Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 23: Hũ Rượu Ngâm Cốt Rửa Xương

Gốc đa đầu làng Vĩnh An có một hốc rễ lồi lên mặt đất, tạo thành cái hố nông phủ đầy lá mục. Chiều hôm mười sáu tháng bảy âm lịch, trên đường tan ca từ…

Nội dung chương

Gốc đa đầu làng Vĩnh An có một hốc rễ lồi lên mặt đất, tạo thành cái hố nông phủ đầy lá mục. Chiều hôm mười sáu tháng bảy âm lịch, trên đường tan ca từ xưởng cán thép về nhà, tôi nhìn thấy một miệng bình gốm nhô lên giữa đám rêu xanh ẩm ướt.

Miệng bình nhỏ bằng chén uống trà, đậy kín bằng một nút bần bọc sáp ong màu vàng sẫm đã ngả sang đen. Thân bình bằng sành nung thô, cao chừng một gang tay, tráng men da lươn bóng loáng. Tôi gạt lớp đất mùn, nhấc chiếc bình lên. Bình nặng tay, bên trong có tiếng nước sóng sánh nhè nhẹ. Lớp sáp niêm phong quanh cổ bình còn khắc chìm một chữ "Tẩy" bằng lối chữ triện ngoằn ngoèo.

Nghĩ bụng đây là bình rượu thuốc lâu năm ai đó chôn dưới gốc cây để ủ men theo cách truyền thống rồi bỏ quên, tôi nhét nó vào túi xách vải bạt mang về phòng trọ. Tôi hai mươi tám tuổi, làm công nhân đứng máy tiện, quanh năm tích góp từng đồng, thấy rượu ủ lâu năm thì ham, định bụng để dành đến cuối tuần uống thử.

Tối hôm đó, tôi đặt bình sành lên bàn gỗ cạnh đầu giường. Dưới ánh đèn tuýp trắng nhờ nhờ, tôi lấy mũi dao gọt hoa quả cạo lớp sáp bọc miệng bình. Sáp khô vỡ vụn thành từng mảng nhỏ rơi lả tả xuống mặt bàn. Khi mũi dao cạy bật nút bần, một mùi nồng hắc xộc thẳng vào mũi.

Đó không phải mùi rượu nếp hay rượu cao lương thông thường. Mùi này pha trộn giữa cồn thuốc bắc, long não và một mùi tanh ngọt lợ lợ, giống hệt mùi nước ngâm xác động vật trong lọ thủy tinh ở phòng thí nghiệm trường cấp ba ngày trước. Tôi ghé sát mắt nhìn vào lòng bình hẹp. Chất lỏng bên trong có màu vàng hổ phách đục, lơ lửng những cặn bẩn li ti màu xám tro. Nghĩ rằng rượu thuốc để lâu năm bị lắng cặn, tôi đóng chặt nút bần lại rồi đi ngủ, không uống ngụm nào.

Thế nhưng, hậu quả bắt đầu ngấm dần từ đêm hôm đó.

Sau ba ngày, khoang miệng tôi bắt đầu xuất hiện những vết loét tròn viền đỏ. Ban đầu tôi tưởng do mình nóng trong người vì làm ca đêm nhiều, bèn mua vài vỉ thuốc thanh nhiệt về uống. Nhưng thuốc không có tác dụng. Vết loét lan dần xuống vòm họng, chuyển sang màu trắng đục như mủ hoại tử. Mỗi lần nuốt nước bọt, cổ họng tôi buốt rát như bị cọ xát bằng giấy nhám.

Sang tuần thứ hai, tình trạng tồi tệ hơn hẳn. Lồng ngực tôi nặng trĩu, mỗi nhịp thở đều kèm theo tiếng khò khè nghẹt ứ. Mùi hôi thối bắt đầu bốc ra từ hơi thở của chính tôi, nồng nặc mùi tanh lợ hệt như thứ mùi bốc ra từ miệng bình sành hôm mở nút. Tôi soi gương trong nhà vệ sinh, phát hiện nướu răng mình đã tím tái, teo rút lại để lộ chân răng rớm máu đen.

Cơn đau âm ỉ lan từ xương ức xuống vùng bụng trên. Bụng tôi trướng to, cứng ngắc, nhưng mỗi lần đi vệ sinh chỉ thải ra dịch nhầy màu nâu đen sực mùi rữa nát. Cơ bắp toàn thân sụt giảm nhanh chóng. Chiếc áo công nhân cỡ L tôi mặc rộng thùng thình, hai bắp tay teo tóp lộ rõ những đường gân xanh xao nhợt nhạt.

Tôi đến trạm xá trấn chụp X-quang. Bác sĩ cầm tấm phim soi lên bảng đèn, nhíu mày nhìn tôi rồi hỏi: - Cậu uống nhầm hóa chất tẩy rửa công nghiệp à? Toàn bộ niêm mạc thực quản và một phần dạ dày bị viêm loét diện rộng, mô mềm quanh cuống họng đang có dấu hiệu hoại tử cục bộ. Phải lên bệnh viện huyện nội soi sinh thiết gấp.

Tôi cầm tập hồ sơ bệnh án rời trạm xá, bước chân loạng choạng trên con đường đất dẫn vào ngõ sâu. Gió mùa thu thổi qua rặng ngô xào xạc, nhưng mồ hôi trên trán tôi túa ra nhớp nháp, bốc mùi chua nồng.

Đi ngang qua miếu Thổ Địa cũ ở cuối xóm, tôi gặp bà Mận. Bà già chống gậy trúc, trên tay xách rổ lá trầu không. Vừa thấy tôi bước tới cách chừng năm bước chân, bà Mận dừng phắt lại, mũi hếch lên ngửi vào không khí rồi đập mạnh đầu gậy xuống nền gạch vỡ.

Đứng yên đó! - Bà Mận quát, giọng khàn đặc. - Mày vừa đào xới thứ gì ở bãi tha ma hay gốc cây đầu làng về?

Tôi khựng lại, vịn tay vào bức tường rêu, cổ họng rát bỏng khó khăn thốt ra từng tiếng đứt quãng: - Cháu... cháu nhặt được bình rượu sành dưới gốc đa... Mở nút ra ngửi một lần...

Bà Mận bước lại gần, không thèm nhìn vào mặt tôi mà nhìn thẳng xuống lồng ngực đang phập phồng gấp gáp. Bà đưa tay kéo nhẹ mi mắt dưới của tôi xuống xem xét, đoạn chỉ ngón tay khẳng khiu về phía nhà trọ của tôi: - Dẫn tao về chỗ mày ở. Nhanh lên, trễ chút nữa là ruột gan mày mủn ra thành bùn.

Trong căn phòng trọ rộng chưa đầy mười lăm mét vuông, bình sành vẫn nằm im lìm trên bàn. Dù nút bần đã đậy kín, lớp sáp vỡ vụn quanh miệng bình vẫn để rỉ ra một vệt chất lỏng dính dớp màu vàng nhạt, rỉ dài xuống mặt gỗ ép.

Bà Mận không chạm tay vào bình. Bà rút trong túi áo ra một chiếc kẹp tre dài, cẩn thận gắp nút bần vứt vào chiếc bát sứ rỗng, sau đó nghiêng miệng bình soi dưới ánh sáng mặt trời hắt qua khe cửa sổ.

Rượu rửa xương. - Bà Mận gằn giọng. - Đây không phải rượu để người sống uống, cũng chẳng phải rượu ngâm thuốc bổ.

Tôi tựa lưng vào mép giường, ôm bụng thở dốc: - Rượu rửa xương là sao hả bà?

Bà Mận đặt bình sành xuống đất, lùi lại hai bước rồi giải thích: - Lệ làng này từ trăm năm trước, những đứa trẻ chết non dưới mười hai tuổi không được chôn cất vào nghĩa trang dòng họ. Người ta bó chiếu mang ra bãi đất hoang chôn tạm. Sau ba năm, người nhà phải làm lễ cải táng, gọi là lễ nhặt cốt tẩy uế. Xương cốt trẻ con mềm, dễ mủn, người ta dùng rượu cao lương sáu mươi độ nấu với hồi hương, quế chi, hùng hoàng và chu sa để rửa từng đốt xương cho sạch đất cát và hết uế khí.

Bà chỉ đầu gậy vào miệng bình: - Rượu sau khi rửa sạch hài cốt sẽ ngấm toàn bộ dịch thi thể và độc chất tử thi. Theo tục lệ, thứ rượu tẩy uế này phải được niêm phong bằng sáp ong pha bột than, mang chôn sâu dưới gốc cây cổ thụ đầu làng để nhờ rễ cây hút dần độc tính, gửi lại cho đất. Người nhà đứa trẻ khi chôn bình rượu phải khắc chữ Tẩy lên sáp để báo hiệu cho người đời sau không được đào bới. Mày tham của lạ, cạy sáp mở nút, thi khí tích tụ ba mươi năm trong bình thoát ra, xộc thẳng vào ngũ tạng.

Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm lưng áo tôi. Cơn đau quặn thắt từ dạ dày khiến tôi gập người lại, miệng nôn thốc nôn tháo ra một búng dịch màu vàng nhờ nhờ, lẫn những mảnh bọt khí hôi tanh.

Giờ... giờ phải làm sao bà? Cháu đi bệnh viện có chữa được không?

Bệnh viện chỉ chữa được phần thịt hoại tử, không khử được độc thi khí đã ngấm vào tủy. - Bà Mận lấy từ trong túi vải ra một gói vôi bột trắng tinh. - Muốn sống thì phải xử lý cái bình này trước nửa đêm nay. Quá giờ Tý, khi khí âm thịnh nhất, tạng phủ mày sẽ xuất huyết toàn bộ.

Theo lời dặn của bà Mận, tôi cố gượng dậy giúp bà chuẩn bị đồ lễ. Không cần bày bàn thờ cúng bái phức tạp, lệ tiêu hủy bình tẩy uế chỉ cần vật dụng thực tế để triệt tiêu độc tính.

Bà Mận bảo tôi nhóm một bếp than củi đỏ rực ở góc sân sau nhà trọ, nơi thoáng gió. Bà dùng kẹp tre gắp bình sành đặt vào giữa đống than hồng. Sức nóng của lửa than làm lớp men da lươn nứt ra từng vệt chằng chịt, kêu tanh tách. Chất lỏng bên trong sôi ùng ục, bốc lên làn khói màu xám đục mang mùi khét lẹt của da thịt cháy hòa lẫn mùi cồn nồng nặc.

Bà Mận đổ nửa túi vôi bột thẳng vào miệng bình đang sôi. Một tiếng xèo lớn vang lên, khói trắng bốc mù mịt. Vôi bột sôi sục phản ứng với chất lỏng hữu cơ bên trong, tạo thành lớp bùn đặc sệt màu trắng xám trào ra ngoài miệng bình rồi cháy đen trên mặt than.

Đổ giấm thanh vào! - Bà Mận quát.

Tôi run rẩy cầm chai giấm nuôi bằng sành dội thẳng vào đám tro than. Hơi nước chua nồng bốc lên cuốn theo toàn bộ mùi tanh tưởi trôi dạt ra khoảng đất trống sau nhà. Chiếc bình sành chịu nhiệt độ thay đổi đột ngột liền nổ tung thành bốn mảnh vụn, phơi bày đáy bình bám một lớp cặn đen như nhựa đường khô.

Bà Mận dùng xẻng xúc toàn bộ tro than, mảnh gốm vỡ và xác cặn cho vào một bao tải gai dày, rắc thêm một lớp vôi bột dày lên trên rồi buộc chặt miệng bao bằng dây chuối hột.

Mang bao này ném xuống vực sâu bên kia sông Đáy, tuyệt đối không được chôn lại dưới đất làng. - Bà Mận đưa cho tôi một nắm lá ngải cứu khô và củ gừng già. - Về phòng giã nát gừng với ngải cứu, hòa nước sôi uống liên tục trong bảy ngày để tống hết độc thi khí trong ruột ra. Sau đó lên viện huyện cắt lọc phần thịt loét.

Tôi ôm bao tải chạy xe máy suốt hai mươi cây số ra bờ sông Đáy, ném bọc tro tàn xuống dòng nước xoáy sâu thẳm rồi quay về. Đêm đó, tôi uống liền ba bát nước gừng ngải cứu đặc quánh. Cả đêm tôi nằm ôm chậu thau nôn mửa dịch đen, ruột gan đau như bị ai dùng kìm sắt bóp nghẹt. Nhưng đến khi trời rạng sáng, hơi thở của tôi đã bớt mùi tanh hôi, lồng ngực không còn cảm giác đè nặng nghẹt thở như trước.

Hai tuần sau, các vết loét trong vòm họng tôi bắt đầu lên da non nhờ thuốc kháng sinh liều cao của bệnh viện huyện kết hợp với việc độc khí đã tiêu tán. Tôi sụt mất sáu cân thịt, nước da vẫn còn xanh rao, nhưng tính mạng đã giữ được.

Chiều hôm qua, khi tôi quay lại xưởng cán thép làm việc sau nửa tháng nghỉ ốm, Tô Oánh - cô gái làm ở tổ đóng gói - chạy sang tìm tôi. Sắc mặt Tô Oánh trắng bệch, đôi mắt thâm quầng lộ rõ vẻ hoảng loạn.

Cô ấy kéo tôi ra góc hành lang vắng người, run rẩy mở chiếc túi xách cá nhân. Bên trong túi lót một lớp vải nhung đỏ, đặt một con búp bê bằng đất nung nhỏ bằng ngón tay cái, mặt búp bê được vẽ hai con mắt hẹp dài bằng mực tàu đỏ chót, trên trán dán một mẩu giấy ố vàng ghi rõ ngày tháng năm sinh của Tô Oánh.

Anh Bình... - Tô Oánh mếu máo, giọng nghẹn lại. - Sáng nay em quét dọn bàn làm việc, thấy cái này nhét sâu trong ngăn kéo tủ sắt. Em chưa từng mua nó bao giờ. Lúc nãy em lỡ tay làm nứt đầu con búp bê, bên trong rớt ra một lọn tóc dài bện chặt với một chiếc móng tay người nhuộm phẩm tím.

Chương khác

Xem thêm