Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 14: Bát Hương Hoang Nuôi Quỷ Đói

Chiều muộn ngày hai mươi ba tháng mười một, tôi chạy xe máy dọc theo con đường đất ven mương thủy lợi cạn trơ đáy phía nam trấn Vĩnh An. Đoạn mương này…

Nội dung chương

Chiều muộn ngày hai mươi ba tháng mười một, tôi chạy xe máy dọc theo con đường đất ven mương thủy lợi cạn trơ đáy phía nam trấn Vĩnh An. Đoạn mương này chạy qua bãi đất hoang phía sau khu nghĩa trang cũ của làng họ Thôi. Nước dưới đáy đã rút hết từ đầu mùa đông, chỉ còn lại lớp bùn đen nứt nẻ và đám lau sậy khô héo ngả rạp.

Tôi dừng xe bên mép cỏ để buộc lại bao tải sắt vụn vừa gom được ở công trường xưởng gạch. Lúc cúi người kéo sợi dây thun, mắt tôi chạm phải một khối tròn xám xịt nằm nửa chìm nửa nổi dưới lòng mương, cách bờ đất chừng hai mét. Tôi trèo xuống, dùng cành cây gạt lớp bùn khô bám quanh.

Đó là một chiếc bát hương bằng sành tráng men da lươn, đường kính chừng hai mươi phân, miệng loe rộng, ba chân quỳ đúc hình đầu lân gãy mất một chân. Một vết nứt dài hình tia chớp chạy dọc từ vành miệng xuống tận đáy bát, đã được ai đó dùng dây đồng mảnh siết chặt lại quanh thân để giữ cho khối gốm không vỡ đôi. Lớp tro bên trong bát hương đã kết thành khối cứng ngắc, ẩm ướt, màu đen xỉn pha lẫn mùi bùn thối nồng nặc. Cắm ngập trong khối tro ấy là hàng chục gốc chân nhang bằng tre đã mủn nát, mục rỗng ruột.

Tôi là Triệu Hải, thợ phụ hồ hai mươi chín tuổi, sống một mình trong căn nhà cấp bốn ẩm thấp ở mé tây thị trấn. Thấy chiếc bát gốm tráng men cổ lỗ sĩ, cầm nặng tay, tôi nghĩ bụng mang về ngâm nước tẩy sạch tro tàn, dùng làm chậu trồng cây cảnh hoặc ống cắm bút chì, thước dây cũng đỡ tốn tiền mua.

Tôi nhét chiếc bát sành vào bao tải, cột chặt sau yên xe rồi phóng về phòng trọ.

Đêm hôm đó, tôi mang bát sành ra sàn nước sau nhà. Tôi dùng tô vít cạy khối tro ẩm bên trong. Lớp tro nén chặt đến mức phải dùng búa gõ nhẹ vào cán tô vít mới bửa ra được từng mảng lớn. Đáy bát lộ ra ba chữ Hán khắc chìm bằng nét dao thô: "Thôi Thị Tuyệt". Lúc cạy hết tro, một mùi hôi thối nồng nặc bốc lên xộc thẳng vào mũi. Mùi này không giống mùi rác rưởi phân hủy, nó mang vị tanh của mỡ ôi thiu trộn lẫn với mùi đất mùn trong huyệt mộ ẩm. Tôi dùng xà phòng chà rửa ba lần, phơi khô trên bệ cửa sổ gian bếp rồi đặt một chùm chìa khóa và mấy cây bút bi vào trong.

Hậu quả bắt đầu xuất hiện sau đó đúng một tuần.

Hiện tượng đầu tiên diễn ra ở nồi cơm điện. Mỗi buổi sáng tôi đều cắm một nồi cơm đầy để chia làm hai bữa trưa và tối. Nhưng chỉ sau ba tiếng đồng hồ, lớp cơm trắng bên trong lập tức đổi sang màu xám nhạt, bốc lên mùi chua gắt của cám thiu. Khi tôi dùng muôi xới lên, bề mặt cơm phủ một lớp màng nhờn màu tro, hạt cơm rã nát thành chất bột nhão nhoét. Tôi tưởng nồi cơm bị hỏng gioăng cao su nên chuyển sang mua bánh bao và màn thầu hấp sẵn để trong lồng bàn. Nhưng chỉ cần để quá mười lăm phút, toàn bộ vỏ bánh mềm mại đều khô quắt lại, bên trong nhân thịt bốc mùi chua loét, nếm vào thấy đắng ngắt nơi đầu lưỡi.

Cơ thể tôi biến đổi rõ rệt. Cơn đói cào xé ruột gan xuất hiện từng giờ từng phút. Bụng tôi réo ùng ục liên tục, cảm giác đói khát thiêu đốt bao tử khiến hai mắt tôi mờ đi. Tôi ăn gấp ba lần bình thường, mỗi bữa nuốt trọn năm bát mì lớn đầy ắp thịt băm, nhưng thức ăn vừa trôi qua cuống họng liền biến mất tăm hơi. Sau hai tuần, cân nặng của tôi sụt từ sáu mươi lăm cân xuống còn năm mươi hai cân. Da mặt tôi xám ngoét, bọc sát vào xương gò má, hai hốc mắt trũng sâu hoắm, nhưng phần bụng dưới lại trương phình to tròn, căng cứng như một cái trống con. Mỗi bước đi, tôi nghe thấy tiếng nước và thức ăn ọc ạch va đập trong ổ bụng teo tóp.

Đêm ngày thứ mười bốn, tôi tỉnh giấc lúc hai giờ sáng bởi những âm thanh phát ra từ góc bếp.

Tiếng động rất rõ ràng: tiếng nhai lạo xạo xen lẫn tiếng nuốt ực ực liên hồi. Tôi cầm chiếc đèn pin kim loại, nhẹ nhàng bước chân đất tiến về phía gian bếp tối om.

Ánh đèn pin rọi thẳng vào mặt bàn gỗ.

Chiếc bát hương sành men da lươn đang rỉ ra một chất dịch đặc quánh màu vàng đục từ vết nứt có buộc dây đồng. Chất dịch ấy chảy tràn xuống mặt bàn, kéo dài thành một vệt nhờn ướt sũng dẫn thẳng vào bên trong tủ bếp. Cửa tủ bếp bằng nhôm kính mở toang hoang. Túi gạo mười cân tôi để ở góc tủ bị cắn rách toạc một mảng lớn. Gạo sống vương vãi khắp nền xi măng, hạt nào hạt nấy đều bị nghiền nát vụn thành bột trắng hòa lẫn với những giọt nước dãi dính nhớp.

Trên sàn nhà in chi chít những vết chân trần nhỏ xíu chỉ bằng bàn tay đứa trẻ ba tuổi, nhưng ngón chân lại dài ngoằng, mỗi bàn chân có tới sáu ngón cào xước cả mặt xi măng. Hàng trăm vết chân ấy dẫm đạp lên nhau, chạy vòng quanh chân bàn rồi biến mất ngay dưới đáy chiếc bát sành.

Tôi run rẩy soi đèn vào trong lòng bát hương. Lớp tro mà tôi đã cạo sạch bóng hai tuần trước, nay lại đầy ắp trở lại. Khối tro mới có màu đen ướt, ở giữa cắm thẳng đứng ba que tăm tre bị bẻ gãy đầu, khói xám nhạt từ đầu que tăm bốc lên nghi ngút mang theo mùi thịt cháy khét lẹt.

Tôi lùi lại hai bước, vấp phải chân ghế ngã ngồi bệt xuống đất. Cơn đói trong bụng đột ngột quặn thắt dữ dội, thúc giục tôi bò đến nhặt những hạt gạo sống dính đầy dịch nhầy dưới đất nhét vào mồm nhai ngấu nghiến. Tôi vừa nhai vừa nôn thốc nôn tháo ra toàn nước vàng chua lòm.

Sáng hôm sau, tôi gói chiếc bát sành vào ba lớp túi ni lông đen, tìm đến ngõ hẹp phía sau miếu Thành Hoàng ở phố cổ Vĩnh An. Người trong vùng đồn rằng bà Mận, một bà lão ngoài bảy mươi tuổi sống bằng nghề bán tiền vàng mã, hiểu rất rõ những điều cấm kỵ của đất này.

Gian nhà của bà Mận tối tăm, nồng nặc mùi giấy bổi và nhựa cánh kiến. Bà lão ngồi trên chiếc ghế mây thấp, hai mắt đục ngầu nhìn chăm chú vào bọc ni lông tôi vừa đặt lên mặt bàn đá.

Bà Mận không mở túi ra ngay. Bà lấy một que đóm bằng tre, gạt nhẹ lớp túi bóng bên ngoài, để lộ ra vành bát sành tráng men da lươn và sợi dây đồng xỉn màu.

Bà Mận dùng móng tay cạo một mẩu tro đen dính trên mép bát, đưa lên mũi ngửi rồi nói:

Men da lươn lò gốm Bát Quái, loại này làm từ những năm ba mươi của thế kỷ trước. Ba chữ "Thôi Thị Tuyệt" khắc dưới đáy là dấu chỉ dòng họ tuyệt tự, không còn một mống con cháu hương khói. Khi người cuối cùng của họ Thôi chết đói trong nạn đói năm bốn mươi hai, người làng gom bát hương của cả nhà họ ném xuống mương cạn để đoạn tuyệt nghiệp chướng.

Tôi ôm lấy cái bụng căng tròn đang sôi lên sùng sục, giọng khàn đặc:

Cháu rửa sạch tro rồi mới mang về... Sao tro lại tự đầy lên được?

Bà Mận liếc nhìn cái bụng phình to và đôi bàn tay gầy gơ xác của tôi, giọng đanh lại:

Bát hương đặt trong nhà có người thờ cúng là nơi ngự của tổ tiên. Bát hương vứt bờ mương bụi rậm qua bảy tám mươi năm biến thành cái chậu ăn của đám ma đói đầu đường xó chợ. Những vong hồn chết đường chết chợ, chết vì đói khát không ai cúng giỗ đều tụ tập quanh cái bát này để tranh cướp từng chút tro tàn tạ lễ của người qua đường. Cậu mang nó về nhà, rửa sạch đặt lên bàn, tức là cậu dọn bàn mời hàng trăm đứa ma đói vào nhà chiếm ngụ.

Tôi run rẩy hỏi:

Chúng nó... chúng nó ăn thức ăn của cháu?

Chúng nó ăn hết sinh khí và phần thực của thức ăn trước khi cậu kịp nuốt vào bụng. Thức ăn cậu đưa vào mồm chỉ còn lại cái xác thiu thối không còn chất bổ, nên cậu càng ăn càng đói, ăn bao nhiêu cũng chỉ để nuôi đám quỷ đói đang bám trên thành dạ dày của cậu. Nếu để thêm một tuần nữa, bụng cậu sẽ nứt toác ra vì chứa đầy tro ẩm và nước dãi của chúng nó.

Bà Mận đứng dậy, đi vào gian trong lấy ra một túi vải nhỏ đựng muối hạt to và gạo nếp rang cháy đen, cùng một cuộn dây thừng bện bằng rơm nếp.

Lệ tống quỷ đói không được dùng bùa chú đập phá bừa bãi. Đập vỡ bát hương trong nhà là xua đàn quỷ đói tản ra khắp bốn góc tường, cậu chết không kịp ngáp. Nghe cho kỹ đây.

Bà Mận đặt túi gạo muối lên bàn:

Đúng mười hai giờ trưa nay, mặt trời đứng bóng, mang bát này ra ngã ba sông Hắc Thủy, nơi có bãi bồi nhiều lau sậy nhất. Đổ hết tro trong bát xuống hố đất sâu nửa mét, rải toàn bộ gạo nếp rang và muối này lên trên để bịt miệng hố. Dùng dây rơm nếp quấn chặt quanh thân bát chín vòng, nhét vào bên trong ba thỏi vàng mã loại giấy thô rồi châm lửa đốt. Đợi lửa tàn, thả chiếc bát trôi theo dòng nước chảy xiết. Tuyệt đối không được ngoái đầu nhìn lại, đi thẳng một mạch về nhà, bước qua một chậu than hồng trước cửa rồi mới được vào phòng.

Tôi gật đầu lia lịa, cầm túi đồ lễ và chiếc bát sành chạy thẳng một mạch.

Đúng mười hai giờ trưa, ánh nắng gắt gỏng chiếu rọi xuống mặt sông Hắc Thủy. Gió mùa đông thổi qua bãi lau sậy xào xạc từng hồi khô khốc.

Tôi đào một cái hố sâu bên mép nước, dùng thanh sắt cạy khối tro ẩm bên trong bát hương đổ xuống. Khối tro rơi xuống đáy hố sủi bọt xèo xèo, bốc lên làn khói đen kịt mang theo mùi tanh nồng của bùn rã. Tôi vội vã trút hết túi muối hạt và gạo nếp rang phủ kín miệng hố rồi dẫm đất thật chặt bên trên.

Tôi lấy cuộn dây rơm quấn quanh thân bát chín vòng tròn, siết chặt nút thắt trên vết nứt dây đồng, nhét ba thỏi vàng mã vào lòng bát rồi bật hột quẹt châm lửa. Lửa bắt vào rơm khô và giấy bổi bùng lên đỏ rực. Trong tiếng lách tách của củi lửa, tôi nghe thấy những tiếng thút thít the thé như tiếng khóc của bầy chuột con bị hun khói, âm thanh nghẹn ngào chìm dần theo làn khói xám.

Khi lửa tàn chỉ còn lại lớp muội than đen nham nhở, tôi dùng cành cây đẩy chiếc bát sành xuống dòng nước sông Hắc Thủy đang cuồn cuộn chảy xiết. Chiếc bát chao đảo vài lần rồi chìm nghỉm dưới làn nước đục ngầu.

Tôi quay lưng, cắm đầu cắm cổ chạy về thị trấn, không dám ngoái đầu nhìn lại dù chỉ một lần.

Về đến cửa phòng trọ, tôi châm chậu than hoa nhảy qua ba lần theo đúng lời dặn của bà Mận. Bước vào nhà, mùi chua thối và mùi bùn ao nồng nặc đã hoàn toàn biến mất. Nồi cơm tôi cắm thử lúc sáng vẫn giữ nguyên hạt trắng ngần, tỏa ra mùi thơm của gạo mới. Tôi ăn liền hai bát cơm nóng, cảm giác ấm áp lan tỏa khắp lồng ngực, cơn đói cào xé ruột gan đã tan biến, bụng dưới cũng xẹp bớt đi nhiều.

Tôi dọn dẹp sạch sẽ đống gạo vụn dưới sàn nhà, khóa chặt cửa sổ và cửa chính rồi nằm vật ra giường ngủ một giấc li bì sau hai tuần bị hành hạ thể xác.

Năm giờ sáng hôm sau, tiếng gõ cửa cộc cộc vang lên phá tan không gian tĩnh mịch.

Tôi choàng tỉnh, mở khóa then cài, kéo cánh cửa gỗ ra.

Bên ngoài trời còn nhá nhem tối, sương mù giăng kín con ngõ đất. Không có một bóng người nào đứng ngoài sân.

Nhưng ngay trước bậc thềm xi măng, đặt chình ình một chiếc thau bằng đồng thau đã rỉ xanh từng mảng lớn. Bên trong lòng thau không đựng nước, mà cuộn tròn một búi tóc người đen nhánh, dài ướt sũng, quấn chặt lấy một phiến đá táng mỏng dính đầy bùn đỏ tươi.

Chương khác

Xem thêm