Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 10: Đinh Bảy Tấc Đóng Quan Tài

Đầu tháng mười, công trình mở rộng đường vành đai phía tây trấn Vĩnh An thi công qua gò Phong Thụ. Nơi này vốn là bãi tha ma vô chủ tồn tại từ thời Dân…

Nội dung chương

Đầu tháng mười, công trình mở rộng đường vành đai phía tây trấn Vĩnh An thi công qua gò Phong Thụ. Nơi này vốn là bãi tha ma vô chủ tồn tại từ thời Dân quốc. Xe ủi cào tung lớp đất mặt, chính quyền địa phương phát thông báo dời mộ trong vòng mười lăm ngày, quá hạn thì đội xúc đất sẽ dọn sạch để san phẳng nền đường.

Tôi làm thợ hàn trong xưởng cơ khí gần đó, mỗi chiều tan ca đều đạp xe tắt qua lối mòn đất đỏ cắt ngang bãi tha ma.

Hôm ấy trời mưa phùn lất phất, bùn nhão dính chặt vào bánh xe đạp. Đi ngang qua một cái hố cải táng mới đào dở, dưới đáy hố còn sót lại mảnh ván gỗ mục đen sì, tôi thấy một vật kim loại nhô lên khỏi vũng nước đục.

Tôi dựng xe, bước xuống mép hố nhặt nó lên.

Đó là một chiếc đinh sắt dài đúng một gang tay rưỡi, tính theo thước thợ hồ phải đến bảy tấc. Thân đinh to bằng ngón tay trỏ, đúc thủ công hình lăng trụ bốn cạnh thuôn nhọn về phía mũi. Lớp rỉ sét đỏ quạch bám dày đặc từng mảng, nhưng kim loại bên trong vẫn đanh cứng, nặng trịch. Điểm kỳ lạ nằm ở phần mũ đinh: một đoạn vải gai xô thô màu trắng ngà, loại vải người ta dùng may áo đại hiếu, được quấn chặt ba vòng quanh cổ đinh và thắt nút chết. Mẩu vải đã ngấm nước mưa lâu ngày, ố vàng loang lổ vết đen cáu bẩn.

Tôi dùng ngón tay cạo thử lớp rỉ trên thân đinh, ngửi thấy mùi tanh kim loại lẫn mùi hôi nồng nặc của mỡ động vật ôi thiu.

Nghĩ bụng loại sắt cổ này rất đặc và dẻo, mang về xưởng mài lại làm đục sắt hoặc nạy nắp thùng phuy dầu sẽ rất tiện, tôi nhét nó vào túi đồ nghề sau yên xe rồi đạp thẳng về phòng trọ.

Tôi để cây đinh sắt nằm lăn lóc trên bàn trà cạnh giường ngủ, suốt mấy ngày đầu chẳng hề đụng đến.

Rắc rối bắt đầu vào đêm thứ tư sau khi tôi nhặt vật này về.

Nửa đêm, tôi thức giấc vì toàn thân nặng trĩu. Cảm giác như có ai đó đặt một tảng đá xanh nặng cả trăm cân đè thẳng lên xương ức. Không khí trong căn phòng trọ mười lăm mét vuông bỗng trở nên đặc quánh, sực nức mùi bùn đáy ao và mùi mỡ rữa thối nồng nặc phát ra từ góc bàn.

Mắt tôi mở trừng trừng nhìn lên trần nhà xi măng, nhưng hai cánh tay và hai chân hoàn toàn mất cảm giác. Dù tôi cố gắng dồn sức vào đầu ngón tay hay gồng cứng cơ bắp, cơ thể vẫn bất động tuyệt đối.

Ngay sau đó, tôi nghe thấy âm thanh phát ra ngay trên đỉnh đầu mình.

"Cắc... cắc... keng..."

Tiếng kim loại gõ vào vật cứng khô khốc vang lên từng nhịp đều đặn.

Tiếp theo là một cơn đau nhói đâm xuyên qua trán, thẳng vào tận xương sọ. Cảm giác sắc lẹm, buốt đến tận tủy sống, giống hệt như có người cầm một cây dùi sắt nung đỏ đặt lên giữa trán tôi rồi dùng búa tạ giáng mạnh xuống. Tôi muốn há miệng hét to nhưng quai hàm cứng đờ, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra tiếng ken két.

Cơn đau kéo dài chừng mười phút rồi biến mất khi tiếng gà gáy canh năm của nhà hàng xóm cất lên. Toàn thân tôi ướt sũng mồ hôi, mềm nhũn ra trên chiếu cói.

Sáng hôm sau, tôi soi gương và nhìn thấy giữa trán mình xuất hiện một chấm tròn bầm tím to bằng hạt ngô.

Tình trạng liệt giường tái diễn liên tục trong suốt mười ngày tiếp theo. Mỗi đêm, sau tiếng búa gõ kim loại khô khốc trong không gian mờ tối, cơn đau lại di chuyển đến một vị trí khác nhau trên thân thể tôi: đêm thứ năm ở cổ tay phải, đêm thứ sáu ở cổ tay trái, đêm thứ bảy chuyển xuống mắt cá chân phải, đêm thứ tám sang mắt cá chân trái.

Đến ngày thứ mười bốn, sức khỏe tôi suy kiệt trầm trọng. Hai mắt trũng sâu, da mặt xám xịt như người ốm liệt giường lâu năm. Trên người tôi lộ rõ năm vết bầm tím tròn trịa, đen ngòm: một nốt ở trán, hai nốt ở hai khớp cổ tay và hai nốt ở hai mắt cá chân. Giữa mỗi vết bầm đều có một lỗ thủng nhỏ li ti rỉ ra dịch màu vàng nhạt, xung quanh thịt sưng tấy, bốc mùi hôi thối.

Khi cầm chiếc đinh sắt trên bàn lên xem, tôi rùng mình phát hiện đoạn vải gai xô quấn quanh mũ đinh vốn khô khốc nay lại ẩm ướt, thấm đẫm một lớp dịch màu vàng sền sệt, bốc mùi tanh tưởi hệt như chất dịch chảy ra từ năm vết bầm trên cơ thể tôi.

Tôi biết mình đã rước phải tai ương. Không kịp rửa mặt, tôi bọc cây đinh sắt vào tấm giẻ lau, phóng xe đến tiệm tạp hóa cổ của bà Mận ở phía đông trấn.

Bà Mận đang ngồi nhặt hạt đỗ đen trước hiên nhà. Khi tôi vừa bước chân qua bậu cửa, bà đã dừng tay, ngước đôi mắt đục ngầu nhìn chằm chằm vào trán tôi, sau đó lia mắt xuống hai cổ tay đang run lẩy bẩy.

Cậu vừa đào xới thứ bên dưới lòng đất lên đúng không?

Tôi đặt bọc giẻ lau lên chiếc bàn con, mở ra để lộ cây đinh sắt bảy tấc rỉ sét đỏ quạnh.

Bà Mận không chạm tay vào cây đinh. Bà rút một chiếc thước gỗ từ trong ngăn kéo, đặt song song với thân đinh rồi đo đạc cẩn thận. Đoạn, bà cúi sát mũi ngửi lớp vải gai xô ố vàng ở phần mũ đinh.

Bảy tấc hai phân, thép rèn thủ công có ngâm máu chó mực và chì nóng chảy. Đoạn vải gai này là vải xô tang trảm thôi của con trai trưởng. Cậu nhặt nó ở đâu?

Ở bãi tha ma gò Phong Thụ, cạnh một cái hố cải táng người ta vừa bốc dở. - Tôi đáp, giọng khàn đặc.

Bà Mận gõ nhẹ ngón tay trỏ xuống mặt bàn gỗ, nét mặt nghiêm lại:

Đây là Trấn Thi Đinh, dân gian vùng Hà Nam còn gọi là Đinh Tuyệt Sát. Ngày xưa, phàm là người chết vào giờ trùng tang, chết treo cổ hoặc chết oan uổng mang theo oán hận ngút trời, người nhà sợ họ hóa thành cương thi hoặc quay về bắt con cháu, nên khi liệm xác phải mời thợ mộc chuyên đóng hòm dùng búa gỗ đóng năm cây đinh sắt lớn xuyên qua nắp quan tài.

Bà chỉ tay vào các vị trí trên thân đinh rồi nói tiếp:

Một cây đóng thẳng vào mi tâm để khóa chặt hồn phách, hai cây đóng ghim hai cổ tay, hai cây đóng ghim hai mắt cá chân để cùm tứ chi lại, không cho người chết cựa quậy trong lòng đất. Cây đinh này đã nằm dưới huyệt mộ ngâm mùi tử khí mấy chục năm. Đội bốc mộ cải táng làm ẩu, nhổ đinh vứt bừa bãi. Cậu mang nó về đặt trong phòng ngủ, sát khí tích tụ lại không có chỗ giải tỏa. Năm vết đóng trên nắp quan tài năm xưa nay ứng thẳng lên năm đại huyệt trên người cậu. Nếu để quá mười tám ngày, thịt ở năm chỗ đó sẽ thối rữa đến tận xương tủy, hồn vía cậu cũng bị phong chặt trong thân xác liệt này như một cái xác chết đóng hòm.

Tôi nghe rõ từng lời, mồ hôi túa ra ướt đẫm lưng áo:

Giờ tôi phải làm cách nào để hóa giải? Vứt nó xuống sông có được không bà?

Vứt xuống sông là tự tìm đường chết. Oán khí chưa giải, cậu ném đi đâu nó cũng theo về đường đó. Lệ làng từ xưa đã định rõ: Đồ của huyệt mộ nào, phải trả về đúng huyệt mộ ấy, theo đúng cách thức phong trấn mới yên.

Bà Mận đứng dậy, đi vào gian trong lấy ra một túi giấy xi măng nhỏ và một chiếc kéo cùn.

Cậu cầm túi tro trấu trộn nước vôi tôi này. Đợi đúng mười hai giờ trưa hôm nay, khi mặt trời đứng bóng, mang cây đinh quay lại đúng cái hố đất ở gò Phong Thụ. Dùng kìm nhổ phăng đoạn vải gai xô ở đầu đinh ra, đốt thành tro ngay trên miệng hố. Sau đó, cắm mũi đinh ngập sâu xuống đáy bùn theo hướng chính bắc, đổ túi tro vôi này lấp kín lên trên đầu đinh rồi nện chặt đất lại. Đặt thêm một đồng xu kim loại lên trên mặt đất để làm tiền chuộc thổ địa. Làm xong, quay lưng đi thẳng một mạch, cấm tuyệt đối không được ngoái đầu lại nhìn.

Tôi nhận túi tro trấu và cây kéo, cúi đầu cảm ơn rồi lập tức lên xe đi về phía gò Phong Thụ.

Đúng mười hai giờ trưa, ánh nắng gắt chiếu thẳng đứng xuống bãi đất trống ngổn ngang gạch vụn và đất đỏ. Gió thổi bụi mù mịt khắp nơi.

Tôi tìm lại cái hố cải táng cũ. Vũng nước bên trong đã cạn bớt, để lộ lớp bùn đen quánh và vài mẩu xương mục vụn nát lẫn trong đất.

Tôi dùng kìm sắt kẹp chặt đoạn vải gai xô ở đầu cây đinh, giật mạnh. Mẩu vải mục rách toạc ra, để lộ phần mũ đinh bằng phẳng có khắc một ký tự chữ "Sát" lõm sâu vào trong kim loại. Tôi bật lửa đốt mẩu vải gai. Khói đen bốc lên nghi ngút, mang theo mùi khét lẹt của tóc cháy và mỡ thối xông thẳng vào mũi.

Khi mẩu vải cháy rụi thành tro rơi xuống đáy hố, tôi cầm cây đinh sắt, dồn hết sức cắm ngập nó xuống lớp bùn đen theo đúng hướng bắc. Cây đinh lún sâu vào lòng đất như cắm vào một lớp mỡ đông.

Tôi đổ toàn bộ túi tro trấu trộn nước vôi tôi lên trên, lấp đất lại rồi dùng chân nện thật mạnh cho phẳng mặt bùn. Cuối cùng, tôi móc trong túi ra một đồng xu một tệ, ấn chặt xuống lớp đất đỏ vừa nện.

Lạ lùng thay, ngay khi đồng xu nằm yên dưới đất, cơn đau nhức buốt ở trán và bốn khớp tứ chi của tôi bỗng nhiên tan biến sạch sẽ. Cảm giác nặng nề đè ép nơi lồng ngực suốt hai tuần qua hoàn toàn biến mất.

Tôi quay người, dắt xe đạp bước nhanh ra khỏi bãi tha ma gò Phong Thụ, không hề ngoái đầu nhìn lại dù chỉ một lần.

Đến sáng hôm sau, năm vết bầm tím trên cơ thể tôi đã khô miệng, lớp mủ vàng biến mất, chỉ còn lại những vết sẹo tròn màu nâu nhạt bắt đầu lên da non. Căn phòng trọ cũng không còn mùi hôi thối của bùn ao.

Tôi nghĩ tai ương đã hoàn toàn chấm dứt.

Cho đến sáng nay, khi đội thi công dùng máy xúc múc sâu thêm hai mét đất ngay tại vị trí cái hố tôi vừa chôn cây đinh hôm qua để đặt đường ống cống ngầm.

Lưỡi gầu máy xúc bổ xuống đất phát ra một tiếng "keeng" chói tai, làm sứt mẻ một mảng kim loại lớn. Người lái máy xúc nhảy xuống hố kiểm tra rồi vội vã chạy lên gọi mọi người lại xem.

Tôi tò mò bước tới mép hố nhìn xuống.

Dưới lớp đất sâu hai mét vừa bị cày tung, một chiếc hộp bằng gang đen sì dài nửa mét lộ ra. Nắp hộp đã bị lưỡi máy xúc cào bật chốt khóa.

Bên trong chiếc hộp gang không có vàng bạc hay xương cốt, mà chứa một chiếc gương đồng hình bát giác bị nứt làm đôi, quấn chặt bằng những lọn tóc đen dài của phụ nữ bết dính máu khô sẫm màu. Ngay mép gương đồng, một mảnh giấy ố vàng ghi rõ tên họ, bát tự ngày tháng năm sinh của tôi và địa chỉ căn phòng trọ tôi đang ở, bằng nét mực đỏ tươi như vừa mới viết hôm qua.

Chương khác

Xem thêm