Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 20: Đôi Đũa Nhọn Cắm Cơm Cúng

Đoạn ngã ba rẽ vào xóm thợ đúc trấn Vĩnh An lúc hai giờ sáng mờ mịt khói than và bụi cát từ bờ sông Lạc. Đêm ngày mười lăm tháng chín, tôi tan ca ba ở…

Nội dung chương

Đoạn ngã ba rẽ vào xóm thợ đúc trấn Vĩnh An lúc hai giờ sáng mờ mịt khói than và bụi cát từ bờ sông Lạc. Đêm ngày mười lăm tháng chín, tôi tan ca ba ở xưởng ép phôi thép, dắt chiếc xe đạp cọc cạch qua bãi đất hoang phía sau nghĩa địa Cổ Lĩnh. Dưới ánh đèn cao áp vàng vọt, tôi thấy một chiếc kiềng gang ba chân bị đạp lật nghiêng giữa đống tro vàng mã cháy dở.

Nằm lẫn trong lớp tàn tro xám xịt là một đôi đũa.

Chúng làm bằng gỗ mun đen nhánh, bóng loáng, không hề dính một vệt muội than. Thân đũa vuông vức, chuốt thon dần về phía ngọn. Điểm kỳ lạ là hai đầu gắp không bo tròn như đũa ăn thông thường mà được gọt vót nhọn hoắt, sắc bén chẳng khác nào hai mũi chông con. Tôi cúi người nhặt lên. Đôi đũa đầm tay một cách khó hiểu, nặng trịch tựa kim loại nguội ngắt, tỏa ra mùi dầu trẩu thoang thoảng trộn lẫn mùi đất ẩm sau cơn mưa. Nghĩ bụng đũa gỗ tốt có thể để ở phòng trọ dùng ăn cơm hộp, tôi lau chúng vào gấu áo khoác rồi nhét thẳng vào túi ngực.

Ba ngày đầu tiên, không có biến cố nào xảy ra.

Tôi dùng đôi đũa mun để ăn cơm trưa ở căn-tin xưởng và ăn mì gói ban đêm. Mỗi lần đầu đũa nhọn hoắt gắp vào thức ăn, miếng thịt lợn luộc nhạt nhẽo hay cọng rau cải héo úa đều tỏa ra vị béo ngậy lạ thường. Cảm giác trơn tru khi đưa đầu đũa vào khoang miệng khiến tôi thèm ăn liên tục. Tôi bắt đầu ăn gấp đôi khẩu phần mỗi bữa.

Đến ngày thứ bảy, cơn đói chuyển thành một dạng tra tấn thể xác.

Bụng tôi luôn réo lên ùng ục như có một chiếc máy xay hoạt động bên trong dạ dày. Tôi ăn hết ba bát tô cơm lớn nhưng dạ dày vẫn trống rỗng, cồn cào như bị cào xé bằng móc sắt. Tôi bắt đầu lê bước vào chợ rau Vĩnh An sau mỗi ca làm, mua hàng cân thịt lợn sề, giò sống và lòng bò. Về đến phòng trọ, tôi không buồn bắc bếp luộc chín mà cầm đôi đũa mun cắm phập vào tảng thịt sống đỏ lòm, xé từng thớ thịt tái dính đầy máu nhét vào mồm nhai ngấu nghiến.

Dù nạp vào lượng thức ăn khổng lồ, thân thể tôi lại sụt cân nghiêm trọng. Hai gò má tôi hóp sâu, da dẻ xám ngoét, chỉ có phần bụng dưới là phình to bất thường, căng cứng như một cái trống bị nhồi đầy sỏi vụn. Mỗi khi lấy tay ấn vào thành bụng, tôi nghe thấy tiếng lạo xạo bên trong ruột.

Đến ngày thứ mười hai, thức ăn thông thường không còn làm dịu được cơn đói rồ dại.

Nửa đêm hôm ấy, tôi tỉnh dậy giữa sàn nhà nhớp nháp. Đôi đũa mun kẹp chặt giữa các ngón tay gầy guộc đã tróc hết móng. Trước mặt tôi là chiếc đĩa sứ vỡ vụn. Tôi đang cầm đũa gắp từng mảnh gốm sắc nhọn tẩm dầu hỏa đưa vào miệng, nhai rôm rốp như nhai kẹo lạc. Lợi tôi rách toạc, máu tươi ứa ra chảy ròng ròng xuống cằm, nhuộm đỏ vạt áo ngủ nhưng tôi hoàn toàn không thấy đau đớn, chỉ thấy một cảm giác thỏa mãn tanh nồng xộc lên tận đỉnh đầu. Tôi nhìn vào gương: đôi mắt tôi đỏ ngầu, màng mắt đục ngầu tơ máu, cuống lưỡi nổi lên những nốt mụn mủ đen sì, hôi thối như mùi xác chuột chết lâu ngày.

Sáng hôm sau, tôi ôm cái bụng trướng to đau buốt đến mức không thể đứng thẳng, lết từng bước đến tiệm tạp hóa cổ của bà Mận ở đầu phố Huyện.

Bà Mận năm nay đã ngoài bảy mươi, ngồi bên quầy thuốc lào với chiếc cân tiểu ly bằng đồng. Nhìn thấy tôi bước qua bậu cửa, bà buông chiếc quạt nan xuống bàn, ánh mắt dừng lại ở bọc vải tôi đang run rẩy ôm trước ngực và cái bụng nhô cao dưới lớp áo mỏng.

Bà Mận không bảo tôi ngồi. Bà rót một chén nước vôi trong, đẩy về phía tôi:

Uống hết chén này rồi nhổ vào chiếc chậu sành dưới chân.

Tôi run rẩy bưng chén nước vôi nuốt ực một hơi. Vừa trôi qua cổ họng, chất lỏng đốt cháy niêm mạc thực quản, khiến dạ dày tôi co thắt dữ dội. Tôi gập người nôn mửa liên tục vào lòng chậu sành.

Chất dịch tôi nôn ra không phải thức ăn mà là một bùi nhùi đen đặc gồm mạt sắt, lông gà chưa tiêu, than đá vụn và những mảnh đinh rỉ sét lẫn trong dịch mật xanh lè. Nằm giữa đống chất thải nhớp nhúa ấy là hai cọng tóc dài kết thành nút thắt hình chữ thập.

Bà Mận nhìn đống dịch nôn, mặt không biến sắc, dùng đầu gậy gỗ gõ nhẹ vào mép chậu:

Đưa đôi đũa cậu nhặt được ra đây.

Tôi run rẩy mở bọc vải, đặt đôi đũa mun vót nhọn lên mặt bàn gỗ. Ánh nắng ban trưa chiếu rọi nhưng đôi đũa vẫn đen bóng, lạnh ngắt, không hề phản chiếu chút ánh sáng nào.

Bà Mận không đưa tay chạm vào đũa mà lấy một nhúm gạo nếp rắc lên thân gỗ. Những hạt gạo nếp trắng muốt vừa tiếp xúc với lớp gỗ mun lập tức ngả sang màu xám xịt rồi nổ lách tách, cháy đen như bị nung trên chảo gang.

Đây là đũa ghim hồn cắm bát cơm tiễn phạm nhân chết đói thời trước. - Bà Mận cất giọng trầm đục, đều đều giải thích tập tục cũ. - Vùng Hà Nam này xưa kia đói kém, những kẻ chết vì ăn đất sét, ăn vỏ cây rách ruột không thể siêu thoát, oán khí tụ ở miệng. Khi người nhà làm lễ tống tiễn ở ngã ba đường, thầy cúng phải dùng gỗ mun ngâm máu chó mực vót nhọn hai đầu cắm thẳng từ trên xuống đáy bát cơm nguội, đặt trên kiềng ba chân. Đầu nhọn hướng lên trời để ngăn ma đói mở miệng cắn người, đầu nhọn hướng xuống đất để ghim oán khí vào lòng đất. Cậu nhặt đôi đũa đó về, đưa vào miệng mình tức là tự tay tháo cọc ghim, mượn thân xác mình làm bát cơm cúng cho nó ăn ké.

Mồ hôi lạnh vã ra đầm đìa trên trán tôi, bụng lại quặn lên từng cơn đau xé thịt.

Bà ơi... cứu tôi... ruột tôi sắp vỡ rồi...

Đũa đã dính máu miệng mười mấy ngày, không thể vứt bừa bãi. - Bà Mận đứng dậy, đi vào gian sau lấy ra một chiếc nồi đất nung và một túi muối hạt thô. - Nếu vứt xuống sông, ma chết trôi sẽ bám theo. Nếu chôn xuống đất, giun dế ăn phải tà khí sẽ bò vào nhà cắn nát chân tay. Chỉ có một cách là đem trả lại đúng vị trí, thiêu hủy bằng lửa lò rèn trước giờ Ngọ.

Bà Mận dặn tôi chuẩn bị ba cân than hoa, nửa lít dầu trẩu nguyên chất và một bát máu gà trống thiến. Đúng mười một giờ trưa, tôi ôm chiếc nồi đất đựng đôi đũa mun, quay trở lại bãi đất hoang sau nghĩa địa Cổ Lĩnh.

Vị trí chiếc kiềng ba chân lật nghiêng vẫn còn nguyên vẹn, đất xung quanh chuyển sang màu đen quánh như hắc ín. Tôi đào một hố sâu chừng hai gang tay ngay dưới chân kiềng, đổ than hoa và đặt chiếc nồi đất vào giữa. Tôi rưới đẫm dầu trẩu lên đôi đũa mun, sau đó rưới bát máu gà trống tươi bao phủ toàn bộ bề mặt.

Tôi châm lửa.

Ngọn lửa bùng lên màu xanh lét rợn người, tỏa ra mùi tanh tưởi của mỡ người cháy khét lẹt. Trong tiếng củi than nổ lách tách, đôi đũa mun bên trong nồi đất bắt đầu uốn éo, vặn vẹo như hai con rắn đen đang giãy giụa trong chảo dầu sôi. Từ hai đầu vót nhọn, những giọt chất lỏng màu đen rỉ ra, bốc khói nghi ngút kèm theo những tiếng rít the thé chói tai như tiếng răng người nghiến ken két vào nhau.

Tôi đứng trước hố than, nén cơn đau bụng dữ dội, liên tục vốc từng nắm muối hạt thô ném vào ngọn lửa theo lời dặn của bà Mận. Muối nổ bôm bốp. Cứ mỗi nắm muối ném xuống, bụng tôi lại xẹp bớt đi một phần, cảm giác căng trướng do nuốt dị vật dần tiêu tan.

Sau gần một tiếng đồng hồ thiêu đốt dưới nắng gắt, đôi đũa mun cuối cùng cũng nứt toác thành từng mảnh vụn, biến thành lớp tro tàn trắng bệch lẫn trong than củi. Tôi lấp đất chôn chặt cái hố, cắm thẳng chiếc kiềng ba chân lên trên bề mặt rồi cắm đầu chạy một mạch về nhà, không dám ngoái đầu nhìn lại.

Tối hôm đó, tôi ngủ một giấc li bì suốt mười bốn tiếng. Cơn đói cồn cào biến mất hoàn toàn. Bụng tôi trở lại kích thước bình thường, dù cuống họng vẫn còn rát bỏng và những vết rách trong khoang miệng vẫn rỉ máu nhạt.

Tôi tưởng mọi chuyện đã kết thúc êm thấm.

Chập tối hôm sau, khi tôi vừa mở cửa phòng trọ để chuẩn bị đi mua cháo trắng lót dạ, một gói bưu phẩm bọc giấy báo cũ kỹ đã nằm sẵn ngay trước ngưỡng cửa. Bên ngoài không có tem phiếu vận chuyển, không ghi tên người gửi, chỉ có dòng chữ viết bằng mực tàu đỏ thẫm nắn nót: "Gửi người nhặt được".

Tôi tò mò cúi xuống xé lớp giấy báo bọc ngoài.

Bên trong là một chiếc hộp gỗ đào dài chừng một gang tay. Nằm gọn gàng trên lớp lót nhung đỏ đã mục nát là một chiếc lược sừng trâu màu huyết dụ xỉn màu. Răng lược dày đặc, nhọn hoắt, kẹp chặt ở giữa những kẽ răng là những sợi tóc phụ nữ dài đen nhánh, ươn ướt và bốc lên mùi nước hoa xức xác chết nồng nặc khắp hành lang.

Chương khác

Xem thêm