Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 18: Khăn Tang Treo Nhánh Đoạt Hồn

Đoạn đường đê chắn lũ phía tây trấn Vĩnh An quanh năm chỉ có xe chở đất cát qua lại. Chiều hôm ấy, chiếc xe ba gác của tôi bị đứt dây chằng thùng hàng…

Nội dung chương

Đoạn đường đê chắn lũ phía tây trấn Vĩnh An quanh năm chỉ có xe chở đất cát qua lại. Chiều hôm ấy, chiếc xe ba gác của tôi bị đứt dây chằng thùng hàng ngay dưới gốc cây đa cụt đầu, nơi người ta vừa dỡ bỏ một lán trại tạm bấy lâu nay. Đang loay hoay tìm đồ buộc tạm mấy bao xi măng, mắt tôi va phải một dải vải trắng dài chừng hai mét vắt ngang cành cây de ra mặt đường.

Đó là một dải vải xô gai màu trắng ngà, sợi dệt thưa nhưng sợi chỉ rất dai. Mép vải tước xơ xác, ở giữa thân dải vải có một vệt ố vàng sẫm hình elip, khô cứng lại. Tôi với tay giật mạnh dải vải xuống. Không có mùi ẩm mốc thông thường, chỉ thoang thoảng mùi dầu tràm và hương trầm lẫn với mùi đất mục.

Nghĩ bụng sợi vải xô dai thế này buộc hàng thì chắc chắn không đứt, tôi gập đôi dải vải, quấn chặt quanh chồng xi măng rồi nổ máy chạy về xưởng cơ khí ở cuối trấn.

Đêm đó, tôi tiện tay vứt dải vải xô vào ngăn kéo tủ đựng đồ nghề bằng sắt ở góc xưởng.

Bảy ngày đầu tiên trôi qua không có biến cố rõ rệt. Biểu hiện lạ lùng xuất hiện vào đầu tuần thứ hai, bắt đầu từ vùng da quanh cổ tôi.

Mỗi buổi sáng thức dậy, da cổ tôi lại ngứa ran, đỏ ửng thành một vệt tròn khép kín, rộng đúng bằng bề ngang của ngón tay cái. Tôi soi gương trong nhà vệ sinh của xưởng, thấy lớp biểu bì ở yết hầu tróc vảy mỏng, rát buốt mỗi khi mồ hôi chảy xuống. Tôi mua thuốc mỡ bôi da về xoa nhưng vết đỏ không hề lặn đi, trái lại ngày càng sẫm màu, chuyển dần từ hồng nhạt sang tím bầm giống hệt vết tụ máu do ngoại lực thắt chặt.

Đến ngày thứ mười, tôi bắt đầu có những hành vi nằm ngoài kiểm soát của ý thức.

Mỗi khi ngồi một mình trong xưởng gia công bu-lông, hai tay tôi tự động vớ lấy bất kỳ sợi dây nào trong tầm mắt, từ dây thừng gai, dây cáp điện hỏng cho đến dây nilon phế liệu. Những ngón tay tôi thoăn thoắt đan chéo, luồn sợi, tạo thành những nút thắt thòng lọng tròn trịa, trượt êm ru một cách chuẩn xác. Khi định thần lại, tôi nhìn thấy trên bàn làm việc đã xếp ngay ngắn năm sáu nút thòng lọng thắt nút số tám, loại nút mà người ta chỉ dùng để treo vật nặng từ trên trần cao xuống.

Tôi ném đống dây vào lò nấu phôi thép, cố gắng không nghĩ tới chúng. Nhưng cổ họng tôi bắt đầu tắc nghẽn, cảm giác có một vòng dây vô hình siết nhẹ vào khí quản suốt hai mươi tư giờ mỗi ngày. Ban đêm nằm ngủ, hai mắt tôi mở trừng trừng nhìn lên xà nhà bằng thép chữ I. Tai tôi liên tục nghe thấy tiếng cót két của thanh xà chịu lực, kèm theo tiếng thở dốc khò khè phát ra ngay sát vành tai mình.

Đỉnh điểm là đêm ngày thứ mười bốn.

Cơn mê man ập đến lúc hai giờ sáng. Tôi thấy mình đứng dậy khỏi giường, bước đi trong trạng thái chân không chạm đất. Hai mắt tôi dán chặt vào quạt trần ba cánh bằng sắt đang đứng im lìm trên đỉnh đầu. Tay tôi mở ngăn kéo tủ sắt, lôi dải vải xô trắng nhặt ngoài đường đê ra.

Tôi trèo lên chiếc ghế đẩu bằng gỗ lim. Động tác của tôi mượt mà, không hề run rẩy. Tôi luồn một đầu dải vải qua móc treo quạt trần, thắt một nút trượt hoàn hảo, tạo thành một cái thòng lọng vừa khít đầu người. Tôi đưa hai tay nắm lấy mép vải, từ từ xỏ đầu mình vào giữa vòng thòng lọng ấy.

Dải vải xô siết chặt vào cổ họng tôi. Hai chân tôi vô thức đạp mạnh chiếc ghế đẩu văng ra xa.

Toàn bộ trọng lượng cơ thể sáu mươi lăm cân dồn hết vào sợi vải xô mỏng manh. Nhưng dải vải không hề đứt. Nó thắt sâu vào sụn thanh quản, chặn đứng đường thở của tôi trong tích tắc. Mắt tôi nổ đom đóm, hai tay cào cấu trong tuyệt vọng vào sợi dây nhưng các đầu ngón tay chỉ chạm vào lớp vải nhờn dính, tanh nồng như mỡ động vật ươn.

Rầm!

Cánh cửa xưởng bật mở. Trương Hổ, người làm cùng ca trực đêm đến lấy chìa khóa kho, nhìn thấy tôi đang giãy giụa lơ lửng giữa phòng. Anh ta lao tới, vớ lấy cây kìm cắt cáp trên bàn máy, nhảy lên bàn rồi bấm đứt dải vải xô.

Tôi rơi cắm mặt xuống sàn bê tông, ho sặc sụa, máu tươi ứa ra từ khóe môi cùng với đờm dãi.

Trương Hổ đỡ tôi dậy, mặt cắt không còn hạt máu. Dưới ánh đèn tuýp nhấp nháy, đoạn vải xô còn dính trên cổ tôi không hề có màu trắng ngà ban đầu. Nó đã chuyển sang màu xám đen, ướt sũng một chất dịch nhầy nhụa màu vàng ố, bốc mùi tử khí nồng nặc cả căn phòng. Trên cổ tôi, một vết lằn sâu hoắm, tụ máu đen đặc, in hằn từng nếp gấp của thớ vải xô.

Trương Hổ nhặt mảnh vải rơi dưới đất lên, tay anh ta run lẩy bẩy:

- Cậu lấy cái này ở đâu ra? Đây là khăn tang đoạn tuyệt của đám ma chết bất đắc kỳ tử!

Trời vừa hửng sáng, Trương Hổ kéo tôi đến căn nhà ngói ba gian của bà Mận ở xóm Chùa.

Bà Mận ngồi bên bậu cửa, trên tay cầm chiếc nhíp sắt gắp dải vải xô đặt vào trong một chiếc chậu sành rải tro trấu. Bà không thắp hương, cũng không đọc bất kỳ câu chú nào. Bà dùng thanh tre gạt phẳng vệt ố vàng ở giữa dải vải, để lộ ra hai dấu vết lõm sâu đối xứng nhau.

- Đây là khăn tang của người tự treo cổ chết.

- Bà Mận chỉ đầu thanh tre vào hai vết lõm.

- Vệt ố vàng này là nước thi thể chảy ra từ cằm và gáy người chết trong lúc người nhà chưa kịp hạ xác xuống. Theo lệ cũ ở vùng sông nước này, người chết vì thòng lọng thì tà khí và uất nghẹn đều dồn hết vào dải vải cuối cùng chạm vào cổ họ.

Tôi run rẩy sờ lên vết thương rớm máu trên cổ mình:

- Tại sao người ta lại vứt nó lên cành cây ở đường đê?

Bà Mận đáp bằng giọng trầm đục:

- Đó là tục "Táng lộ tống quỷ". Khi trong nhà có người thắt cổ chết oan khi tuổi đời còn trẻ, linh hồn không chịu nhập vào bài vị mà cứ lởn vởn tìm người thay thế. Thầy cúng sẽ lấy dải khăn tang tẩm mỡ người chết đem vắt lên cành cây nơi ngã ba hoặc đường vắng, đầu quay về hướng tây. Mục đích là để người qua đường vô tình nhặt lấy, mang món nợ mạng ấy đi nơi khác, gánh thay cho con cháu trong dòng họ. Kẻ nào nhặt về dùng, trong vòng hai tuần, vía người chết sẽ mượn tay kẻ đó tự thắt thòng lọng, hoàn tất cái chết dở dang của họ.

Tôi tái mặt, toàn thân cứng đờ:

- Bây giờ đốt nó đi có hết không bà?

Bà Mận lắc đầu, chỉ tay vào chiếc chậu sành:

- Nếu tự ý châm lửa đốt bừa bãi, tà khí không có đường thoát sẽ bám chặt lấy yết hầu của cậu, thắt nghẹt cho đến khi tim ngừng đập. Muốn dứt bỏ, phải làm theo lệ phân ranh giới.

Bà Mận đứng dậy, đi vào chái bếp lấy ra một con dao rựa cán gỗ và một nắm cành dâu tằm tươi. Bà chặt dải vải xô thành chín đoạn bằng nhau, mỗi đoạn dài đúng bằng một đốt ngón tay giữa của tôi. Sau đó, bà bảo Trương Hổ đi gom bảy nắm đất ở bảy ngôi mộ vô chủ ngoài bãi tha ma mang về.

Đúng mười hai giờ trưa, khi mặt trời đứng bóng, bà Mận dẫn hai chúng tôi ra lại khúc cua bờ đê nơi tôi nhặt dải vải. Cây đa cụt đầu vẫn đứng trơ trọi giữa gió sông thổi rát mặt.

Bà Mận đặt chiếc chậu sành xuống gốc cây, rải bảy nắm đất mồ mả bao quanh miệng chậu thành một vòng tròn khép kín. Bà bảo tôi quỳ phía ngoài vòng đất, dùng dao rựa tự tay cứa nhẹ đầu ngón tay trỏ của mình, nhỏ ba giọt máu tươi vào đống cành dâu tằm đặt trên dải vải xô.

- Đốt cành dâu trước, mượn lửa thuần dương để ép tử khí ra khỏi thớ vải.

- Bà Mận nghiêm giọng.

Trương Hổ quẹt diêm, châm lửa vào đống cành dâu. Lửa bén vào lá tươi nổ lách tách. Khi ngọn lửa liếm xuống chín mẩu vải xô tẩm tro trấu, một luồng khói đen đặc bốc thẳng lên trời, không hề bị gió sông Hoàng Hà thổi tạt đi. Khói đen cuộn tròn lại, mang theo tiếng rít the thé nghe như tiếng gió lùa qua khe cửa hẹp.

Mùi thịt cháy khét lẹt nồng nặc bốc lên khiến tôi nôn thốc nôn tháo xuống vệ cỏ. Cùng lúc đó, vết lằn tím bầm quanh cổ họng tôi nhói buốt lên như bị kim châm, rồi cảm giác tức nghẹn ở lồng ngực giảm dần, không khí bắt đầu tràn vào phổi một cách nhẹ nhõm.

Ngọn lửa cháy rụi trong mười phút, để lại trong lòng chậu sành một lớp tro mịn màu xám trắng.

Bà Mận dùng thanh tre bới đống tro tàn, gật đầu:

- Oan khí của dải khăn tang đã trả về cho đất. Vết lằn trên cổ cậu ba ngày nữa sẽ tự tróc vảy. Nhớ lấy, đi đường thấy vải vóc, gương lược vắt vẻo trên cành cây thì tuyệt đối không được đưa tay với lấy.

Tôi thở phào, chống tay xuống đất định đứng dậy thì đầu thanh tre của bà Mận bỗng chạm phải một vật cứng nằm sâu dưới đáy chậu sành, phát ra tiếng "keng" thanh mảnh.

Đó không phải là mẩu than hay cặn đất.

Bà Mận gạt lớp tro xám sang hai bên. Nằm trơ trọi dưới đáy chậu là một chiếc lược sừng trâu màu đen tuyền, răng lược dày đặc, trên sống lược còn dính chặt một búi tóc dài của phụ nữ bị bện chặt bằng một sợi dây đồng mỏng. Chiếc lược hoàn toàn không bị ngọn lửa thiêu rụi, trên bề mặt sừng bóng loáng khắc sâu ba chữ Hán sắc lẹm: "Trần Mỹ Lan".

Trương Hổ đứng chôn chân tại chỗ, mắt dán chặt vào ba chữ trên thân lược, giọng nói lạc hẳn đi:

- Đây... đây là tên của chị dâu tôi, người vừa nhảy cầu mất tích đêm qua.

Chương khác

Xem thêm