, hai gò má đánh phấn đỏ rực, nhưng đôi mắt thì trống rỗng, hai dòng huyết lệ đỏ ngầu rỉ ra từ khóe mắt, chảy dài xuống chiếc cằm nhọn hoắt. Cổ cô ta có một vết siết tím bầm sâu hoắm, dấu vết của cái chết do treo cổ tự vẫn.
Ký ức mơ hồ về một mẩu tin địa phương tuần trước bỗng ùa về trong tâm trí tôi: Một cô gái trẻ ở làng bên tự tử vì bị gia đình ép gả cho một gia tộc giàu có để làm đám cưới âm với một công tử chết trẻ. Trước khi chết, cô ta đã đặt lời nguyền tìm kẻ thế mạng.
Tờ tiền một trăm tệ ở ngã tư Tây Môn. Sợi chỉ đỏ buộc cánh bướm.
Đó không phải là tiền của người sống đánh rơi. Đó là tiền mượn mạng. Ai nhặt tờ tiền đó, kẻ đó đã tự nguyện chấp nhận khế ước, đồng ý thế mạng cho cô ta dưới cõi âm ti, trở thành tân lang của đám cưới ma này.
Cô gái bước từng bước cứng đờ về phía tôi, khóe miệng rách toạc kéo lên một nụ cười ma quái, để lộ hàm răng đen ngòm.
Anh đã nhặt tiền của em. Anh sẽ là chú rể của em.
Giọng nói của cô ta như phát ra từ dưới đáy mồ sâu, vang vọng rền rĩ khắp gian nhà thờ tổ, đập thẳng vào tâm trí tôi khiến đầu óc tôi quay cuồng, chân tay rụng rời không thể nhúc nhích.
Tôi nhìn xuống cổ tay phải của mình.
Vết lằn đỏ do sợi chỉ để lại lúc này đã nứt toác ra thành một vết cắt sâu hoắm, máu tươi từ vết thương rỉ ra thành từng giọt, nhuộm đỏ cả bàn tay tôi. Máu chảy đến đâu, một sợi chỉ đỏ vô hình từ vết cắt lại tự động kéo dài ra, nối thẳng vào cổ tay mảnh khảnh, lạnh ngắt của cô gái mặc áo cưới.
Khế ước máu đã thành. Sinh mệnh của tôi đang bị rút cạn theo từng giọt máu rơi xuống nền đất lạnh.
Tôi bất lực trượt dài xuống chân cánh cửa sắt, toàn thân tê liệt, không thể phát ra bất kỳ âm thanh cầu cứu nào. Bóng đỏ của cô gái lướt tới trước mặt tôi, bàn tay lạnh buốt như tảng băng trôi chạm nhẹ vào má tôi.
Khuôn mặt trắng bệch áp sát vào tai tôi, hơi thở mang theo mùi tử khí phả thẳng vào da thịt, cô ta khẽ thì thầm:
Đêm nay là đêm cưới.