Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 4: Đôi Hài Cũ Rước Vong Vào

Sau khi được các bác sĩ ở bệnh viện huyện rửa ruột và truyền dịch suốt ba ngày, Tô Oánh giữ được tính mạng. Thể xác cô hồi phục, nhưng tinh thần thì tàn…

Nội dung chương

Sau khi được các bác sĩ ở bệnh viện huyện rửa ruột và truyền dịch suốt ba ngày, Tô Oánh giữ được tính mạng. Thể xác cô hồi phục, nhưng tinh thần thì tàn phế. Ngày xuất viện, mẹ cô từ quê lên đón con gái về. Tôi ra cổng tiễn, thấy hai mắt Oánh trũng sâu, con ngươi đờ đẫn không còn chút sức sống. Cô không dám ở một mình trong phòng kín, ban đêm phải bật đủ bốn bóng đèn và nắm chặt tay mẹ mới chợp mắt được mươi mười lăm phút. Cô bé hai mươi hai tuổi hoạt bát ngày nào giờ chỉ còn là một cái bóng run rẩy sợ hãi từng cơn gió lùa qua khe cửa.

Khu trọ công nhân trở nên vắng lặng đến ngột ngạt.

Đêm ngày hai mươi ba, trấn Vĩnh An chìm trong lớp sương mù dày đặc quánh lại như cháo loãng. Mùi khói than tổ ong trộn lẫn hơi ẩm bốc lên từ những con mương lộ thiên khiến không khí có vị chua chát. Tôi tan ca ba lúc hai giờ sáng, cả người rã rời vì đứng máy tiện liên tục tám tiếng. Bước chân nặng nề dẫm trên nền gạch xỉ lạo xạo dẫn vào con hẻm cụt.

Tầng dưới khu trọ vừa có tang. Ông Trần, người thợ mộc già neo đơn sống ở phòng số một đối diện cầu thang, đã qua đời hai hôm trước do bạo bệnh. Người ta phát hiện ra khi thi thể đã cứng đờ trên chiếc phản gỗ. Vì ông không có con cái hay người thân thích, ban quản lý khu phố chỉ mua vội cỗ quan tài gỗ dán loại rẻ tiền nhất, đưa thẳng ra nghĩa trang phía tây thị trấn chôn cất trong buổi chiều muộn mà không kèn không trống.

Căn phòng của ông Trần bị niêm phong bằng một dải giấy trắng dán chéo cửa gỗ. Khi tôi bước chân lên bậc cầu thang xi măng ẩm ướt để lên tầng hai, luồng gió lạnh từ khe thông gió thổi tạt qua mang theo mùi vôi bột nồng nặc.

Lên đến chiếu nghỉ tầng hai, tôi dừng bước trước cửa phòng mình.

Trên tấm giẻ lau chân bằng bao tải bố thô ráp, có một đôi giày da cũ đặt ngay ngắn. Mũi giày hướng thẳng vào cánh cửa phòng tôi.

Đó là đôi giày da mũi tròn kiểu cán bộ thập niên chín mươi, da bò màu nâu sẫm đã nứt nẻ chằng chịt những đường rạn chân chim. Phần gót giày mòn vẹt sang một bên, để lộ lớp cao su màu vàng đất bên trong. Lạ lùng là dù thân giày rất cũ, lớp bụi đường lại được lau sạch bóng, sạch đến mức trơ ra những vết trầy xước sâu hoắm trên mũi da. Dưới đế giày, những rãnh cao su hình quả trám vẫn còn bám chặt từng mảng đất sét vàng ướt dính, loại đất bùn đặc trưng của sườn đồi nghĩa trang tây trấn.

Tôi nhận ra ngay đôi giày này. Sinh thời, ông Trần có thói quen hễ đi làm về là cởi giày để ngay ngắn trước bậc cửa phòng mình, không bao giờ đem vào trong nhà vì sợ bẩn sàn.

Tôi nghĩ bụng chắc mấy người dọn dẹp vệ sinh chiều nay gom đồ đạc của ông vứt lung tung, ai đó đi qua nhặt lên rồi tiện tay đặt trước cửa phòng tôi. Cơn buồn ngủ dồn dập khiến đầu óc tôi đặc quánh. Không buồn cúi xuống nhặt, tôi chỉ hơi nhấc chân gạt nhẹ đôi giày da sang mép tường rồi tra chìa khóa vào ổ, mở cửa bước vào phòng, chốt chặt then sắt bên trong.

Nằm vật xuống chiếc giường bạt kêu cọt kẹt, tôi kéo chăn trùm kín đầu. Căn phòng im ắng đến mức nghe rõ tiếng đồng hồ quả lắc kêu tích tắc khô khốc trên vách tường vôi.

Đúng ba giờ mười lăm phút sáng.

"Cộp. Cộp. Cộp."

Âm thanh phát ra từ ngoài hành lang, ngay sát vách cửa gỗ phòng tôi. Tiếng đế cao su nện xuống nền xi măng đặc và nặng, mỗi bước đi đều kéo lê một quãng ngắn rồi mới dẫm trọn gót xuống.

"Cộp... xoẹt... cộp..."

Âm thanh dừng lại ngay trước bậc cửa.

Tôi mở mắt trừng trừng nhìn lên trần nhà. Toàn thân tôi cứng đờ. Tiếng bước chân đó không giống của người trẻ tuổi, nó chậm chạp, khập khiễng, y hệt dáng đi cà nhắc vì bệnh khớp của ông Trần lúc còn sống.

Tôi ngồi dậy, với lấy chiếc đèn pin mini trên đầu giường, rón rén bước từng bước nhẹ đến sát cửa. Tôi ghé mắt nhìn qua khe hở giữa hai cánh gỗ cũ kỹ.

Hành lang tối om, đèn sợi đốt ở đầu cầu thang chập chờn phát ra ánh sáng vàng vọt mù mờ. Không có bóng người nào cả. Sương mù từ ngoài ban công tràn vào đọng thành những giọt nước li ti trên lan can sắt gỉ sét.

Tôi hít sâu một luồng khí lạnh qua kẽ răng, từ từ kéo chốt cửa, đẩy nhẹ cánh gỗ ra ngoài.

Hành lang trống rỗng.

Dưới chân tôi, đôi giày da cũ kỹ kia đã dịch chuyển từ mép tường quay trở lại chính giữa tấm giẻ lau chân. Hai mũi giày đen ngòm chĩa thẳng tắp vào ngón chân trần của tôi, chỉ cách một khoảng bằng nửa đốt ngón tay. Vết đất vàng dưới đế giày vẫn còn ẩm ướt, để lại hai vệt bùn hình bàn chân in rõ trên mặt bao tải bố. Mùi dầu thông pha lẫn mùi tử khí hôi tanh nhàn nhạt xộc thẳng vào cánh mũi.

Tôi dùng mũi chân đá mạnh đôi giày văng xa ra tận mép cầu thang, sau đó đóng sầm cửa lại, cài then đôi rồi leo lên giường trùm kín chăn cho đến khi trời hửng sáng.

Tám giờ sáng hôm sau, tiếng còi xe ngoài đường đánh thức tôi. Tôi ngồi dậy, xỏ chân xuống đất tìm dép.

Chân tôi chạm phải một bề mặt cứng và lạnh ngắt.

Cúi đầu nhìn xuống, toàn bộ máu trong người tôi như đông cứng lại.

Đôi giày da cũ của ông Trần đang nằm ngay ngắn cạnh mép giường tôi, đặt song song với đôi dép xốp tôi hay đi. Mũi giày hướng thẳng vào gầm giường. Những mảng đất sét vàng từ đế giày đã khô lại, vỡ vụn ra rơi vãi trên nền gạch hoa căn phòng. Mùi da bò ẩm mốc nồng nặc lan khắp không gian chật hẹp.

Tôi không hề mở cửa suốt từ đêm qua. Then sắt vẫn cài chặt từ bên trong.

Cơn giận dữ pha lẫn nỗi kinh hãi trỗi dậy. Tôi vớ lấy chiếc túi ni lông màu đen, chụp lấy đôi giày da nhét tọt vào trong, buộc chặt miệng túi lại. Tôi mang chiếc túi xuống tầng dưới, đi thẳng ra bãi rác lộ thiên ở đầu hẻm, ném mạnh chiếc túi vào thùng rác sắt lớn rồi quay về.

Cả ngày hôm đó tôi làm việc ở xưởng mà tâm trí lơ lửng. Tôi tự trấn an mình rằng có thể do mộng du, do quá căng thẳng sau vụ việc của Tô Oánh nên bản thân đã tự tay mang đôi giày vào nhà mà không nhớ.

Mười một giờ đêm, tôi tan ca trở về phòng trọ.

Tôi kiểm tra kỹ từng góc nhà, khóa chặt cửa sổ, cài then cửa chính cẩn thận. Mọi thứ bình thường. Tôi mệt mỏi ngả đầu xuống chiếc gối bông đã xẹp lép.

Đầu tôi vừa chạm vào gối liền thấy cộm cứng, không thể lún xuống như mọi khi.

Tôi đưa tay luồn xuống dưới lớp gối vải hoa để kiểm tra. Những ngón tay tôi chạm vào một lớp da sần sùi, lạnh buốt như da người chết đuối.

Tôi giật phắt chiếc gối ném sang một bên.

Đôi giày da cũ nằm ngay ngắn trên mặt chiếu cói, ngay vị trí tôi vừa đặt đầu.

Mặt trong của đôi giày lộn ngược lên, lớp vải lót ố vàng vì mồ hôi chân lâu năm hiện rõ những sợi chỉ bung mép. Mùi đất nghĩa trang bốc lên nồng nặc, bao trùm lấy toàn bộ chiếc giường. Trên mặt chiếu, lớp đất bùn vàng ướt rượt in hằn hình hai chiếc đế giày sâu hoắm, như thể vừa có một người vô hình đứng thật nặng trên đầu giường tôi suốt nhiều giờ liền.

Đêm đó, tôi sốt li bì.

Trong cơn mê sảng nửa tỉnh nửa mê, tôi thấy mình đang nằm trên chiếc phản gỗ của ông Trần ở tầng dưới. Căn phòng tối tăm, bốn bề dán đầy giấy trắng. Ông Trần đứng ở cuối giường, mặc bộ quần áo vải thô màu xám tro, hai chân trần tím tái dính đầy bùn đất. Ông cúi gập người xuống, khuôn mặt nhăn nheo xám xịt dí sát vào mặt tôi, hơi thở phả ra mùi đất ải nồng nặc:

Cháu ơi, ông về rồi. Đưa ông vào nhà đi. Lạnh quá, ngoài đường lạnh lắm, ông không có ai đưa vào cả...

Tôi giật mình bật dậy lúc sáu giờ sáng, mồ hôi ướt đẫm áo lót, toàn thân run rẩy như cầy sấy. Đôi giày da vẫn nằm nguyên dưới gầm gối.

Tôi gói đôi giày vào một tờ báo cũ, chạy thục mạng sang quán cháo hoa của bà Mận ở đầu ngõ.

Quán cháo sớm nghi ngút khói. Thấy tôi hớt hải chạy vào với gương mặt trắng bệch, bà Mận đặt chiếc muôi gỗ xuống mép nồi, ánh mắt quét nhanh qua gói báo tôi đang ôm chặt trước ngực.

Bà kéo tôi vào góc trong cùng của quán, khẽ hỏi:

Lại nhặt phải thứ gì của người chết rồi đúng không?

Tôi mở tờ báo ra, để lộ đôi giày da mòn gót phủ đầy đất khô. Tôi kể lại toàn bộ sự việc từ đêm hôm trước đến giấc mơ rạng sáng nay.

Bà Mận nhìn chằm chằm vào đôi giày, sắc mặt bà trầm xuống, nếp nhăn nơi khóe mắt giật nhẹ. Bà thở dài, lắc đầu:

Ông Trần chết đường chết chợ, chết già trong cô độc, hồn không có người dẫn lối nên cứ quanh quẩn ở chỗ ở cũ. Nhưng người chết không thể tự tiện bước qua ngưỡng cửa phòng người sống nếu không có người rước. Đôi giày là vật dẫn đường, là phương tiện để hồn phách đi lại. Đêm đó anh vô tình đạp qua đôi giày, lại để nó hướng mũi vào cửa phòng mình, nghĩa là anh đã nhận lời dẫn đường cho ông ấy.

Bà chỉ tay vào hai vệt đất vàng trên đế giày:

Đưa giày vào phòng là đưa hồn người chết vào ngụ cư. Đặt dưới gối là mời ông ấy nằm chung giường. Tục lệ ngàn đời nay ở đất này, người chết nhắm mắt là toàn bộ giày dép, quần áo phải đem đốt hết ngay sau khi đậy nắp quan tài. Tuyệt đối không được để giày dép của người chết vương vãi trước cửa nhà, nếu không hồn ma sẽ cứ theo đôi giày mà tìm về, quấy quả người sống đến khi nào bắt được người đi cùng mới thôi.

Nghe đến đó, hai hàm răng tôi va vào nhau cầm cập. Tôi hỏi giọng lắp bắp:

Giờ... giờ con phải làm sao hả bà?

Mua ngay một xấp tiền vàng mã, ba cây nhang, một chai rượu trắng. Mang đôi giày này ra ngã ba đường phía đông, nơi có ánh mặt trời chiếu tới đầu tiên. Đốt hết không để sót một mẩu da nào. Vừa đốt vừa khấn xin ông Trần nhận đồ rồi đi về nơi chín suối, đừng theo anh nữa. Làm ngay trong buổi sáng nay, trước khi mặt trời lên đến đỉnh đầu.

Tôi làm chính xác từng lời bà Mận dặn.

Tại ngã ba đường hoang vắng phía đông trấn, tôi chất đống củi khô, đặt đôi giày da lên trên rồi châm lửa. Ngọn lửa đỏ rực bùng lên, nuốt trọn lấy đôi giày da cũ. Mùi khói da cháy khét lẹt bốc lên ngùn ngụt, xộc vào mắt cay xè. Tôi rót rượu trắng thành vòng tròn quanh đống lửa, chắp tay khấn vái liên tục cho đến khi đôi giày chỉ còn lại một đống tro đen xám tàn lụi theo gió.

Đêm hôm đó trôi qua trong bình lặng. Không có tiếng bước chân "cộp cộp", không có giấc mơ quái dị nào xuất hiện. Tôi ngủ một mạch đến tận sáng, cảm giác như trút được một tảng đá ngàn cân đè nặng trên lồng ngực.

Bảy giờ sáng hôm sau, tôi thức dậy, vươn vai bước ra mở cửa để đón chút không khí ban mai.

Cánh cửa gỗ vừa đẩy ra, bước chân tôi khựng lại giữa không trung.

Trước ngưỡng cửa phòng tôi, trên tấm giẻ lau chân sạch sẽ, có một đôi giày mới toanh đang nằm ngay ngắn.

Đó là một đôi giày da nữ gót nhọn màu đen tuyền, kiểu dáng cổ điển, da bóng lộn phản chiếu ánh nắng sớm mờ nhạt. Đường kim mũi chỉ may viền quanh thân giày tinh xảo đến từng chi tiết, da mềm như lụa, toát lên mùi da thuộc thượng hạng lẫn mùi hoa nhài khô thơm phức nồng nàn. Đế giày làm bằng da thuộc màu đỏ thắm, mới tinh tươm, không dính một hạt bụi nào.

Hai mũi giày nhọn hoắt hướng thẳng vào trong phòng tôi.

Nhìn vào lòng chiếc giày bên phải, tôi thấy một mảnh giấy nhỏ màu đỏ điều, loại giấy chuyên dùng để viết sớ cầu duyên thời xưa, được xếp cẩn thận kẹp dưới lớp lót lụa.

Tôi run rẩy quỳ một chân xuống, dùng hai đầu ngón tay kẹp mảnh giấy rút ra.

Mảnh giấy tỏa ra mùi mực tàu nồng đậm. Trên nền giấy đỏ thắm, một dòng chữ viết bằng bút lông nét mực đen nhánh, nắn nót và mềm mại:

"Cảm ơn anh đã đưa ông Trần đi. Đôi giày này là quà đáp lễ của tôi. - LMN"

Đầu óc tôi nổ tung một tiếng ong ong. Tôi nắm chặt mảnh giấy đỏ trong lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi lạnh, cầm theo đôi giày nữ chạy thục mạng xuống quán cháo của bà Mận.

Bà Mận đang bưng bát cháo cho khách, nhìn thấy đôi giày da bóng lộn và sắc mặt xám như tro tàn của tôi, chiếc bát trên tay bà trượt xuống đất vỡ tan tành. Nước cháo nóng bắn tung tóe lên nền đất.

Bà giật lấy mảnh giấy đỏ trên tay tôi, nhìn chằm chằm vào ba chữ cái viết tắt "LMN". Đôi môi bà run rẩy kịch liệt, sắc mặt bà trắng bệch không còn một giọt máu.

LMN... Lý Mỹ Ngọc...

Bà Mận ngẩng phắt đầu lên nhìn tôi, giọng bà khàn đặc và run rẩy tột cùng:

Lý Mỹ Ngọc... là em gái ruột của cô dâu mặc áo đỏ bị chôn sống năm xưa ở đầm hoang. Con bé chết sau chị gái nó đúng một trăm ngày, cũng bị chôn cùng một đôi giày cưới màu đen. Đôi giày này... đôi giày này không phải quà cảm ơn... Nó là sính lễ hồi môn. Cô ta muốn nhận anh làm chồng dưới âm phủ!

Bà Mận túm chặt lấy cổ tay tôi, móng tay bà bấm sâu vào da thịt tôi đau nhói:

Anh đã động vào chiếc áo cưới màu đỏ của người chị, làm vấy bẩn chiếc áo liệm của cô gái chết đuối, cứu đứa con gái ôm búp bê giữ hồn, và giờ là nhận sính lễ của người em gái. Cả ba cô hồn dưới đất Vĩnh An này đã khóa chặt lấy mệnh của anh rồi. Đốt ngay đôi giày này đi, rồi chuẩn bị đồ đạc, đêm nay chúng ta phải lập đàn phá nghiệp. Nếu qua mười hai giờ đêm nay không phá được duyên âm, ba cỗ kiệu ma sẽ cùng lúc đến đón xác anh đi!

Chương khác

Xem thêm