Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 11: Cân Cổ Đo Lường Thọ Mạng

Tôi nhặt cây cân đòn ấy vào một buổi chiều muộn cuối tháng mười một, ngay khúc cua hẹp dẫn vào bãi phế liệu phía sau chợ Tây trấn Vĩnh An. Lúc đó, một bà…

Nội dung chương

Tôi nhặt cây cân đòn ấy vào một buổi chiều muộn cuối tháng mười một, ngay khúc cua hẹp dẫn vào bãi phế liệu phía sau chợ Tây trấn Vĩnh An.

Lúc đó, một bà lão thu mua ve chai vô tình làm rơi chiếc bao tải rách khỏi sườn xe kéo. Bà ta vội vã đạp xe đi tiếp mà không hề hay biết một khúc gỗ dài trượt ra khỏi miệng bao, lăn lông lốc xuống rãnh nước cạn sát chân tường gạch. Tôi bước tới gần, nhìn thấy một chiếc cân tay cổ bằng gỗ gõ.

Chiếc cân dài chừng bốn mươi phân, thân gỗ màu nâu đỏ sẫm bóng loáng, nhẵn nhụi không một vết xước. Dọc thân cân cẩn các chấm sao bằng đồng thau nhỏ li ti, nhưng lạ một điều là ở phần đuôi cân, ai đó đã dùng dao khắc thêm mười hai vạch chia rất sâu, bên cạnh mỗi vạch có ghi một chữ Can Chi sắc lẹm. Quả cân bằng chì đúc hình quả chuông gắn liền với sợi dây cước tết bằng tóc rối, bên ngoài phủ một lớp mốc trắng đục của chì bị oxy hóa qua nhiều năm chôn dưới lòng đất. Đĩa cân bằng đồng mỏng dính, viền đĩa rỉ xanh, bám đầy mùi bùn ẩm xen lẫn mùi nhang tàn.

Nghĩ là món đồ gỗ cổ có thể bán lại cho mấy tiệm đồ cũ ngoài phố lớn, tôi nhặt nó lên, nhét vào túi áo khoác mang về căn nhà thuê của mình.

Đêm đầu tiên trôi qua êm ả. Tôi dùng khăn ướt lau sạch lớp mốc trắng trên quả cân chì rồi treo nó lên cây đinh đóng ở góc tường phòng ngủ, ngay đối diện đuôi giường.

Mọi chuyện bắt đầu biến đổi từ đêm thứ ba.

Đúng ba giờ sáng, tôi giật mình thức giấc vì tiếng lách cách kim loại va chạm rất khẽ. Trong bóng tối lờ mờ của ánh đèn đường hắt qua khe cửa sổ, quả cân chì đang tự trượt trên thân gỗ gõ. Tiếng quả cân kim loại cọ vào các hạt đồng phát ra âm thanh khô khốc: *tách, tách, tách*. Dây treo quả cân dịch chuyển từ từ, dừng lại đúng ở vạch khắc số hai mươi tám, tương ứng với số tuổi hiện tại của tôi. Tôi ngồi dậy bật đèn, quả cân lập tức đứng yên, dây cước tóc rủ thẳng đuột. Tôi tự nhủ rằng do sàn nhà rung lắc vì xe tải chạy qua đường cái bên ngoài.

Một tuần trôi qua, cơ thể tôi bắt đầu suy kiệt một cách khó hiểu.

Ban đầu là những cơn đau nhức buốt từ trong tủy xương ống chân truyền lên khớp gối. Da thịt trên mu bàn tay tôi khô ráp lại, sạm đen như da người già phơi nắng lâu năm, các đường gân mu bàn tay nổi cộm lên chằng chịt. Mỗi sáng thức dậy chải đầu, tóc rụng thành từng búi lớn trên gối, hai bên thái dương lốm đốm những sợi bạc trắng xóa.

Đến ngày thứ mười, cân nặng của tôi sụt từ sáu mươi lăm ký xuống còn năm mươi mốt ký. Má hóp sâu, hốc mắt thâm quầng, hơi thở ra mang theo mùi hôi chua nồng của đất mồ mả. Tôi soi gương và bàng hoàng nhận ra khuôn mặt của mình mang diện mạo của một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, dù tôi chỉ mới bước sang tuổi hai mươi tám vào tháng trước.

Đêm hôm đó, tôi quyết định không ngủ, ngồi trên giường theo dõi cây cân gỗ.

Đúng ba giờ sáng, không gian trong phòng bỗng chốc đặc quánh lại. Quả cân chì tự nâng lên một centimet, lướt ngược về phía đầu cân. Nó nhảy qua vạch hai mươi tám, trượt qua vạch hai mươi sáu, rồi dừng lại ở vạch số tám. Cùng lúc quả cân hạ xuống điểm số tám, một cơn co rút kinh hoàng giáng xuống ngực tôi. Lồng ngực tôi thắt lại, từng khớp xương kêu răng rắc như bị một bàn tay vô hình nghiền nát, toàn thân tôi run bần bật, không thể phát ra bất kỳ âm thanh nào.

Tám vạch. Mỗi đêm cây cân trừ đi hai năm tuổi thọ. Nếu quả cân trượt về vạch số không, tim tôi sẽ ngừng đập.

Sáng sớm hôm sau, tôi dùng mảnh vải bao tải bọc kín cây cân gỗ, chống gậy lết từng bước đến tiệm tạp hóa của bà Mận ở đầu ngõ Bình An.

Khi tôi đẩy tấm rèm cửa bước vào, bà Mận đang ngồi phân loại các bó lá ngải cứu khô trên bàn. Tô Oánh ngồi ở góc phòng, gương mặt vẫn còn nét nhợt nhạt sau tai nạn búp bê lần trước, cô nhìn thấy tôi thì khẽ lùi người lại vì vẻ ngoài tiều tụy quái dị của tôi.

Bà Mận đặt nắm lá thuốc xuống, đôi mắt đục ngầu nhìn thẳng vào bọc vải trên tay tôi rồi nhìn lên mái tóc hoa râm và làn da đồi mồi của tôi. Bà không hỏi han câu nào, chỉ lạnh lùng nói:

Mở bọc ra, đặt lên cái mâm đồng kia. Tuyệt đối không chạm tay trần vào đĩa cân.

Tôi làm theo lời bà. Chiếc cân gỗ gõ lộ ra dưới ánh đèn tuýp.

Bà Mận đeo găng tay bằng vải thô dày, cầm kính lúp soi kỹ phần đuôi cân và quả cân chì. Bà dùng móng tay cạo nhẹ lớp mốc trắng trên quả cân, đưa lên mũi ngửi rồi gõ nhẹ ngón tay xuống bàn gỗ.

Cân Mệnh Thọ của thợ cúng vùng Lạc Dương. - Giọng bà Mận khàn đặc, đều đều như đọc một cuốn sổ ghi chép cũ. - Đây không phải cân hàng hóa. Chiếc cân này dùng trong hủ tục bán mệnh của các gia đình giàu có thời trước. Khi có con cháu chết yểu, người ta khắc bát tự của kẻ chết non lên đĩa cân, dùng tóc của bảy người thân tết thành dây treo, rồi dùng cân này để cân đo số năm dương thọ còn thiếu. Sau đó, họ đem cân vứt ra đường cái hoặc thả vào gánh ve chai lưu lạc khắp nơi.

Bà Mận chỉ ngón tay khẳng khiu vào các vạch khắc Can Chi:

Kẻ nào nhặt chiếc cân này về nhà, vía của người đó lập tức bị đĩa cân móc chặt. Cây cân bắt đầu làm việc, nó lấy tuổi thọ của kẻ sống để bù vào món nợ của kẻ chết dưới mồ. Quả cân nhảy lùi mỗi đêm là lúc tủy và khí huyết của cậu bị rút cạn chuyển vào đĩa cân. Cậu nhặt nó bao nhiêu ngày rồi?

Mười ngày. - Cổ họng tôi khô khốc, giọng nói the thé như tiếng kim loại rỉ sét cọ vào nhau. - Đêm qua quả cân đã tụt xuống vạch số tám.

Bà Mận gật đầu:

Bốn ngày nữa, quả cân về vạch số không. Lúc đó cậu chết vì suy kiệt nội tạng, người ta khám nghiệm chỉ thấy cậu chết già chứ không ra bệnh tật gì. Chiếc cân sẽ tự bung sợi dây cước, hoàn tất việc trả nợ mệnh cho kẻ nằm dưới đất.

Có cách nào cứu tôi không bà Mận? Tôi vứt nó xuống sông được không?

Vứt đi thì chết ngay lập tức. - Bà Mận nghiêm giọng cắt ngang. - Một khi đã nhận đĩa cân vào nhà, cậu là người gánh nợ. Cậu vứt bỏ đồ vật giữa chừng đồng nghĩa với việc cậu quỵt nợ của cõi âm, quả cân sẽ lập tức rớt về số không trong đêm. Muốn sống, phải làm đúng lệ Trả Cân Quy Vị.

Bà Mận đứng dậy, bước vào gian trong rồi mang ra một chiếc nồi sắt nhỏ hoen rỉ và một bọc tro bếp màu xám xịt.

Nghe cho kỹ đây. Giữa trưa nay, đúng mười hai giờ trưa khi mặt trời đứng bóng, cậu đổ tro rơm bếp vào nồi sắt, thêm nửa gáo nước giếng khơi rồi bắc lên bếp đun sôi. Thả toàn bộ thân gỗ gõ và đĩa đồng vào nấu trong nửa canh giờ để tẩy sạch lớp mồ hôi tay và khí tức của cậu bám trên thớ gỗ. Sau đó, gắp quả cân chì ra, bỏ vào muôi sắt nung trên lửa lớn cho chì tan chảy hoàn toàn thành nước.

Bà Mận đưa cho tôi một tờ giấy hoàng trang cùng một thỏi son đỏ:

Đổ nước chì lỏng lên tờ giấy hoàng trang này. Khi chì nguội và đông cứng thành một cục dẹp, dùng chu sa viết lại ngày tháng năm sinh bát tự của chính cậu lên mặt chì. Đem tất cả thân cân gỗ đã luộc, đĩa đồng và miếng chì bọc kín trong vải tang trắng. Đúng mười một giờ đêm nay, mang ra ngã ba đường ngoài bờ đê phía bắc trấn Vĩnh An, đào một cái hố sâu ba tấc chôn xuống. Chôn xong, quay lưng bước thẳng về nhà, cấm tuyệt đối không được ngoái đầu nhìn lại, dù có nghe thấy tiếng gọi tên hay tiếng kim loại gõ sau lưng.

Tôi nhận lấy những món đồ từ tay bà Mận, hai bàn tay run rẩy ôm chặt bọc đồ vào lòng.

Trưa hôm đó, tôi đóng chặt cửa căn nhà trọ, bắt đầu thực hiện từng bước theo lời dặn.

Khi tôi thả cây cân gỗ vào nồi nước tro đang sôi sùng sục, một mùi bùn thối nồng nặc bốc lên ngùn ngụt, quyện với mùi tóc cháy khét lẹt khiến tôi buồn nôn dữ dội. Nước trong nồi sắt nhanh chóng chuyển sang màu đen đặc như mực tàu.

Tôi tiếp tục đặt quả cân chì lên chiếc muôi sắt cán dài, hơ trực tiếp trên ngọn lửa bếp gas. Lớp mốc trắng bên ngoài bắt đầu nứt toác, khói đen bốc lên nghi ngút mang theo mùi tanh nồng của kim loại rỉ sét. Sau mười lăm phút, khối chì tan chảy thành một vũng chất lỏng màu xám bạc lấp loáng. Tôi dứt khoát đổ vũng chì nóng rực lên tờ giấy hoàng trang đặt sẵn trên nền gạch.

Xèo một tiếng lớn, ngọn khói hình trụ bốc thẳng lên trần nhà. Khi miếng chì nguội hẳn, tôi dùng thỏi son chu sa cặm cụi tô từng nét chữ ghi ngày tháng năm sinh của mình lên bề mặt gồ ghề của kim loại.

Đến mười một giờ đêm, gió mùa đông bắc thổi rít qua các rặng phi lao ngoài bờ đê trấn Vĩnh An.

Tôi một mình cầm xẻng, lần mò đi đến ngã ba đất hoang cách xa khu dân cư. Đất ở đây khô cứng và lẫn nhiều đá dăm. Tôi dùng hết chút sức tàn còn lại, đào một cái hố sâu chừng ba mươi phân. Tôi đặt bọc vải tang chứa khúc gỗ gõ đen ngòm, đĩa đồng cong queo và miếng chì chu sa xuống đáy hố, sau đó xúc đất lấp lại thật chặt.

Khi tôi nện phẳng lớp đất mặt và cắm chiếc xẻng xuống, một luồng gió xoáy thốc mạnh từ ngã ba đường thổi tung lớp bụi cát mù mịt.

Phía sau lưng tôi, ngay trên mặt đất vừa lấp, bỗng vang lên tiếng kim loại va chạm lách cách: *tách, tách, tách*.

Âm thanh trượt của quả cân chì trên thân gỗ gõ rành rọt đến rợn người, kèm theo một giọng thì thầm the thé vẳng lại trong gió:

Hai mươi tám... hai mươi bảy... trả lại cho ngươi...

Tôi cắn chặt môi đến bật máu, hai tay nắm chặt cán xẻng, không dám dừng lại dù chỉ một phần mười giây. Tôi sải bước thật nhanh về phía ánh đèn đường của thị trấn, mắt nhìn thẳng phía trước, kiên quyết không ngoái đầu lại.

Cơn đau nhức trong xương cốt dịu đi trông thấy sau từng bước chân tôi rời xa ngã ba đê. Lồng ngực tôi giãn ra, hơi thở trở lại nhịp điệu bình thường.

Về đến phòng trọ, tôi kiệt sức ngã vật ra giường và thiếp đi một giấc dài không mộng mị.

Trưa hôm sau tỉnh dậy, tôi vội vàng chạy đến trước gương. Da dẻ tôi đã bớt khô ráp, sắc mặt hồng hào trở lại, dù hai bên thái dương vẫn còn lưu lại những sợi tóc bạc trắng không thể phục hồi. Món nợ dương thọ coi như đã được cắt đứt hoàn toàn.

Tôi thở phào nhẹ nhõm, mở toang cửa sổ phòng trọ để ánh nắng xua tan mùi khét lẹt còn vương lại trong phòng.

Đúng lúc đó, dưới chân cửa chính vang lên một tiếng cạch sắc nhọn.

Tôi bước ra mở cửa. Trên bậc thềm xi măng trước phòng tôi không có bóng người, chỉ có một chiếc hộp thiếc rỉ sét không nắp đậy nằm chỏng chơ. Bên trong chiếc hộp là một chiếc gương đồng cổ hình bát giác úp mặt xuống đáy, bốn góc gương được dán chặt bằng bốn miếng sáp niêm phong màu đỏ máu còn tươi nguyên.

Chương khác

Xem thêm