Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 9: Lược Gãy Dính Tóc Oán Hồn
Ca làm việc ở xưởng dệt số hai của trấn Vĩnh An luôn kết thúc vào lúc ba giờ sáng. Đó là khung giờ mà thị trấn chìm trong lớp sương muối đặc quánh bốc…
Nội dung chương
Ca làm việc ở xưởng dệt số hai của trấn Vĩnh An luôn kết thúc vào lúc ba giờ sáng.
Đó là khung giờ mà thị trấn chìm trong lớp sương muối đặc quánh bốc lên từ lòng sông cạn, đèn đường vàng vọt soi không rõ mặt người. Tôi kéo cao cổ áo khoác công nhân, lê bước chân mệt mỏi về dãy nhà trọ dành cho lao động ngoại tỉnh ở ngõ Tây.
Ngay trước bậc thềm xi măng dẫn vào phòng trọ của tôi, dưới ánh đèn vàng ệch, nằm trơ trọi nửa chiếc lược gỗ đào.
Nó bị bẻ gãy làm đôi theo chiều dọc, để lại một vết gãy nham nhở để lộ thớ gỗ đỏ sẫm bên trong. Thân lược tróc sơn nhiều chỗ, viền ngoài khắc hoa văn hoa cúc đã mòn vẹt. Giữa ba chiếc răng lược còn nguyên vẹn, vài sợi tóc bạc dài ngoằng xoắn chặt vào nhau, bết dính một lớp mỡ xám đục.
Gỗ đào vốn là loại gỗ trừ tà đắt tiền, thợ mộc xưa rất chuộng tiện lược chải đầu. Nghĩ rằng ai đó đánh rơi món đồ chạm trổ cổ kính này, tôi cúi người nhặt lên. Ngón tay chạm vào bề mặt gỗ cảm nhận được một luồng hàn khí thấu buốt. Tôi đưa tay giật mạnh những sợi tóc bạc vứt xuống rãnh nước bên đường, phủi bụi rồi đút nửa chiếc lược vào túi áo khoác mang vào phòng, đặt ngay ngắn trên chiếc bàn con cạnh gương soi.
Đó là sai lầm bắt đầu chuỗi ngày ác mộng của tôi.
Bảy ngày đầu tiên trôi qua không có biến động lớn, ngoại trừ việc da đầu tôi bắt đầu ngứa ngáy dữ dội. Cơn ngứa không nằm ở bề mặt biểu bì mà cào cấu sâu tận màng xương sọ. Tôi gãi đến mức móng tay bật máu, gàu tróc ra từng mảng dày cộp màu xám tro, rơi lả tả xuống vai áo công nhân.
Đến ngày thứ mười, mỗi buổi sáng thức dậy cầm lược nhựa chải đầu, tóc tôi rụng thành từng búi lớn. Búi tóc đen nghẹt cứng lỗ thoát sàn nhà tắm, bốc lên mùi hôi tanh nồng nặc giống như mùi cá ươn phơi nắng. Tôi soi gương và nhìn thấy trên đỉnh đầu mình xuất hiện những đường rãnh đỏ lòm song song, khoảng cách giữa các đường rãnh đều đặn đúng bằng khoảng cách giữa các răng của nửa chiếc lược gỗ đào.
Ban đêm, tiếng động lạ bắt đầu xuất hiện.
Cứ đúng mười hai giờ đêm, khi tôi vừa chợp mắt, trên trần nhà bằng ván ép lại vang lên tiếng cào sột soạt. Âm thanh khô khốc, chậm rãi, giống như có ai đó cầm một vật nhọn bằng gỗ cào từng nhát dứt khoát trên đầu giường tôi.
Tách. Tách.
Những giọt dịch vàng nhơn nhớt từ trên trần nhà nhỏ thẳng xuống trán tôi. Đưa tay quệt ngang mặt, đầu ngón tay tôi dính đầy chất nhầy lạnh ngắt có lẫn những sợi tóc bạc dài mỏng.
Đêm ngày thứ mười hai, tôi tỉnh giấc vì cơn buốt nhức dữ dội trên đỉnh đầu. Trong căn phòng trọ tối đen, bóng dáng một người phụ nữ ngồi xoay lưng lại phía tôi ngay trước bàn trang điểm. Bà ta mặc áo liệm màu tím sẫm bằng vải thô thời xưa, vai áo rộng thùng thình, hai tay giơ cao ngang trán.
Bà ta không có đầu.
Phần cổ áo mở toang để lộ một mặt cắt phẳng lì màu tím tái, những thớ thịt đứt đoạn xung quanh đã thâm đen và đông cứng lại. Trên hai bàn tay khô quắt chỉ còn da bọc xương của người phụ nữ là nửa chiếc lược gỗ đào còn lại.
Bà ta đang cầm nửa chiếc lược đưa lên khoảng không trống rỗng phía trên cổ áo, cào từng nhát một vào thinh không. Tiếng răng gỗ cọ xát vào không khí rít lên the thé từng hồi. Mỗi lần chiếc lược quét qua, da đầu tôi lại rách toạc ra một đường, máu tươi chảy ròng ròng xuống hai bên thái dương. Tôi muốn hét lên nhưng cổ họng nghẹn ứ, toàn thân tê liệt dính chặt xuống đệm mút cáu bẩn.
Sáng hôm sau, tôi ôm cái đầu đầy máu và dịch mủ chạy thục mạng đến sạp hàng bán đồ hương mã của bà Mận ở chợ cũ ngõ Tây.
Bà Mận đang ngồi bó những xấp tiền âm phủ bằng giấy bổi vàng. Vừa nhìn thấy tôi bước vào, ánh mắt bà dừng lại ngay trên đỉnh đầu tôi. Bà đặt bó giấy xuống phản gỗ, mặt đanh lại.
Mày nhặt phải đồ bẻ đôi ngoài đường rồi đúng không? Đem ra đây.
Tôi run rẩy móc nửa chiếc lược gỗ đào dính máu trong túi quần đặt lên mặt bàn gỗ.
Bà Mận không dùng tay chạm trực tiếp vào vật thể. Bà dùng một chiếc kẹp than bằng sắt gắp nửa chiếc lược lên soi dưới ánh nắng ban mai. Dưới nắng, những chiếc răng gỗ đào rỉ ra từng giọt dầu màu vàng óng, mùi mỡ thối xông lên nồng nặc cả góc chợ.
Lược gỗ đào bẻ đôi, răng lược dính tóc bạc của người chết trôi hoặc chết không toàn thây. Mày to gan thật.
Tôi ôm đầu, quỳ sụp xuống cạnh phản gỗ, giọng run bần bật:
Cháu tưởng đồ người ta làm rơi. Đầu cháu đau như bị ai dùng dao róc từng mảng da. Cháu xin bà, bà cứu cháu với!
Bà Mận dùng kẹp sắt ném nửa chiếc lược vào một chiếc bát sứ màu trắng rỗng, giọng lạnh tanh giải thích:
Phong tục cổ vùng Hà Nam này có lệ: khi người chết bất đắc kỳ tử, người nhà phải dùng lược gỗ đào chải đầu lần cuối để thu gom tàn hồn dính trên tóc. Chải xong, người ta bẻ gãy đôi chiếc lược ngay tại mép quan tài. Một nửa đặt vào lòng bàn tay người chết chôn xuống huyệt mộ để giữ hồn phách dưới âm ty. Nửa còn lại mang vứt ở ngã ba đường hoặc thềm cửa nhà người ngoài để đoạn tuyệt duyên nợ trần gian, tống khứ tà khí và cái chết xúi quẩy đi.
Bà Mận nhìn chằm chằm vào những vệt máu song song trên sọ tôi:
Chiếc lược này bị bẻ khi chải tóc cho một tử thi mất đầu. Người nhà vứt nửa lược trước cửa phòng trọ của mày để cắt đứt hồn ma theo về. Mày nhặt nó lên, mang vào nhà, tức là tự nguyện nhận làm người chải đầu thế mạng cho kẻ chết trôi chết chém. Hồn ma không đầu tìm thấy nửa lược của mày, nó sẽ đến tìm trọn bộ da đầu của mày để khâu lên cái cổ cụt của nó. Đến ngày thứ mười bốn, da đầu mày sẽ tự tróc trọn vẹn từ trán ra sau gáy.
Nghe đến đó, hai đầu gối tôi nhũn ra, mồ hôi lạnh vã ra ướt đẫm lưng áo.
Vậy phải làm sao hả bà? Cháu vứt nó xuống sông được không?
Vứt đi nó vẫn theo mùi da thịt của mày mà tìm tới. Mày nhận đồ của người chết, phải trả lại theo đúng phép tắc của cõi âm.
Bà Mận bước vào gian nhà trong, lấy ra một miếng mỡ lợn sống còn nguyên bì, một gói muối hạt thô và một tập tiền bổi màu vàng. Bà đặt tất cả lên bàn rồi dặn dò từng bước rõ ràng:
Đúng mười hai giờ đêm nay, mang nửa chiếc lược này ra ngã ba đường phía bắc ranh giới thị trấn, nơi có cây hòe già. Dùng mỡ lợn sống bôi trơn toàn bộ các răng lược, sau đó đặt tiền bổi xung quanh và châm lửa đốt. Khi lửa cháy hết, gom tro than còn nóng bôi kín lên những vết rách trên đỉnh đầu mày. Tuyệt đối không được quay đầu nhìn lại, đi thẳng một mạch về phòng trọ, đóng chặt cửa cài then sắt cho đến khi gà gáy sáng. Nếu nghe ai gọi tên trên đường về, cắn chặt răng không được lên tiếng.
Tôi ghi nhớ từng lời dặn dò của bà Mận như kẻ sắp chết đuối vớ được cọc gỗ.
Đêm đó, gió bấc thổi hun hút qua những rặng bạch đàn khẳng khiu. Mười một giờ năm mươi lăm phút, tôi một mình đi bộ ra ngã ba đường hoang vắng phía bắc trấn Vĩnh An.
Đúng nửa đêm, tôi quỳ xuống nền đất cát lạnh buốt dưới gốc cây hòe. Đôi bàn tay run lẩy bẩy lấy miếng mỡ lợn sống chà xát thật mạnh lên từng chiếc răng của nửa mảnh lược gỗ đào. Mùi tanh của mỡ sống quyện với mùi dầu bóng trên thân gỗ xộc thẳng vào mũi. Tôi xếp xấp tiền bổi xung quanh, quẹt diêm đốt lửa.
Ngọn lửa bùng lên đỏ quạch.
Khi lửa bắt vào nửa chiếc lược gỗ đào, những tiếng nổ tanh tách vang lên chói tai. Một luồng khói đen đặc bốc lên cao, tỏa ra mùi tóc cháy khét lẹt nồng nặc. Từ sâu trong đám khói đen, tôi nghe thấy tiếng thở phì phò nặng nhọc và tiếng bước chân lẹp xẹp của một đôi chân trần đạp trên lá khô.
Từ màn sương mù phía con đường dẫn ra nghĩa địa, một bóng người mặc áo liệm màu tím sẫm đang lảo đảo bước tới.
Phần cổ của bóng đen trống hoác, những dòng máu đen ngòm liên tục trào ra ướt đẫm vạt áo trước ngực. Hai bàn tay khô héo của nó vươn dài về phía đống lửa, những móng tay dài đen sì cào loạn xạ trong không khí nhằm tìm kiếm nửa chiếc lược đang cháy dở.
Cơn đau trên da đầu tôi giật lên từng hồi như có hàng trăm mũi kim thép chọc thẳng vào não bộ. Tôi cắn chặt môi dưới đến bật máu, dùng que củi cời đống tro tàn đang bốc khói nghi ngút. Bất chấp tro than còn nóng rát, tôi bốc từng vốc tro lược đen ngòm trét thẳng lên đỉnh đầu mình.
Cảm giác bỏng rát lan tỏa khắp hộp sọ, hòa lẫn với máu và dịch mủ đang rỉ ra. Ngay khi lớp tro phủ kín các vết rách, tiếng cào xé trước mặt đột ngột ngưng bặt.
Bóng đen không đầu đứng khựng lại bên mép đống lửa, hai cánh tay buông thõng xuống hai bên sườn.
Tôi nuốt nước bọt, quay lưng bước đi từng bước dứt khoát về hướng thị trấn. Gió rít gào bên tai, mang theo tiếng gọi the the nghẹt đặc vang lên ngay sau gáy:
Bình ơi... chải đầu cho ta...
Tôi cắn chặt quai hàm, mắt nhìn thẳng vào con đường nhựa phía trước, từng bước chân bước đi nặng trĩu. Cho đến khi đẩy được cánh cửa phòng trọ, cài then sắt và ngã quỵ xuống nền xi măng, tôi mới biết mình còn sống.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, những cơn đau buốt trên đỉnh đầu đã biến mất hoàn toàn. Tôi soi gương, lớp tro than đen kịt bám chặt lấy da đầu thành một mảng vảy cứng bảo vệ, những vết nứt sâu hoắm đã bắt đầu se miệng lại.
Tôi thu dọn toàn bộ quần áo dính máu đem vứt bỏ, quét sạch căn phòng trọ và chuẩn bị tinh thần cho ca làm việc buổi chiều tại xưởng dệt. Tưởng chừng mọi tai ương đã chấm dứt sau khi hoàn trả vật phẩm cho cõi âm.
Một tuần sau, vết thương trên đầu tôi tróc vảy hoàn toàn, để lại những vết sẹo mờ màu xám nhạt.
Sáng hôm ấy, tôi mở cửa phòng trọ để ra giếng nước chung rửa mặt. Vừa bước chân qua bậu cửa, mũi giày công nhân của tôi chạm phải một vật cứng nằm ngay dưới bậc tam cấp xi măng.
Đó là một chiếc giày thêu hoa sen đỏ thắm dành cho người có bàn chân bó thời phong kiến, đế giày bằng vải bồi đã mục nát dính đầy bùn đất ướt sũng.
Bên trong mũi chiếc giày thêu đỏ, nhô ra một chiếc móng tay phụ nữ dài ba tấc, uốn cong và được sơn màu đỏ tươi như máu mới chảy.