Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 12: Gối Trộn Tóc Người Quá Cố

Đêm rằm tháng chín âm lịch, gió bấc đầu mùa thổi rát mặt trên con đường đất dẫn từ xưởng cơ khí trấn Vĩnh An về dãy nhà tập thể công nhân. Ca làm mười…

Nội dung chương

Đêm rằm tháng chín âm lịch, gió bấc đầu mùa thổi rát mặt trên con đường đất dẫn từ xưởng cơ khí trấn Vĩnh An về dãy nhà tập thể công nhân. Ca làm mười hai tiếng khiến các khớp xương của tôi mỏi nhừ, hai mắt cay xè vì thiếu ngủ triền miên. Khi đi qua ngã ba miếu Thổ Địa cũ, ánh đèn xe máy cà tàng quét qua một bọc vải nằm sát vệ cỏ rậm rạp.

Tôi dừng xe, gạt chân chống bước lại gần.

Vật nằm trên nền đất ẩm là một chiếc gối đầu hình chữ nhật, bọc vải thô nhung đỏ thêu hoa cúc vàng đã sờn rách bốn góc. Lớp nhung bám đầy bụi đất khô nhưng không hề bị ướt sương. Khi tôi cúi xuống nhặt lên, mùi thảo mộc nồng gắt xộc thẳng vào mũi. Đó là mùi trà khô ủ lâu năm, đắng chát, ngai ngái xen lẫn mùi hoa cúc khô phơi nỏ. Chiếc gối nặng trịch, ước chừng gần hai cân, nặng hơn nhiều so với loại gối nhồi bông thông thường. Dùng tay bóp thử, ruột gối phát ra tiếng lạo xạo giòn tan của lá cây khô, đàn hồi vừa phải.

Nghĩ bụng đây là gối thuốc thảo dược của nhà nào đó sơ ý đánh rơi khi chở đồ, tôi liền buộc nó sau yên xe mang về phòng trọ. Tôi mắc chứng đau nửa đầu và mất ngủ kinh niên suốt nửa năm nay, uống bao nhiêu thang thuốc bắc ở trạm xá trấn cũng không thuyên giảm. Mùi trà khô nồng đượm tỏa ra từ chiếc gối khiến thần kinh đang căng thẳng của tôi lập tức dịu lại.

Đêm đầu tiên, tôi lột lớp vỏ gối nhung bên ngoài đem ngâm xà phòng, chỉ dùng ruột gối bọc bằng một lớp vải lót trắng ngà. Kê đầu lên mặt gối phẳng phiu, hương trà đắng ngắt vây bọc lấy cánh mũi. Tôi chìm vào giấc ngủ sâu không mộng mị, một giấc ngủ liền mạch kéo dài bảy tiếng đồng hồ mà cả năm qua tôi chưa từng có được.

Sự dễ chịu kéo dài trọn vẹn năm ngày.

Đến ngày thứ sáu, tôi bắt đầu nhận thấy những dấu hiệu bất thường trên thân thể. Mỗi buổi sáng thức dậy, vùng da sau gáy tôi ngứa ngáy dữ dội, nổi lên từng mảng đỏ ửng như bị lông sâu róm quẹt qua. Cổ họng tôi khô khốc, đắng nghét vị trà sấy cháy, khạc ra bồn rửa mặt toàn là đờm đặc màu nâu sẫm. Tệ hơn, mỗi khi tôi trở mình trong đêm, ruột gối không còn phát ra tiếng lạo xạo êm tai của lá khô nữa. Nó chuyển thành những tiếng sột soạt rin rít, nghe giống như sợi cước hay búi dây kim loại cọ xát vào nhau dưới lớp vải.

Bước sang tuần thứ hai, những cơn ác mộng ập đến bóp nghẹt giấc ngủ của tôi.

Đó không phải là những giấc mơ viển vông lộn xộn. Giấc mơ lặp đi lặp lại một khung cảnh duy nhất với độ chân thực đến mức tàn nhẫn. Tôi thấy bản thân nằm bất động trên một chiếc giường gỗ ba vạt mục nát trong căn nhà đất tối tăm, nồng nặc mùi ẩm mốc. Toàn thân tôi cứng đờ, không thể nhấc nổi một ngón tay. Lồng ngực nặng trĩu như bị một tảng đá xanh đè chặt, phổi co thắt dữ dội mà không lấy nổi một ngụm dưỡng khí. Cổ họng ứ nghẹn một chất lỏng sền sệt, vừa tanh nồng mùi máu vừa đắng ngắt.

Qua khóe mắt lờ đờ mờ đục, tôi nhìn thấy những bóng người mặc đồ tang trắng toát vây quanh giường. Một bàn tay gầy guộc đầy đồi mồi thò vào miệng tôi, móc họng tôi để nhét vào đó từng nắm lá khô thô ráp. Bên tai văng vẳng tiếng khóc than ai oán xé lòng:

Lão Trịnh ơi, nuốt lấy ngụm trà này đi rồi hẵng xuôi tay... Nhớ đường mà về với con với cháu...

Cơn ngạt thở đẩy lên đỉnh điểm. Tôi giãy giụa trong tuyệt vọng, mở trừng mắt bật dậy giữa đêm khuya.

Căn phòng trọ ba mươi mét vuông im phăng phắc dưới ánh đèn đường vàng vọt hắt qua khe cửa sổ. Mồ hôi ướt đẫm áo lót, lạnh buốt dính bết vào da thịt. Cảm giác ngạt thở vẫn còn nguyên vẹn nơi khí quản. Tôi ho sặc sụa, vội vàng vơ lấy cốc nước trên bàn uống ừng ực. Khi nhổ bọt nước thừa vào sọt rác, tôi kinh hoàng nhận ra trong kẽ răng mình mắc lại vài sợi tóc dài màu đen nhánh, lẫn với những vụn trà đen quắt.

Tôi sống một mình, tóc tôi cắt cua ngắn chưa đầy hai phân.

Tôi quay ngoắt lại nhìn chiếc gối trên giường. Lớp vải lót trắng ngà từ bao giờ đã xuất hiện những vệt ố vàng loang lổ, bốc lên mùi ngai ngái thum thủm xen lẫn hương trà khô.

Không thể chịu đựng thêm sự ám ảnh, tôi với lấy con dao rọc giấy trên bàn làm việc, rạch một đường dài dọc theo đường chỉ may mép gối.

Lớp vải bọc toạc ra. Tôi dốc toàn bộ ruột gối xuống nền nhà gạch men.

Vật rơi ra không phải là lá trà thảo dược thông thường.

Hơn một nửa ruột gối là những búi tóc người. Tóc dài, tóc ngắn, tóc đen bóng của người trẻ xen lẫn tóc bạc trắng xơ xác của người già, tất cả đều bị bện chặt, vo tròn thành từng cục to bằng nắm tay. Những búi tóc này bám chặt lấy lớp trà búp đen nhánh đã khô cứng. Trà không hề thơm mùi trà búp thông thường mà dính bết từng mảng dịch màu nâu đen khô khốc, tỏa ra mùi tử khí tanh tưởi của xác chết ủ lâu ngày trong áo quan.

Rơi lẫn giữa đống tóc và trà khô là một mảnh giấy tiền vàng mã đã ngả màu xám xịt, trên đó viết ba chữ bằng mực tàu đỏ quạch: Trịnh Vĩnh Thành.

Dạ dày tôi cuộn lên từng cơn buồn nôn. Tôi vơ vội mảnh báo cũ túm toàn bộ đống tóc và trà lại, nhét vào bao tải dứa rồi phóng xe đến ngõ đông trấn Vĩnh An, tìm đến nhà bà Mận.

Căn nhà ngói ba gian của bà Mận phảng phất mùi trầm hương và thuốc nam. Sau khi nghe tôi kể đầu đuôi ngọn ngành và nhìn thấy bao tải dứa đặt giữa sân, bà cụ bảo tôi mang ra chiếc bàn đá ngoài hiên. Bà đeo tạp dề vải thô, dùng một chiếc que tre dài gạt từng lớp tóc và búp trà đen trên mảnh báo.

Bà Mận gắp một búp trà lên sát mắt soi dưới ánh đèn dầu, rồi dí sát mũi ngửi. Gương mặt nhăn nheo của bà đanh lại.

Đây là tục Trà tịch táng của người vùng sông Dự cách đây mấy chục năm. - Bà Mận thả que tre xuống bàn, giọng nói trầm và khô khốc. - Người chết vì bạo bệnh hay đột tử ở xứ này ngày xưa, lúc lâm chung thường khó nhắm mắt, dịch từ miệng và mũi chảy ra không dứt. Người nhà sẽ dùng trà búp hảo hạng sao khô nhét đầy vào miệng, lót một lớp thật dày dưới gáy tử thi để hút sạch nước dịch tử khí trước khi khâm liệm.

Tôi run rẩy hỏi:

Còn đống tóc này là sao hả bà?

Tóc của người thân trong nhà. - Bà Mận chỉ vào những sợi tóc dài ngắn đan cài vào nhau. - Con cái, cháu chắt mỗi người cắt một lọn tóc buộc chung với trà liệm gáy, nhồi thành chiếc gối kê đầu người chết suốt ba ngày quàn tại gia. Trà hút dịch để giữ xác khô ráo, tóc giữ hồn để người chết nhớ mùi máu mủ mà tìm đường về nhà tổ trong tuần đầu tiên. Sau khi chôn cất, chiếc gối này phải được đem đi thiêu hủy cùng áo quan hoặc chôn sâu dưới đáy huyệt. Kẻ nào đó lười biếng hoặc kiêng kỵ xui xẻo đã mang nó vứt ra ngã ba đường để tống khứ tà khí sang người khác.

Tôi nhìn đống trà trộn tóc trên bàn, ruột gan thắt lại:

Cháu đã kê đầu ngủ trên nó suốt hai tuần nay. Đêm nào cháu cũng mơ thấy mình bị nhét trà vào họng và ngạt thở...

Hồn ma người chết không nhập vào cậu. - Bà Mận lắc đầu. - Thứ cậu trải qua là tàn niệm lúc hấp hối của người mang tên Trịnh Vĩnh Thành kia. Trà khô ngậm dịch thi thể và tóc người sống là cầu nối dẫn truyền ký ức thể xác cực kỳ mạnh. Cậu nằm lên gối mỗi đêm, hơi ấm từ gáy cậu hun nóng lớp trà tử khí, đánh thức cảm giác đau đớn, uất nghẹn lúc rút hơi thở cuối cùng của người chết. Nếu cậu nằm thêm một tuần nữa, phổi cậu sẽ tích tụ tử khí, các mạch máu sau gáy teo lại, cậu sẽ chết trong giấc ngủ vì ngạt thở giống hệt như ông ta.

Bây giờ phải làm thế nào hả bà? Đem vứt xuống sông hay vứt vào bãi rác?

Vứt đi đâu cũng hại người khác, mà tàn niệm đã bám vào da thịt cậu thì vứt đi nó vẫn theo về. - Bà Mận đứng dậy, đi vào gian bếp lấy ra một chai giấm thanh nuôi bằng chuối và một gói tro rơm nếp. - Cầm lấy đống này, mang ngay đến lò gạch bỏ hoang phía tây trấn. Giờ Ngọ ba khắc, mặt trời đứng bóng, tưới giấm thanh lên để tẩy uế dịch xác, rắc tro rơm nếp lên để cắt đứt liên kết của tóc. Sau đó châm lửa đốt sạch thành tro tàn. Khi tro nguội, hốt sạch đổ xuống dòng nước chảy xiết ngược hướng gió thổi. Tuyệt đối không được ngoái đầu nhìn lại.

Tôi làm theo từng lời bà Mận dặn.

Mười một giờ bốn mươi lăm phút trưa, dưới cái nắng gắt gỏng của ngày thu, tôi đứng trước cửa lò gạch bỏ hoang hoang vắng tiếng người. Tôi đổ đống tóc và trà khô vào một chiếc chậu sắt rỉ sét, tưới đẫm chai giấm thanh rồi phủ kín lớp tro rơm xám xịt. Khi tôi quẹt que diêm ném vào, ngọn lửa xanh lét bùng lên dữ dội.

Mùi tóc cháy khét lẹt quyện với mùi trà khét lẹt và mùi giấm chua nồng bốc lên nghi ngút. Trong tiếng nổ lách tách của sợi tóc bắt lửa, tôi nghe thấy tiếng xì xèo như thể có một khối mỡ lợn đang tan chảy dưới đáy chậu. Ngọn lửa thiêu rụi toàn bộ trong vòng nửa tiếng, biến tất cả thành một lớp bột xám đen mịn màng.

Tôi gom toàn bộ tro bụi vào bao nilon, chạy xe ra cầu sắt bắc qua sông Vĩnh An, đứng ngược hướng gió trút sạch lớp tro xuống dòng nước cuồn cuộn đỏ ngầu phù sa. Gió thổi mạnh hất tung những hạt bụi tro cuối cùng tan biến vào lòng sông.

Cảm giác nặng nề ở lồng ngực và vùng gáy lập tức biến mất. Tôi hít thở không khí trong lành của buổi trưa muộn, toàn thân nhẹ bẫng sau chuỗi ngày bị đè nén.

Tôi quay xe trở về phòng trọ để dọn dẹp sạch sẽ mớ hỗn độn.

Căn phòng đã bớt đi mùi ẩm mốc. Tôi dùng chổi quét sạch những vụn trà rơi vãi trên sàn, gom ga trải giường đem đi giặt nước sôi. Khi luồn cây chổi cán dài vào tận góc khuất dưới gầm giường để quét mạng nhện bám ở chân tường, đầu chổi chạm phải một vật cứng nằm sâu bên trong.

Tôi cúi rạp người xuống, bật đèn pin điện thoại rọi vào gầm giường tối om.

Dưới góc chân tường ẩm thấp, nơi tôi chưa từng để đồ đạc, có một đôi hài thêu bằng vải lụa màu xanh ngọc bích. Đôi hài kích thước nhỏ nhắn của phụ nữ thời xưa, mũi hài uốn cong vút, thêu hình hoa sen nổi bằng chỉ bạc. Điều kỳ quái là đôi hài không đặt ngửa mà bị úp ngược mặt đế lên trên, mũi hài hướng thẳng vào vách tường gạch.

Trên mặt đế bằng vải bồi nhiều lớp, bùn đất đỏ tươi vẫn còn ướt sũng như vừa mới dẫm qua một bãi tha ma sau cơn mưa rào. Ở chính giữa gót chiếc hài bên trái, một đồng tiền xu bằng đồng đục lỗ vuông thời Càn Long cắm ngập sâu một nửa vào lớp vải, rỉ xanh bám đầy quanh mép rãnh.

Chương khác

Xem thêm