Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 6: Ô Đen Dẫn Lối Xuống Sông

Cơn mưa xối xả giữa tháng bảy âm lịch biến con đường đất đỏ nối xưởng gạch ngói ngoại ô với trấn Vĩnh An thành một bãi bùn lầy nhão nhoét. Đèn xe máy của…

Nội dung chương

Cơn mưa xối xả giữa tháng bảy âm lịch biến con đường đất đỏ nối xưởng gạch ngói ngoại ô với trấn Vĩnh An thành một bãi bùn lầy nhão nhoét. Đèn xe máy của tôi bị chập mạch, tắt ngúm ngay khi tôi vừa rẽ vào ngã ba sông Vị Thủy. Gió rít từng cơn qua rặng phi lao bên bờ đê, quất nước mưa rát rạt vào mặt.

Ngay giữa giao lộ bùn lầy, nơi nhánh sông chia đôi thành hai lạch nước chảy xiết, một chiếc ô giấy dầu màu đen tuyền đang bung mở hoàn hảo. Nó nằm ngay ngắn trên một ụ đá nhô cao, không hề bị gió bão thổi lật hay cuốn đi. Mặt giấy bồi quét dầu trẩu đen bóng, nước mưa trượt qua bề mặt phẳng lì rớt xuống đất thành từng giọt lộp độp. Nan tre bên trong chuốt nhẵn nhụi, sơn then màu nâu sẫm, phần cán gỗ tròn trịa đã mòn nhẵn lớp sơn bóng do tay người cầm nắm lâu năm.

Tôi dựng chân chống xe, bước tới nhặt chiếc ô lên. Cán gỗ truyền đến lòng bàn tay một cảm giác lạnh buốt, giống hệt khi chạm vào tảng băng ngâm dưới hầm sâu. Tán ô vừa che trên đỉnh đầu, tiếng mưa gầm rú chung quanh lập tức nhỏ dần, chỉ còn lại mùi dầu trẩu nồng nặc xộc thẳng vào mũi. Đêm đó, tôi cầm ô chạy xe một mạch về khu nhà trọ công nhân ở cuối trấn.

Tuần đầu tiên trôi qua không có biến cố rõ rệt. Tôi gác cây ô đen vào góc cửa ra vào, ngay cạnh kệ để giày. Mùa hè oi bức, nhưng góc nhà nơi đặt cây ô luôn ẩm ướt. Mỗi buổi sáng đi làm, tôi đều thấy một vũng nước nhỏ đọng dưới mũi ô, dù bên ngoài trời nắng chang chang suốt cả tuần. Nước đọng lại không trong suốt mà có màu vàng đục, bốc lên mùi ngai ngái của bùn đáy sông pha lẫn mùi rong rêu thối rữa.

Sang tuần thứ hai, những hiện tượng kỳ quái bắt đầu xuất hiện trên cơ thể tôi.

Cứ khoảng hai giờ sáng, tôi lại rơi vào trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Hai mí mắt nặng trĩu không thể mở ra, nhưng màng nhĩ nghe rất rõ tiếng chân bước lẹp bẹp trên sàn gạch. Tiếng bước chân dừng lại ngay sát mép giường. Một luồng khí ẩm xông thẳng vào mặt, kèm theo tiếng thở khè khè như người bị ngạt nước.

Mỗi lần tỉnh giấc vào lúc bình minh, tôi đều thấy gấu quần ngủ ướt sũng, bùn non bám chặt từ mắt cá chân lên đến đầu gối. Móng chân cái của tôi găm đầy những sợi rong rêu xanh đen li ti. Tôi cạy ra ngửi, đúng là mùi bùn đặc trưng của lòng sông Vị Thủy. Đôi giày vải để cạnh cửa trượt dài ra giữa lối đi, mũi giày hướng thẳng ra cổng lớn.

Tệ hơn nữa, trọng lượng của chiếc ô thay đổi một cách bất thường. Ban đầu nó chỉ nặng chừng vài trăm gam, nhưng đến ngày thứ mười, khi tôi cầm chuôi ô nhấc lên, cổ tay tôi chùng xuống vì sức nặng ước chừng phải đến bốn, năm cân. Lúc giương ô che đầu khi đi làm ca đêm, tôi cảm nhận rõ hai bên vai mình trĩu nặng, giống như có hai cánh tay vô hình ướt nhẹp đang thõng xuống từ vành ô, tỳ chặt lên khớp xương bả vai tôi.

Ngày thứ mười hai, tôi gặp bà Mận ở quán cháo đầu ngõ. Tôi vừa ngồi xuống ghế, bà Mận đã lập tức đặt mạnh bát cháo hoa xuống bàn, ánh mắt sắc lẹm dán chặt vào chiếc ô đen tôi đang dựng bên cạnh chân bàn.

Bà Mận không nói nửa lời, đứng dậy bước tới, đưa bàn tay gầy guộc chộp lấy cán ô. Bà lật ngược chiếc ô lên, dùng ngón tay cái miết mạnh vào phần khớp nối giữa các nan tre và trục chính.

Lớp giấy dầu đen ở khớp nối bị cạy ra, để lộ một đoạn chỉ đỏ buộc túm một lọn tóc dài cháy sém. Dưới đáy cán gỗ, nơi được bọc một vòng đồng nhỏ, có khắc chìm một hàng chữ Hán ngoằn ngoèo đã bị cạo nham nhở nửa phần dưới, chỉ còn đọc được hai chữ: "Thế Thân".

Bà Mận buông tay, rút trong túi áo ra một chiếc khăn tay lau kỹ từng ngón tay vừa chạm vào ô rồi nhìn thẳng vào mặt tôi.

Cậu nhặt nó ở ngã ba sông đúng không?

Vâng, đêm mưa hai tuần trước. Tôi thấy nó còn lành lặn nên lấy về dùng.

Bà Mận kéo ghế ngồi xuống đối diện, giọng trầm và dứt khoát:

Đây là tục 'ô che hồn cốt', người vùng sông nước này ai cũng biết lệ, chỉ có dân ngụ cư từ nơi khác đến như các cậu mới dại dột đưa tay nhặt.

Ô che hồn cốt là gì vậy bà?

Người chết đuối dưới sông sâu, xác trôi dạt hoặc kẹt dưới hốc đá không tìm thấy, hồn phách bị giam cầm dưới đáy bùn lạnh lẽo không thể siêu sinh. Thân nhân của họ phải làm lễ chiêu hồn, dùng một cây ô giấy dầu đen đến ngã ba sông hoặc ngã ba đường để đón vong về nhà lập bài vị. Cây ô chính là cái quan tài tạm bợ, là mái che để vong hồn nấp vào tránh ánh mặt trời.

Bà Mận chỉ tay vào lọn tóc kẹp trong nan tre:

Nhưng cây ô này không phải dùng để đón người thân về nhà. Đây là trò tà thuật 'đổi mạng tá ô'. Kẻ làm phép đã cắt tóc của người chết đuối, yểm vào nan ô rồi đem vứt bung mở ở ngã ba đường vắng. Ngã ba là nơi quỷ môn tụ khí. Vong quỷ nấp sẵn dưới tán ô. Hễ người sống nào đưa tay nhặt cầm lên che, bóng người đó sẽ đè lên bóng quỷ. Khi cậu bung ô, cậu đã nhận lời cho vong hồn mượn xác. Càng che lâu, hồn phách của người sống càng suy yếu, thân xác sẽ bị nó điều khiển từng bước đi về phía lòng sông để chết thay cho nó.

Tôi run rẩy nhớ lại lớp bùn non bám đầy ống quần và móng chân mỗi sáng thức dậy. Những đêm qua, trong cơn mộng du vô thức, cơ thể tôi đã tự động bước ra khỏi nhà, tiến về phía bờ đê.

Vậy bây giờ phải làm sao để vứt bỏ nó?

Không được vứt lung tung. Cậu vứt ở bãi rác hay xuống cống, nó vẫn sẽ tìm đường quay lại đầu giường của cậu trước khi trời sáng. Muốn dứt bỏ, phải làm đúng lệ tiễn vong.

Bà Mận dặn dò chi tiết:

Chuẩn bị một bó rơm nếp khô, nửa bát tro bếp còn ấm và một con dao găm bằng thép. Đợi đúng mười hai giờ trưa, khi dương khí thịnh nhất trong ngày, mang cây ô ra bãi đất trống ngoài đê. Đặt ô nằm nghiêng, rắc tro bếp vòng quanh thành một vòng tròn khép kín, tuyệt đối không để vòng tro bị đứt đoạn. Châm lửa đốt rơm nếp rồi ném vào giữa tán ô. Khi giấy dầu bắt đầu cháy, phải dùng dao chặt đứt cuống chỉ đỏ buộc lọn tóc ở nan tre, ném cả lọn tóc vào ngọn lửa. Trong lúc cháy, nếu có nghe thấy tiếng gọi tên mình hay tiếng van xin thì tuyệt đối không được quay đầu nhìn. Chờ ô cháy thành tro tàn, xúc toàn bộ tro đổ vào một hũ sành, bịt kín miệng bằng vải đỏ rồi chôn sâu ba thước dưới gốc cây dâu tằm.

Trưa hôm đó, đúng giờ Ngọ, ánh nắng chói chang đổ lửa xuống mặt đê Vị Thủy. Tôi mang theo đầy đủ các thứ bà Mận dặn, đi ra bãi đất hoang cách xa khu dân cư.

Gió bờ sông thổi lồng lộng nhưng không khí oi nồng ngột ngạt. Tôi dựng chiếc ô nằm nghiêng trên nền đất khô nứt nẻ, cẩn thận rắc tro bếp thành một vòng tròn bao bọc chung quanh. Khi vòng tro vừa khép kín, từ bên trong tán ô đen bỗng rỉ ra một dòng nước nhớt màu đen kịt, sủi bọt tanh tưởi dưới ánh nắng gắt gao.

Tôi châm lửa vào bó rơm nếp khô, ngọn lửa vàng bốc lên ngùn ngụt rồi ném thẳng vào lòng chiếc ô.

Màng giấy bồi quét dầu trẩu bắt lửa cực nhanh. Ngọn lửa bùng lên dữ dội, chuyển từ màu vàng sang màu xanh lè ma quái. Khói đen bốc lên cuồn cuộn, nồng nặc mùi mỡ cháy khét lẹt xen lẫn mùi tanh tưởi của xác cá ươn.

Khi các nan tre nổ tanh tách trong lửa đỏ, phần lõi ô lộ ra cuống chỉ đỏ quấn lọn tóc đen. Tôi nắm chặt con dao găm thép, vung một nhát chém đứt phăng đoạn chỉ. Lọn tóc rơi thẳng vào giữa đám than hồng.

Ngay khi sợi tóc tiếp xúc với lửa, một âm thanh the thé rít lên từ trong đống lửa, chói tai giống như tiếng móng tay cào mạnh trên mặt bảng đá. Tiếng nước sôi ùng ục vang lên từ lòng đất dưới chân tôi, kèm theo một giọng nói nhão nhoét, nghẹn ngào như tiếng người đang sặc nước vọng ra từ ngọn lửa khói đen mù mịt:

Lý... Bình... Sao không... xuống chơi với tôi... Lạnh quá...

Tôi cắn chặt môi đến bật máu, hai tay nắm chặt cán dao, dán mắt vào đống lửa đang lụi dần mà không hề chớp mắt hay ngoảnh đầu lại phía sau.

Khoảng mười lăm phút sau, ngọn lửa tắt hẳn. Chiếc ô giấy dầu biến thành một đống tro đen xỉn vón cục. Tôi dùng xẻng xúc toàn bộ tro than và vụn nan tre cho vào chiếc hũ sành đã chuẩn bị sẵn, đậy nắp, dùng dây vải đỏ buộc chặt ba vòng. Tôi đem chiếc hũ đến rặng dâu tằm cổ thụ phía sau miếu Thổ Địa cũ, đào một cái hố sâu ba thước rồi chôn chặt, nện đất phẳng lì.

Tối hôm đó, tôi trở về phòng trọ. Góc nhà nơi từng dựng chiếc ô đen hoàn toàn khô ráo. Mùi dầu trẩu và mùi bùn sông đã biến mất không còn dấu vết. Tôi khóa chặt cửa phòng, leo lên giường và có một giấc ngủ sâu không mộng mị lần đầu tiên sau hai tuần ròng rã.

Năm giờ ba mươi phút sáng hôm sau, tiếng chuông báo thức reo vang. Tôi thức dậy, người nhẹ nhõm, không còn cảm giác nặng trĩu nơi bả vai hay đau buốt các khớp xương.

Tôi bước ra cửa, mở chốt sắt để chuẩn bị đi làm ca sáng.

Cánh cửa gỗ vừa hé mở ra ngoài, một luồng gió sớm lạnh ngắt tạt vào mặt tôi. Ngay trên bậc thềm xi măng trước cửa phòng trọ, một đôi giày thêu hoa bằng gấm đỏ tươi cỡ nhỏ của phụ nữ thời xưa đang được đặt ngay ngắn, mũi giày hướng thẳng vào bên trong nhà. Một sợi chỉ vàng óng ánh buộc chặt hai chiếc giày lại với nhau, bên trong lòng chiếc giày bên trái nhét một tờ giấy tuyên truyền màu vàng có vẽ một giọt máu tươi chưa kịp khô.

Chương khác

Xem thêm