Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 19: Mặt Nạ Na Hí Hút Máu
Trấn Vĩnh An vào độ cuối thu, gió thổi từ bãi tha ma phía bắc lùa về nồng nặc mùi bùn tanh và cỏ mục. Tôi là Lý Bình, hai mươi tám tuổi, làm công nhân…
Nội dung chương
Trấn Vĩnh An vào độ cuối thu, gió thổi từ bãi tha ma phía bắc lùa về nồng nặc mùi bùn tanh và cỏ mục. Tôi là Lý Bình, hai mươi tám tuổi, làm công nhân bốc vác tại lò gạch cũ ven chân núi Hắc Lâu.
Công việc nặng nhọc, đồng lương còm cõi chỉ đủ tiền mua vài xị rượu đế và bao thuốc lá rẻ tiền. Chiều hôm mười bốn tháng trước, trong lúc đi vệ sinh phía sau bức tường đổ nát của ngôi miếu Thổ Địa hoang, chân tôi vấp phải một khúc gỗ hình bầu dục vùi dưới lớp lá thông khô.
Tôi gạt lớp đất cát bám đầy bề mặt. Đó là một chiếc mặt nạ gỗ Na Hí cổ. Mặt nạ tạc hình một vị thần tướng mặt đỏ râu dài, hai mắt lồi tròn trợn trừng dữ tợn, trán gồ cao với vết nứt chạy dọc từ đỉnh đầu xuống sống mũi, khóe miệng ngoác rộng để lộ hàm răng nanh nhọn hoắt sơn màu trắng đục. Lớp sơn son đỏ thắm trên mặt đã bong tróc từng mảng lớn, để lộ chất gỗ dâu đen sì, nặng trịch và trơn nhẫy dầu mỡ.
Một món đồ thủ công tinh xảo như vậy nếu mang lên chợ đồ cũ trên huyện bán cho mấy tay săn đồ cổ ắt hẳn cũng đổi được vài trăm tệ. Tôi lấy vạt áo lau bớt đất cát, nhét nó vào đáy bao tải đồ nghề rồi vác về căn phòng trọ ẩm thấp nằm ở hẻm sau trấn.
Đêm đầu tiên mang về, tôi đặt mặt nạ lên chiếc bàn con cạnh đầu giường. Ánh đèn tuýp nhấp nháy soi rõ những đường đục chạm gồ ghề. Càng nhìn, gương mặt thần tướng kia càng toát ra vẻ uy nghiêm kỳ dị. Tôi thuận tay cầm lên ốp thử vào mặt mình.
Vừa ốp vào, mặt trong của gỗ truyền đến cảm giác dính ráp khó chịu. Nó vừa khít với khuôn mặt tôi một cách hoàn hảo, không thừa một phân, không thiếu một tấc. Hai hốc mắt khoét sâu mở ra tầm nhìn đỏ quạch màu rỉ sét. Một luồng khí nóng ran lập tức xộc thẳng vào mũi, mùi hương trầm trộn lẫn mùi mỡ động vật ôi thiu bốc lên nồng nặc. Tôi giật mình gỡ nó ra ngay, nhưng da mặt đã rát buốt như vừa áp vào chảo gang nóng.
Tuần đầu trôi qua êm ả, ngoại trừ việc da mặt tôi bắt đầu nổi những nốt mẩn đỏ li ti dọc theo đường viền xương hàm và hai bên thái dương. Tôi mua thuốc mỡ ngoài tiệm tây y bôi nhưng không đỡ. Các nốt đỏ dần chai cứng lại thành từng mảng vảy sừng màu nâu sẫm, khi cạy ra không chảy máu mà chỉ rỉ ra chất dịch vàng đục có mùi khét lẹt.
Sang tuần thứ hai, tình trạng trở nên tồi tệ hơn hẳn.
Xương gò má và xương hàm dưới của tôi đau nhức âm ỉ suốt ngày đêm, cảm giác như có hàng ngàn mũi kim sắt đang gõ lách cách vào tận tủy xương. Mỗi lần soi gương, tôi kinh hãi nhận ra cơ mặt của mình đang dần biến dạng. Hai gò má nhô cao vống lên, sống mũi bè ra và gãy gập, khóe miệng tự động kéo xếch sang hai bên thành một nụ cười cứng đờ, gượng gạo. Đôi mắt tôi đỏ ngầu, nhãn cầu lồi hẳn ra ngoài hốc mắt.
Tệ nhất là chiếc mặt nạ gỗ trên bàn. Dù tôi không hề chạm vào, lớp sơn son bong tróc của nó ngày càng trở nên tươi mới, đỏ thắm và bóng nhẫy như vừa được quét một lớp máu tươi. Mặt trong của nó mọc ra tua tủa những sợi tơ gỗ li ti màu đen, ngoe nguẩy trong không khí tựa hồ những chiếc rễ cây đang khát nước.
Đêm thứ mười bốn, tôi tỉnh giấc vì một cơn co giật dữ dội. Tay tôi tự cử động ngoài tầm kiểm soát của não bộ. Những ngón tay cứng đờ vươn sang bàn, chộp lấy chiếc mặt nạ gỗ và ấn thẳng vào mặt.
Rắc.
Một tiếng động giòn tan vang lên trong hộp sọ. Những sợi rễ gỗ đen nhánh ở mặt trong lập tức đâm xuyên qua lớp da thịt mưng mủ, cắm phập vào các lỗ chân lông, luồn lách qua các khe hở của xương sọ rồi bám chặt lấy màng xương mặt.
Tôi gầm lên đau đớn, hai tay cố sức bấu chặt vào mép gỗ nhằm giật chiếc mặt nạ ra. Cơn đau thấu trời xé toạc từng mảng da thịt. Khi tôi dùng hết sức kéo mạnh, lớp da mặt tróc theo thớ gỗ, máu tươi xối xả chảy xuống cổ họng làm tôi nghẹn thở. Chiếc mặt nạ đã hoàn toàn dính liền vào đầu tôi, trở thành một phần của khuôn mặt.
Tôi hoảng loạn chạy thục mạng trong màn đêm, gõ cửa căn nhà gỗ cũ kỹ ở cuối đường Tây Trấn. Đó là nơi ở của bà Mận, người phụ nữ già chuyên giải quyết những chuyện kiêng kỵ trong vùng.
Cửa mở. Bà Mận cầm chiếc đèn bão bước ra. Nhìn thấy tôi, bà không lùi lại mà nhanh chóng tóm lấy cổ tay tôi, kéo mạnh vào trong nhà rồi cài chặt then cửa gỗ.
Bà Mận đặt ngọn đèn bão lên bàn, với tay lấy cây kéo sắt nhúng vào bát giấm thanh đặt sẵn trên kệ. Bà bảo tôi ngồi xuống ghế đẩu, giữ chặt hai vai tôi rồi cúi sát mặt để quan sát.
Đừng cựa quậy. Càng giãy thì rễ gỗ càng đâm sâu vào tủy.
Đầu kéo sắt lạnh buốt chọc vào khe hở giữa lớp gỗ và mang tai tôi. Một dòng mủ trắng lẫn máu đỏ thẫm xịt ra ngoài, bốc mùi hôi thối nồng nặc giống như xác chuột chết lâu ngày trong cống rãnh. Bà Mận dùng nhíp sắt kẹp lấy một đoạn rễ cây màu đen vừa bị cắt đứt, thả vào đĩa sứ trắng. Đoạn rễ gỗ dài khoảng hai đốt ngón tay, ngo ngoe vài nhịp rồi tiết ra một chất dịch màu đen quánh đặc, ăn mòn lớp men sứ xèo xèo.
Bà Mận lau sạch kéo sắt bằng vải thô tẩm rượu, giọng trầm đục:
Cậu nhặt được vật này ở miếu Thổ Địa hoang sau lò gạch phải không?
Tôi gật đầu trong đau đớn, khóe miệng méo xệch phát ra những âm thanh ậm ừ đứt quãng từ sau lớp gỗ cứng.
Đây là mặt nạ Thần Tướng Trấn Sát dùng trong nghi lễ Na Hí cổ xưa. - Bà Mận giải thích, tay cầm chiếc đĩa sứ chứa rễ gỗ lên soi dưới ánh đèn. - Gỗ này là lõi dâu sét đánh, được ngâm trong máu chó mực và nhựa cây sơn sống ba năm bảy tháng. Người xưa tạc mặt nạ hung dữ để dọa quỷ trừ tà, mượn uy thần tướng để áp chế chướng khí vùng rừng sâu. Nhưng lệ cổ quy định: người đeo mặt nạ phải ăn chay niệm giới, sau khi xong lễ phải làm phép giải tướng, thiêu bỏ hoặc phong ấn trong hòm đá có rải vôi bột.
Bà Mận chỉ vào vết nứt dài chạy dọc trán chiếc mặt nạ:
Ngôi miếu kia bị bỏ hoang nhiều năm, chiếc mặt nạ này hứng trọn tà khí của bãi tha ma xung quanh nhưng không được cúng tế giải tướng. Khí sát tích tụ lâu ngày phản phệ vào thớ gỗ, biến vật trừ tà thành vật hút hồn. Gỗ dâu ngâm máu gặp hơi ấm da thịt người sống sẽ tự động đâm chồi, cắm rễ vào khung xương để hút tủy nuôi mộc khí. Cậu nhặt nó về, lại còn tự tiện ốp lên mặt, đó là tự mình ký vào khế ước làm vật chủ cho nó.
Tôi run rẩy chỉ vào mặt mình, nước mắt chảy ra lẫn với máu tươi rát bỏng.
Gỡ ra bằng sức người thì toàn bộ da thịt trên mặt cậu sẽ bị xé nát theo, rễ gỗ đứt ngậm trong xương sọ sẽ tiếp tục mọc ngược vào não bộ. Chỉ có một cách duy nhất theo lệ cổ: Ép thần tướng xuất hồn bằng hỏa sát cực dương, sau đó bứng toàn bộ gốc rễ đem đi chôn tại đất lò gạch đang cháy.
Bà Mận không chậm trễ, bước vào gian bếp phía sau bưng ra một chậu than củi gỗ dâu đang cháy đỏ rực. Bà rải lên mặt than một lớp bột lưu huỳnh trộn lẫn ớt khô xay mịn và vôi sống. Khói trắng bốc lên cuồn cuộn, mang theo mùi cay nồng nghẹt thở.
Bà bắt tôi cúi gập người, úp toàn bộ khuôn mặt gỗ vào sát miệng chậu than, cách chừng nửa gang tay.
Cắn chặt thanh tre này, tuyệt đối không được hít khói vào phổi!
Bà nhét một thanh tre dày vào hàm răng tôi. Cơn nóng rát khủng khiếp từ chậu than bốc thẳng lên lớp sơn son. Mùi lưu huỳnh và ớt khô bốc cháy khiến mắt tôi cay xè, nước mắt trào ra như suối.
Dưới tác động của nhiệt độ cao và hơi cay nồng, lớp gỗ dâu bắt đầu co rút lại. Những tiếng xèo xèo vang lên liên hồi như thịt mỡ rơi vào chảo dầu. Lớp sơn son đỏ thắm trên mặt nạ nổi bong bóng rồi vỡ tung, chảy ra những giọt nhựa đen kịt rớt xuống than hồng kêu lách tách.
Cùng lúc đó, những sợi rễ gỗ đang cắm sâu trong xương mặt tôi bắt đầu quằn quại dữ dội vì sức nóng. Cơn đau buốt nhói chạy dọc từ thái dương xuống quai hàm khiến toàn thân tôi co giật kịch liệt. Bà Mận dùng một đôi kìm sắt dài kẹp chặt lấy hai bên mép mặt nạ, hô lớn:
Rễ gỗ đang nhả xương, chịu đựng thêm một chút!
Bà Mận dồn toàn lực vào hai cánh tay, xoay nhẹ kìm sắt sang hai bên rồi giật mạnh về phía trước.
Phập!
Một âm thanh đứt gãy ướt át vang lên trong đầu tôi. Chiếc mặt nạ gỗ bị bứt tung ra khỏi khuôn mặt, kéo theo hàng trăm sợi rễ đen nhánh dài ngoằng dính đầy mủ và máu tươi. Tôi ngã gục xuống nền đất lạnh, hai tay ôm lấy khuôn mặt rách nát, bỏng rát đến mức không thể thở nổi.
Bà Mận nhanh tay ném chiếc mặt nạ vào sâu trong chậu than đang rực lửa. Chiếc mặt nạ gỗ giãy giụa trong ngọn lửa như một sinh vật sống, các thớ gỗ co giật và phát ra những tiếng rít the thé chói tai khi lớp nhựa cây bị thiêu rụi.
Sau mười lăm phút, chiếc mặt nạ chỉ còn là một khối than đen vụn nát. Bà Mận xúc toàn bộ tro tàn và than hoa đổ vào một chiếc hũ sành dày, rải thêm một lớp vôi sống lên trên rồi đậy nắp, dùng dây thừng gai quấn chặt ba vòng.
Cầm lấy hũ này, chạy ngay về lò gạch nơi cậu làm việc. - Bà Mận vừa băng bó vết thương trên mặt tôi bằng vải gạc ngâm thảo dược vừa căn dặn nghiêm giọng. - Ném thẳng hũ sành này vào buồng đốt trung tâm của lò nung đang chạy ở nhiệt độ cao nhất. Tro tàn của nó phải bị nung thành xỉ gạch thì rễ gỗ mới hoàn toàn triệt tiêu. Đi ngay trước khi trời sáng.
Tôi ôm chiếc hũ sành còn nóng hôi hổi, cắm đầu cắm cổ chạy băng qua những con ngõ tối tăm của trấn Vĩnh An để quay lại lò gạch cũ. Gió đêm quất vào lớp băng gạc trên mặt rát buốt, nhưng tôi không dám dừng chân dù chỉ một giây.
Đến được khu lò nung trung tâm, nơi ngọn lửa đỏ rực đang gầm rú suốt ngày đêm, tôi lấy hết sức bình sinh ném chiếc hũ sành qua cửa tiếp than. Chiếc hũ rơi thẳng vào biển lửa ngàn độ, vỡ tan tành và chìm nghỉm dưới lớp than đá rực hồng.
Tôi ngồi bệt xuống đống xỉ than nguội ngắt bên ngoài, kiệt sức thở dốc. Khuôn mặt dưới lớp băng vẫn đau nhức âm ỉ, nhưng cảm giác ngứa ngáy và sự co giật trong xương sọ đã hoàn toàn biến mất.
Trời tảng sáng, tôi lững thững đi về phía bãi gửi xe của công nhân để lấy chiếc xe đạp cũ.
Khi đi ngang qua bãi đất trống phía sau lò nung, ánh mắt tôi chạm phải một vật thể lạ nằm lẫn trong đống phế liệu kim loại vừa được xe tải chở về từ bãi rác ngoại ô. Đó là một chiếc kéo thợ may bằng sắt đã gỉ sét loang lổ, hai quai cầm của nó được bọc kín bằng những lớp chỉ ngũ sắc tết hình mắt cáo tinh xảo, trên mũi kéo còn găm chặt một chiếc cúc áo bằng đồng cổ dính vệt máu khô màu đen sẫm. Một sợi chỉ đỏ dài từ mũi kéo đang từ từ luồn lách qua lớp sỏi đá, hướng thẳng về phía mũi giày của tôi.