Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 17: Trâm Gỗ Đào Găm Đoạt Mạng

Cái cuốc sắt của tôi bập vào tầng rễ chằng chịt dưới gốc cây hòe cổ thụ, phát ra một tiếng "cốp" khô khốc. Đó là buổi chiều muộn ngày mười hai tháng…

Nội dung chương

Cái cuốc sắt của tôi bập vào tầng rễ chằng chịt dưới gốc cây hòe cổ thụ, phát ra một tiếng "cốp" khô khốc.

Đó là buổi chiều muộn ngày mười hai tháng mười, tại công trường san lấp mặt bằng chân đồi Mang Đãng, rìa phía tây trấn Vĩnh An. Nhóm thợ đã thu dọn xẻng bay để về lán trại ăn cơm, chỉ còn tôi nán lại đào nốt rãnh thoát nước theo lời dặn của cai thầu.

Đất dưới gốc hòe đen sẫm, xốp và ẩm ướt bất thường. Lẫn trong lớp mùn rễ mục là một thanh gỗ thon dài cỡ ngón tay trỏ. Tôi nhặt nó lên, dùng vạt áo bảo hộ quệt sạch lớp bùn bám bên ngoài.

Vật thể hiện ra là một chiếc trâm cài tóc bằng gỗ đào dài chừng mười lăm phân. Đầu trâm khắc nổi hình một đóa hoa mận năm cánh nở rộ, từng đường gọt tỉa tinh xảo nhưng đã mòn nhẵn dấu vết thời gian. Phần thân trâm có một vết nứt chạy dọc từ cuống hoa xuống gần đuôi, mép gỗ tưa ra các dăm nhỏ. Đáng chú ý nhất là ngọn trâm đã gãy mất một đoạn nhọn, để lại vết cắt nham nhở, và quanh thân trâm đóng một lớp cặn màu nâu đỏ quánh đặc, cứng như sáp ong. Mùi hôi tanh nồng nặc bốc lên, giống mùi rỉ sắt trộn với bùn đáy ao.

Tôi nghĩ đây là món đồ cổ bằng gỗ đào có giá trị, có thể đem đánh bóng lại rồi bán cho mấy tiệm đồ cũ trên phố Đông. Tôi nhét chiếc trâm vào túi áo ngực rồi rời khỏi công trường.

Bảy ngày đầu tiên, sự thay đổi diễn ra rất chậm.

Cổ họng tôi bắt đầu khô rát. Ban đầu tôi cho rằng mình bị viêm họng do hít phải bụi xi măng. Tôi mua hai vỉ kháng sinh ở hiệu thuốc đầu ngõ, uống liên tục ba ngày nhưng tình trạng không thuyên giảm. Mỗi lần nuốt nước bọt, vùng sụn thanh quản lại nhói buốt như bị đầu kim chọc vào.

Đến ngày thứ chín, tôi thức dậy lúc nửa đêm vì cảm giác ngạt thở. Trong gương nhà tắm, dưới ánh đèn huỳnh quang chập chờn, tôi nhìn thấy một vệt đỏ mỏng bằng sợi chỉ quấn ngang cổ họng mình, nằm ngay dưới yết hầu. Vệt đỏ này không phải vết xước ngoài da, nó ửng đỏ từ bên dưới lớp biểu bì, ấn tay vào thấy cứng và đau buốt.

Đêm ngày thứ mười một, đúng ba giờ mười lăm phút sáng, tiếng lách cách bắt đầu vang lên từ mặt bàn gỗ ép kê cạnh giường.

Tôi mở mắt. Chiếc trâm gỗ đào tôi đặt trong chiếc hộp nhựa đựng đinh ốc đang tự dịch chuyển. Thân gỗ cọ xát vào thành nhựa, phát ra từng hồi cọt kẹt đều đặn theo nhịp thở của tôi. Vết nứt dọc thân trâm đã nở rộng thêm một milimét, để lộ phần lõi gỗ bên trong có màu đỏ tươi như thịt sống. Lớp cặn nâu đỏ quanh thân trâm rỉ ra chất dịch lỏng dính dớp, chảy thành vệt dài trên mặt bàn.

Sáng ngày thứ mười ba, cơn ho dữ dội ập đến. Tôi gập người bên bồn rửa mặt, nôn ra một búng đờm đặc quánh lẫn máu. Nằm giữa bãi đờm là một búi tóc đen dài chừng một gang tay, các sợi tóc bện chặt vào nhau bằng một lớp mỡ xám đục.

Cổ họng tôi sưng to đến mức không thể phát âm tròn vành rõ chữ. Tiếng nói khàn đặc biến thành những âm thanh rít qua kẽ răng.

Ý thức được sự nguy hiểm tính mạng, tôi gói chiếc trâm vào một mảnh vải bạt dầy, chạy xe máy đến tiệm thuốc Nam của bà Mận ở đường Tây Xương.

Bà Mận ngồi sau chiếc bàn gỗ lim cũ kỹ, trước mặt là ba chiếc cân tiểu ly bằng đồng. Khi tôi đặt bọc vải bạt lên bàn và mở ra, bà không dùng tay chạm vào chiếc trâm mà rút một thanh kẹp bằng đồng gắp lấy nó.

Bà Mận múc một bát nước giếng trong vắt đặt trên bàn, sau đó thả chiếc trâm gỗ vào. Ngay khi thân gỗ chìm xuống đáy bát, làn nước trong lập tức chuyển sang màu xám đục như nước luộc thịt, trên mặt nước nổi lên những váng mỡ li ti hình tròn. Mùi máu tanh xộc thẳng lên mũi hai người.

Bà Mận dùng kẹp gắp chiếc trâm ra đặt lên mặt bàn, mắt nhìn chằm chằm vào vết nứt trên thân gỗ.

Cậu đào được vật này ở vị trí nào?

Tôi chỉ tay về hướng tây trấn, cố sức ép hơi qua thanh quản để phát ra tiếng:

Dưới rễ cây hòe, đồi Mang Đãng.

Bà Mận gõ đầu ngón tay khẳng khiu xuống mặt bàn:

Đây không phải trâm cài làm đẹp của người sống. Tên của nó là Trấn Nữ Trâm.

Bà chỉ vào đóa hoa mận chạm khắc ở đuôi trâm:

Gỗ đào sét đánh dùng trừ tà, nhưng hoa mận lại nở trong mùa đông lạnh giá, tượng trưng cho cái chết non trẻ. Thời mạt Thanh đầu dân quốc, vùng Hà Nam có tục lệ chôn cất trinh nữ chết oan hoặc tự vẫn. Người nhà sợ oán khí của cô gái tích tụ thành Hỷ Lệ quay về bắt mạng người trong dòng họ, nên đã mời thầy phong thủy dùng trâm gỗ đào khắc hoa mận đóng thẳng qua sụn cổ họng người chết, găm chặt đầu họ xuống đáy ván quan tài trước khi đóng nắp.

Tôi sờ tay lên cổ họng mình, vệt chỉ đỏ dưới da đang giật giật đau đớn.

Bà Mận tiếp tục nói bằng giọng đều đều, không lộ chút cảm xúc:

Đầu nhọn của cây trâm này bị gãy là do khi xưa nó đã xuyên thủng xương cổ, cắm ngập vào thớ gỗ quan tài. Vệt nâu quanh thân trâm chính là máu cuống họng trộn với chu sa của người chết thấm qua trăm năm. Cậu đào đất làm bật gốc cây, nhặt chiếc trâm lên tức là đã nhổ cây đinh phong ấn oán linh. Vết nứt trên thân trâm mở ra bao nhiêu, oán khí thoát ra bấy nhiêu. Nó bám theo mùi máu trên trâm, tìm đến kẻ đang giữ vật này để đòi lại cái cổ họng bị đóng đinh.

Phải... làm sao? - Tôi khó nhọc thốt ra từng từ.

Không được ném vào thùng rác, cũng không được vứt xuống sông. Nước sẽ nuôi dưỡng oán khí, còn lửa thường không thiêu hủy được tà vật. Đêm nay là đêm mười bốn, đúng mười hai giờ đêm, cậu phải mang trâm ra ngã ba đường ngoài trấn, nơi giao nhau giữa đường cái và đường dẫn lên bãi tha ma cũ.

Bà Mận đứng dậy, lấy từ ngăn kéo ra một gói bột màu trắng xám và một bó ngải cứu khô:

Đặt chiếc trâm vào chậu sắt, rải ngải cứu và tro cây liễu trắng này lên trên. Rưới dầu hỏa rồi châm lửa đốt. Cậu phải ngồi đối diện ngọn lửa, quay mặt về hướng Bắc, tuyệt đối không được nhắm mắt dù cổ họng có đau đớn đến mức nào. Khi ngọn lửa tàn, toàn bộ tro tàn phải được gom lại, đem chôn ngược trở lại đúng cái hố dưới gốc cây hòe trước khi mặt trời mọc. Nếu làm sai một bước, cây trâm sẽ tự găm vào cổ họng cậu ngay tại ngã ba đường.

Tôi cầm gói tro liễu, bó ngải cứu khô và bọc chiếc trâm cẩn thận, rời khỏi tiệm thuốc của bà Mận.

Mười một giờ bốn mươi lăm phút đêm.

Gió từ phía cánh đồng thổi vào ngã ba đường vắng lặng, cuốn theo bụi đất mù mịt. Tôi đặt chiếc chậu sắt rỉ sét xuống nền đất nén, đặt chiếc trâm gỗ đào vào giữa, phủ ngải cứu khô và lớp tro liễu trắng của bà Mận lên trên.

Tôi đổ nửa chai dầu hỏa vào chậu. Mùi dầu hăng nồng át đi mùi bùn tanh.

Đồng hồ điện thoại điểm mười hai giờ đêm. Tôi bật que diêm, ném vào chậu sắt.

Ngọn lửa bùng lên dữ dội, ánh lửa màu xanh lét thay vì màu đỏ cam thông thường. Khói bốc lên đặc quánh, mang theo mùi da thịt người bị cháy khét lẹt.

Ngay khi ngọn lửa liếm vào thân gỗ đào, chiếc trâm trong đáy chậu bắt đầu rung bần bật. Tiếng rít the thé, chói tai phát ra từ bên trong thớ gỗ đang nứt toác, nghe giống như tiếng một thiếu nữ bị bóp nghẹt thanh quản.

Cùng lúc đó, cổ họng tôi thắt lại. Cơn đau xé toạc ập đến vùng yết hầu. Tôi cảm nhận rõ ràng có một lực ép vô hình vô cùng lớn đang ấn mạnh một vật nhọn hoắt vào giữa cổ mình. Da thịt ở cổ tôi nứt ra, từng giọt máu tươi rỉ xuống áo, rơi lộp bộp vào lòng chiếc chậu sắt đang cháy.

Máu của tôi rơi vào lửa khiến ngọn lửa bùng lên cao hơn nửa mét. Tôi mở trừng hai mắt, nhìn trừng trừng vào ngọn lửa màu xanh theo đúng lời dặn của bà Mận, hai bàn tay bấu chặt vào đầu gối đến mức móng tay gãy vụn cắm vào da thịt.

Thanh gỗ đào trong đáy chậu vỡ đôi với một tiếng "tách" giòn tan. Tiếng rít chấm dứt đột ngột.

Áp lực trên cổ tôi biến mất ngay lập tức. Ngọn lửa xanh dần hạ xuống, chuyển về màu vàng đỏ bình thường rồi lụi tàn, để lại một lớp tro màu trắng xám dưới đáy chậu sắt.

Tôi thở dốc, quệt mồ hôi trộn lẫn máu trên cổ. Vết chỉ đỏ dưới da đã nhạt dần, chỉ còn lại một vết rách nông ngoài da đang chảy máu.

Tôi trút toàn bộ tro tàn trong chậu vào một chiếc túi vải, chạy xe máy thốc lên đồi Mang Đãng. Dưới gốc cây hòe cổ thụ, tôi dùng xẻng đào lại cái hố ban chiều, đổ toàn bộ tro xuống rồi lấp đất, nện thật chặt mặt đất lại.

Khi vệt sáng đầu tiên của bình minh xuất hiện ở phía chân trời, tôi mới lê từng bước chân kiệt sức về căn phòng trọ của mình ở xóm công nhân.

Cơn đau họng đã hoàn toàn biến mất, giọng nói của tôi dần hồi phục, chỉ còn lại cảm giác ngứa ngáy ở vết sẹo nhỏ trước cổ. Tôi cởi bỏ bộ quần áo bảo hộ dính đầy bụi than và máu, ném vào góc nhà.

Tôi ngồi xuống mép giường, tháo chiếc ủng bảo hộ bên chân trái ra để chuẩn bị đi tắm.

Khi dốc ngược chiếc ủng da xuống sàn nhà, một vật thể cứng rơi ra từ bên dưới lớp lót giày, phát ra tiếng kêu "leng keng" trên nền gạch hoa.

Đó là một đồng tiền xu bằng đồng tây cũ kỹ, đường kính khoảng ba phân. Bốn góc đồng tiền bị khoan bốn lỗ thủng nhỏ, xỏ qua bằng một sợi dây chỉ đỏ đã bết dính chất mỡ màu vàng đục, ướt sũng và còn tươi nguyên mùi tanh tưởi.

Chương khác

Xem thêm