Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 7: Khóa Bạc Giữ Vía Hài Nhi

Sương mù lúc năm giờ sáng ở trấn Vĩnh An đặc quánh như nước gạo vo. Tôi kéo khóa chiếc áo khoác đồng phục công nhân nhà máy dệt, bước vội trên con đường…

Nội dung chương

Sương mù lúc năm giờ sáng ở trấn Vĩnh An đặc quánh như nước gạo vo. Tôi kéo khóa chiếc áo khoác đồng phục công nhân nhà máy dệt, bước vội trên con đường đất lầy lội ven xóm Đông để về khu trọ. Ánh đèn đường vàng vọt chập chờn chiếu xuống bờ mương rậm rạp cỏ dại. Một tia sáng kim loại lóe lên từ búi cây gai làm tôi dừng bước.

Tôi gạt đám lá mục ẩm ướt, nhặt vật kim loại lên. Đó là một chiếc khóa trường thọ bằng bạc to bằng nửa lòng bàn tay, nặng trịch và lạnh ngắt. Mặt trước chạm nổi hình rồng phượng tinh xảo bao quanh bốn chữ "Trường Mệnh Bách Tuế", mặt sau có một vết nứt dài chạy dọc thân khóa, mép vết nứt xỉn màu đen kịt.

Tôi dùng ngón tay cái miết mạnh vào mặt kim loại. Lớp bạc sáng bóng lộ ra dưới bụi đất. Ở cái trấn nhỏ này, một miếng bạc gia công tỉ mỉ thế này đem ra tiệm vàng mã hoặc lò rèn cũng đổi được ít nhất ba trăm tệ. Tôi đút chiếc khóa vào túi áo ngực rồi rảo bước về phòng trọ.

Buổi tối đầu tiên, tôi mang chiếc khóa ra bàn con để cạo lớp cặn đen trong kẽ nứt. Tôi dùng đầu dao nhọn cạy từng mảng bám, một mùi tanh nồng xộc thẳng vào mũi, hệt như mùi sữa trẻ con bị thiu lâu ngày trong bình nhựa. Dù tôi đã dùng bàn chải đánh răng và xà phòng cọ rửa nhiều lần, vết nứt đen vẫn rỉ ra một chất dịch màu vàng nhạt, dính nhớp ráp vào đầu ngón tay. Tôi đặt chiếc khóa lên mặt bàn cạnh đầu giường rồi tắt đèn đi ngủ.

Ngày thứ ba sau khi nhặt chiếc khóa, cơ thể tôi bắt đầu phát sinh những biến đổi rõ rệt.

Hai bả vai tôi nặng trĩu. Cảm giác trĩu nặng tăng dần theo từng ngày, đến mức mỗi lần cúi người nhặt cuộn chỉ trong xưởng dệt, cột sống của tôi lại phát ra tiếng kêu răng rắc. Tôi bắt đầu chán ăn, cổ họng luôn có cảm giác nghẹn ứ dịch chua.

Đến ngày thứ mười, cân nặng của tôi sụt từ sáu mươi lăm cân xuống còn năm mươi mốt cân. Gương mặt tôi hóp lại, hai mắt trũng sâu với quầng thâm bầm tím. Khi cởi trần soi gương trong nhà tắm công cộng, tôi phát hiện trên hai bên xương quai xanh và đỉnh vai của mình có hai cụm vết bầm tím thẫm. Mỗi cụm gồm năm chấm tròn nhỏ li ti, in sâu vào da thịt, tạo thành hình dáng chính xác của hai bàn tay trẻ con đang bấu chặt lấy vai tôi.

Đêm ngày thứ mười hai, tôi tỉnh giấc vì lồng ngực bị chèn ép dữ dội.

Không khí trong phòng trọ đặc quánh mùi phấn rôm lẫn mùi máu tanh. Mắt tôi mở trừng trừng nhìn lên trần nhà ẩm mốc. Toàn bộ phần thân trên của tôi tê liệt, hai bả vai đau buốt như bị móc sắt găm vào. Ngay sát hõm cổ của tôi, một luồng khí nóng ẩm, mang theo tiếng thở phì phò ngắt quãng phả thẳng vào da thịt. Tôi muốn nghiêng đầu nhưng cơ cổ cứng đờ. Từ khóe mắt, tôi nhìn thấy những sợi tóc tơ lưa thưa màu xám đen phủ lòa xòa trên xương quai xanh của mình, kèm theo đó là tiếng cười khúc khích the thé phát ra ngay bên màng tai.

Chiếc khóa bạc đặt trên bàn con phát ra tiếng lạch cạch liên hồi, giống như có ngón tay vô hình đang gõ móng tay lên mặt kim loại.

Sáng hôm sau, tôi không thể gượng dậy đi làm. Tôi mặc áo cổ cao để che đi những vết bầm tím đang bắt đầu rỉ nước vàng ở hai bên vai, gom chiếc khóa bạc vào một túi ni lông đen rồi run rẩy tìm đến tiệm tạp hóa cổ truyền của bà Mận ở đầu Ngõ Rùa.

Cửa tiệm tối tăm, nồng nặc mùi thuốc bắc và nhang trầm. Khi tôi bước qua bậu cửa, Tô Oánh đang ngồi ở góc bàn bóc vỏ hạt sen. Cô gái này vừa thoát nạn sau vụ con búp bê vải tháng trước, trên cổ vẫn còn quấn một dải băng trắng to bản, gương mặt tái nhợt không còn giọt máu. Nhìn thấy tôi bước vào với dáng đi còng rạp, hai vai nhô cao bất thường, Tô Oánh lập tức buông rơi rổ sen, lùi sát vào vách tường.

Bà Mận đang cân rễ cam thảo, ngẩng đầu nhìn thẳng vào hai bả vai của tôi. Bà đặt chiếc cân đồng xuống mặt bàn gỗ, giọng lạnh tanh:

Đem thứ mày nhặt ngoài đường ra đây.

Tôi run rẩy móc chiếc túi ni lông, trút chiếc khóa bạc lên mặt bàn.

Bà Mận không dùng tay chạm trực tiếp vào vật kim loại. Bà dùng một chiếc kẹp gắp than bằng sắt gắp chiếc khóa lên, thả thẳng vào chiếc bát sứ chứa đầy giấm trắng nguyên chất.

Ngay khi tiếp xúc với mặt giấm, chiếc khóa bạc phát ra tiếng xèo xèo chói tai. Dung dịch giấm trắng trong suốt lập tức sôi sùng sục, chuyển sang màu đen kịt như mực tàu, nổi lên những váng mỡ vàng óng cùng mùi hôi thối nồng nặc của thịt thối rữa.

Bà Mận gõ đầu kẹp sắt lên mặt bàn:

Khóa trường thọ rồng phượng, nứt lưng ém máu tim. Mày có biết đây là đồ dùng cho loại người nào không?

Tôi lắc đầu, hai hàm răng va vào nhau cầm cập:

Cháu nhặt ở bụi cây ven mương xóm Đông. Cháu tưởng người ta đánh rơi.

Rơi cái đầu mày. - Bà Mận chỉ kẹp sắt vào vết nứt đen trên thân khóa. - Đây là Đoạn Hồn Khóa. Trẻ con dưới trăm ngày tuổi chết yểu, chết non vì bệnh tật hoặc bị bóp chết, oán khí quá nặng sẽ quay về quấy phá mẹ ruột làm cho cả nhà tuyệt tự. Thầy cúng ngày xưa lấy khóa bạc gia truyền, rạch ngực hài nhi lấy máu tim phong ấn vào rãnh khóa, sau đó bẻ nứt thân khóa để khóa chặt hồn phách của nó lại, không cho siêu sinh cũng không cho về nhà cũ. Xong việc, người ta đem vứt khóa ở ngã ba đường hoặc bụi rậm ngoài bờ ruộng để dứt đoạn máu mủ.

Bà Mận nhìn chằm chằm vào những vết bầm tím đang cộm lên dưới lớp áo của tôi:

Khóa này nằm ngoài sương gió lâu năm, ấn phong đã yếu. Mày nhặt về, hơi ấm từ lòng bàn tay mày hun nóng máu tim trong kẽ nứt. Hồn quỷ hài nhi thức giấc, thấy ai cầm nó đầu tiên thì nó nhận người đó làm cha mẹ mới. Nó trèo lên bám chặt vào vai mày, ngày đêm bú cạn sinh khí, gặm nhấm tủy xương mày để lớn lên. Mày gánh nó nửa tháng nay rồi. Nhìn cái lưng mày còng xuống thế kia, thêm ba ngày nữa là nó bẻ gãy đốt sống cổ của mày để nuốt hồn.

Tôi sụp quỳ xuống nền gạch tàu lạnh buốt:

Bà cứu cháu với. Cháu vứt nó xuống sông được không? Hay đem nấu chảy ra?

Vứt xuống nước thì nó dìm mày chết đuối. Đem nấu chảy thì lửa thiêu linh hồn làm nó phát cuồng, nó cắn đứt yết hầu mày ngay tại chỗ. - Bà Mận quay vào kệ thuốc phía sau, lấy ra một hũ gốm nhỏ và một cuộn vải liệm màu đen. - Trả nợ phong tục thì phải dùng lệ của người chết để tiễn. Mày muốn sống thì phải tự tay làm, không ai làm thay được.

Bà Mận đặt các thứ lên bàn và dặn dò chi tiết:

Mua một con gà trống tơ khỏe mạnh, chặt lấy tiết tươi hòa vào bát giấm này. Nhóm một lò than củi bằng gỗ đào, nung chiếc khóa bạc cho đến khi đỏ rực. Khi khóa đỏ lửa, dùng kẹp gắp ra, dội thẳng bát tiết gà pha giấm lên để tẩy sạch ấn máu tim của gia đình cũ. Sau đó, bọc chiếc khóa vào tấm vải liệm đen này, dùng bảy chiếc đinh sắt đóng xuyên qua bọc vải. Đem lên sườn đồi phía bắc ngoài trấn, tìm gốc cây hòe cụt ngọn, đào sâu ba thước chôn xuống. Khi lấp đất, dập mạnh hòn đá tảng lên trên, miệng nói rõ: "Duyên đã tận, nợ đã trả, không cha không mẹ, cấm bước theo chân". Làm xong đi thẳng về nhà, cấm ngoái đầu nhìn lại.

Tôi cầm lấy cuộn vải liệm đen và gói bột thuốc bà Mận đưa, vội vã chạy đi chuẩn bị than đào và gà trống.

Năm giờ chiều hôm đó, bầu trời trấn Vĩnh An xám xịt, gió lạnh từ đồi phía bắc thổi thốc vào mặt. Tôi ngồi xổm trước lò than củi gỗ đào rực đỏ ở khoảng đất trống sau phòng trọ.

Chiếc khóa bạc nằm giữa lòng than hồng, dần chuyển từ màu xám sang màu đỏ rực. Hai bả vai tôi bỗng nhiên co giật dữ dội, một sức nặng ngàn cân đè nghiến xuống khiến đầu tôi chúi sát mặt đất. Tiếng khóc ngặt nghẽo của trẻ sơ sinh vang lên râm ran khắp khoảng sân vắng, chói lòa cả hai màng nhĩ.

Tôi nghiến chặt răng, dùng kẹp sắt gắp chiếc khóa đỏ rực đặt vào chiếc âu sành, rồi dội thẳng bát tiết gà trống pha giấm trắng lên thân khóa.

Xèo.

Một cột khói đen đặc bốc lên cuồn cuộn, mùi tanh hôi nồng nặc xộc vào mũi khiến tôi nôn thốc nôn tháo ra một bãi dịch màu vàng đậm. Tiếng khóc the thé rít lên một hồi dài rồi nghẹn lại thành tiếng ục ục. Chiếc khóa bạc nguội đi nhanh chóng, mặt bạc biến thành màu xám tro nham nhở, rãnh nứt ở giữa nứt toác ra làm đôi.

Tôi run rẩy bọc hai mảnh khóa vào tấm vải liệm đen, dùng búa gõ dứt khoát bảy chiếc đinh sắt dài xuyên qua lớp vải, cắm chặt hai mảnh kim loại dính vào nhau.

Tôi ôm bọc vải liệm chạy một mạch lên sườn đồi phía bắc. Gió rít qua những bụi gai cào rách cả ống quần. Tôi tìm thấy gốc cây hòe cụt ngọn đứng trơ trọi giữa bãi đất hoang. Dùng chiếc xẻng sắt mang theo, tôi đào một cái hố sâu đúng ba thước, đất lẫn sỏi đá làm tay tôi rách toạc rỉ máu.

Tôi ném bọc vải liệm xuống đáy hố, lấp đất thật chặt, rồi dùng sức vần một tảng đá xanh nặng hơn ba mươi cân đè nghiến lên mặt đất vừa lấp.

Duyên đã tận, nợ đã trả, không cha không mẹ, cấm bước theo chân.

Tôi nói lớn từng chữ theo đúng lời bà Mận dặn.

Khi âm cuối cùng vừa dứt, sức nặng nghìn cân trên hai bả vai tôi đột ngột biến mất hoàn toàn. Cột sống của tôi giãn ra, luồng không khí lạnh buốt tích tụ ở hõm cổ tan biến vào trong gió. Tôi đứng thẳng người dậy, hai chân mềm nhũn nhưng không dám dừng lại, cắm đầu bước thẳng một mạch xuống đồi, mắt nhìn chăm chăm vào con đường mòn phía trước, tuyệt đối không dám quay đầu lại nhìn gốc cây hòe.

Tám giờ tối, tôi về đến dãy nhà trọ ở xóm Đông. Cả cơ thể tôi mệt rã rời, các thớ thịt đau nhức nhưng cảm giác đè nghén ở lồng ngực đã không còn.

Tôi bước tới trước cửa phòng trọ của mình, móc chìa khóa ra khỏi túi quần. Khi chuẩn bị tra chìa vào ổ khóa, mũi giày của tôi chạm phải một vật cản nằm ngay ngắn giữa ngạch cửa phòng.

Dưới ánh đèn hành lang vàng vọt chập chờn, ngay trước bậc cửa phòng tôi đặt một đôi giày thêu hoa sen màu đỏ tươi bằng lụa, kích thước nhỏ xíu chỉ bằng ba đốt ngón tay người lớn. Bên trong lòng chiếc giày thêu nhồi chặt những lọn tóc đen dài ướt sũng, rỉ ra từng giọt nước màu vàng sậm bốc mùi ẩm mốc của bùn đáy sông.

Chương khác

Xem thêm