Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 15: Hình Nhân Điểm Nhãn Lột Da

Đêm ngày mười bảy tháng bảy âm lịch, trời trấn Vĩnh An đổ mưa phùn rả rích suốt sáu tiếng đồng hồ. Tôi tan ca ba ở xưởng ép gạch lúc hai giờ sáng, đạp…

Nội dung chương

Đêm ngày mười bảy tháng bảy âm lịch, trời trấn Vĩnh An đổ mưa phùn rả rích suốt sáu tiếng đồng hồ. Tôi tan ca ba ở xưởng ép gạch lúc hai giờ sáng, đạp chiếc xe cà tàng men theo con ngõ đất phía sau lò hỏa táng cũ để về nhà trọ. Bánh xe lún sình đặc quánh, đèn pin gắn đầu xe leo lét rọi từng vệt vàng vọt lên chân tường gạch vỡ.

Ở khúc cua hẹp sát miếu Thổ Địa hoang, một bóng trắng nhỏ dựng đứng ngay mép cống thoát nước đập vào mắt tôi.

Đó là một con hình nhân giấy cao chừng năm mươi phân, mô phỏng hình dạng bé trai mặc áo gấm đỏ viền vàng, hai má dán giấy hồng tròn trĩnh. Điều kỳ lạ là toàn thân nó khô ráo, không dính một giọt nước mưa dù đặt ngoài trời đất ẩm. Nan tre bên trong uốn rất khéo, khung sườn cân đối, lớp giấy xuyến chỉ dán kín không để lộ một mối nối hồ nào. Đáng chú ý nhất là đôi mắt của nó. Người thợ mã đã dùng bút lông chấm hai giọt mực tàu đen đặc vào tròng mắt, tạo thành con ngươi tròn xoe, đen nhánh và bóng loáng.

Tôi đứng nhìn hình nhân mất năm phút. Nghĩ bụng đứa trẻ con nhà ai làm rớt hoặc thợ mã đánh rơi trên đường chở hàng đi cúng, bỏ ngoài ngõ bùn lầy thì phí công người vót tre tỉ mẩn, tôi cúi người nhấc nó lên, kẹp vào giá đèo hàng phía sau rồi đạp xe về phòng trọ.

Căn phòng trọ của tôi nằm cuối dãy nhà cấp bốn ẩm thấp. Đem hình nhân vào phòng, tôi đặt nó lên nóc tủ gỗ ép đối diện giường ngủ, dự định hôm sau mang ra xưởng hỏi xem có công nhân nào làm rơi thì trả lại.

Ba ngày đầu tiên, không có chuyện bất thường xảy ra ngoài việc mùi hồ dán nếp bốc lên nồng nặc trong phòng. Mỗi lần mở cửa bước vào, mùi bột chua lên men trộn lẫn mùi dầu trẩu quét nan tre xộc thẳng vào cánh mũi. Tôi bận tăng ca nên quên bẵng việc mang hình nhân đi hỏi.

Sang ngày thứ sáu, tôi phát hiện lớp giấy bồi trên mặt hình nhân bắt đầu đổi màu. Phấn trắng quét trên mặt giấy ngả dần sang màu da người, hồng hào và hơi bóng dầu. Cùng lúc đó, bắp tay phải của tôi bắt đầu xuất hiện những vệt ngứa ngáy dữ dội. Tôi gãi mạnh, từng mảng da khô tróc ra như vảy cá, để lộ lớp thịt non đỏ hỏn rớm nước vàng.

Đến ngày thứ mười, biến đổi vật lý trên cơ thể tôi tiến triển với tốc độ đáng sợ.

Mỗi buổi sáng thức dậy, ga trải giường đều dính đầy những mảnh da người khô ráp, mỏng dính, rụng ra từ hai cánh tay và vùng ngực của tôi. Những mảng da bị tróc có hình chữ nhật vuông vức, kích thước đều tăm tắp, đúng bằng bề rộng của những mảnh giấy dán trên thân hình nhân. Cánh tay tôi đau rát buốt buốt, mất cảm giác với nhiệt độ nóng lạnh, các đầu ngón tay khô cứng lại, gập vào duỗi ra đều phát ra tiếng lạo xạo bên trong khớp xương.

Ngược lại, hình nhân trên nóc tủ lại mềm ra.

Đêm ngày thứ mười hai, tôi tỉnh giấc vì tiếng lách cách phát ra từ nóc tủ gỗ. Tôi bật đèn pin điện thoại soi lên. Hai cánh tay bằng nan tre của hình nhân đã gập lại, lớp giấy bồi bọc ngoài không còn khô cứng mà phập phồng theo từng nhịp thở của tôi. Đôi mắt vẽ bằng mực tàu đen láy ươn ướt, phản chiếu ánh đèn pin thành hai đốm sáng màu đỏ quạch. Dưới chân hình nhân, một vệt dịch màu vàng nhạt rỉ ra từ khung tre, chảy dài xuống cánh cửa tủ gỗ, bốc mùi tanh nồng của huyết thanh người.

Tôi hoảng loạn đưa tay sờ lên mặt mình. Da trán và hai bên gò má của tôi đã bong tróc hoàn toàn, sần sùi và căng cứng. Tôi soi gương, cả khuôn mặt tôi trắng bệch, hai bên má ửng đỏ hai vệt tròn xoe do xuất huyết dưới da, y hệt hai miếng giấy hồng dán trên mặt con hình nhân giấy.

Sáng hôm sau, tôi không thể gập ngón tay để cầm nắm dụng cụ làm việc. Tôi nhét vội hình nhân vào bao tải dứa, đón xe ôm chạy thẳng đến tiệm tạp hóa cổ của bà Mận ở đầu trấn Vĩnh An. Tô Oánh, cô gái từng thoát chết sau vụ búp bê sứ tháng trước, đang ngồi phụ bà Mận nhặt lá ngải cứu khô ngoài hiên.

Nhìn thấy bộ dạng quấn kín khăn len giữa trời nắng của tôi, bà Mận buông nắm lá xuống nia, ngoắc tay bảo tôi vào gian nhà sau.

Tôi cởi khăn trùm đầu, đặt bao tải dứa lên bàn gỗ rồi trút hình nhân ra.

Lúc này, lớp da bọc trên khung tre của hình nhân đã dày lên rõ rệt. Khi rơi xuống mặt bàn, nó không phát ra tiếng lạch cạch của nan tre khô mà phát ra âm thanh mềm nhũn, nặng trịch của thịt da rơi trên phản gỗ. Trên ngực hình nhân, một mảng biểu bì người dính chặt vào giấy, chân lông li ti còn nguyên vẹn, đối chiếu chuẩn xác với vết lột da hình chữ nhật đang rỉ máu trên lồng ngực tôi.

Bà Mận không chạm tay vào hình nhân. Bà lấy que sắt gạt nhẹ mí mắt bằng giấy của nó lên. Đôi mắt mực tàu lập tức đảo nhẹ sang hướng cây que sắt.

Bà Mận chỉ tay vào vệt mực đen đọng máu ở khóe mắt hình nhân, cất giọng khàn đặc:

Thợ làm đồ mã có một đại kỵ truyền đời: không bao giờ được phép điểm nhãn cho hình nhân trước khi đưa vào lò lửa. Khi làm khung, dán giấy, vẽ mặt, hai hốc mắt phải để trắng hoàn toàn. Chỉ khi thân quyến người chết đem ra mộ hoặc lò hóa vàng, người ta mới dùng bút lông chấm một giọt mực để mở mắt, đưa linh hồn đi theo khói lửa xuống cõi âm. Con hình nhân này đã bị người thợ chấm mực trước khi đem bán, nhưng vì lý do nào đó lại bị vứt bỏ bên ngoài.

Tôi nuốt nước bọt, cổ họng khô khốc:

Điểm nhãn trước thì có chuyện gì xảy ra?

Bà Mận dùng que sắt ấn vào khớp ngón tay của hình nhân:

Mực tàu một khi chấm vào giấy xuyến chỉ là mở linh thức cho vật vô tri. Khung tre có mắt thì muốn nhìn, có mũi thì muốn thở, có miệng thì muốn ăn. Nó không được đốt thành tro để thoát xác, trơ trọi giữa trời đất thì phải tự tìm cách thành hình. Cậu nhặt nó về phòng, hơi người hun đúc mỗi đêm, nó sẽ hút lấy phần da thịt của cậu để đắp vào khung tre của nó. Cậu nhìn cánh tay mình xem, da rụng từng mảng theo đúng vết cắt của giấy bồi. Khi nào toàn bộ da trên người cậu tróc hết bọc lấy khung tre, nó sẽ thành người sống, còn cậu sẽ chỉ là một cái xác rỗng ruột khô như que củi.

Tôi run rẩy nhìn xuống hai bàn tay đã biến thành màu xám tro, từng mảng vảy da khô cứng bắt đầu nứt toác, rỉ dịch vàng ướt đẫm tay áo:

Giờ phải làm cách nào để lột nó ra khỏi người tôi?

Nó chưa mọc xong tim phổi, vẫn sợ lửa và vôi sống. Nhưng không được đốt bằng lửa thường trong bếp, giấy cháy hết thì da thịt cậu cũng hoại tử theo.

Bà Mận đứng dậy, đi vào góc nhà lấy ra một xô nhựa đựng nước vôi tôi đặc quánh, một bọc tiền âm phủ làm bằng giấy bản thô và một bó cành dâu tẩm dầu hỏa.

Bà dặn dò từng bước:

Cầm lấy những thứ này, mang con hình nhân ra ngã ba bãi tha ma phía đông trấn trước mười hai giờ trưa. Đào một cái hố sâu hai gang tay, rải tiền âm phủ lót đáy, đặt hình nhân nằm ngửa mặt lên trời. Dùng cành dâu châm lửa đốt từ hai bàn chân nó lên. Khi lửa cháy đến bụng, đổ trọn xô nước vôi tôi này vào hố để dập lửa và khóa chặt nan tre. Tuyệt đối không được quay đầu nhìn lại cho đến khi về tới phòng trọ.

Tôi ôm bao tải và xô vôi, tức tốc bắt xe ra bãi tha ma phía đông trấn Vĩnh An. Trời đứng bóng, nắng gắt rọi xuống những bia mộ xi măng nứt nẻ.

Tôi dùng xẻng đào một hố sâu đúng hai gang tay dưới gốc cây du già. Khi tôi mở bao dứa lôi hình nhân ra, hai bàn tay bằng nan tre bọc da người của nó đã quặp chặt lấy mép bao, các khớp xương phát ra tiếng ken két khô khốc. Tôi phải dùng hết sức mới giật đứt được các sợi nan tre đang bám dính vào lớp vải bố.

Tôi đặt nó nằm ngửa dưới hố trên lớp tiền âm phủ màu vàng xỉn. Đôi mắt mực tàu trừng trừng nhìn thẳng vào mặt tôi, khóe mắt ứa ra một giọt chất lỏng màu đen sệt nhỏ xuống lớp giấy bản.

Tôi châm lửa vào bó cành dâu rồi dí thẳng vào hai bàn chân hình nhân. Lửa bắt vào dầu hỏa bùng lên ngùn ngụt, mùi da thịt cháy khét lẹt xộc lên nồng nặc lấn át cả mùi dầu trẩu. Cùng lúc ngọn lửa táp vào chân hình nhân, hai bắp chân tôi nhói buốt dữ dội như có hàng trăm mũi kim nung đỏ đâm xuyên qua thấu tận xương tủy. Tôi nghiến chặt răng, chịu đựng cơn đau buốt xé thịt.

Lửa liếm dần lên ngực hình nhân, những mảng da bọc ngoài khung tre bắt đầu co rút, sùi bọt trắng rồi cháy đen thành than. Ngay khi ngọn lửa chuẩn bị lan đến cằm của nó, tôi nhấc xô nước vôi tôi đặc quánh trút thẳng xuống hố.

Xèo một tiếng chói tai, khói trắng bốc lên mù mịt mang theo mùi vôi sống hăng nồng. Đống tro tàn, nan tre và chất dịch nhờn bị vôi đặc chôn vùi hoàn toàn dưới đáy hố.

Cơn đau buốt trên hai chân và cánh tay tôi lập tức dừng lại. Tôi lấp đất chôn chặt cái hố, quay lưng rảo bước một mạch rời khỏi bãi tha ma, không dám liếc nhìn lại phía sau một lần nào.

Trở về phòng trọ, tôi cởi áo kiểm tra. Lớp da khô ráp trên người không còn tróc thêm mảng nào nữa. Những vết thương hở bắt đầu khô miệng, tạo thành lớp vảy đen cứng cáp. Không khí trong phòng đã sạch mùi hồ dán nếp ôi thiu. Tôi nằm vật ra giường ngủ thiếp đi sau gần hai tuần bị hành hạ thể xác.

Năm ngày sau, các mảng vảy đen trên người tôi tróc dần, lớp da mới mọc lên hồng hào bình thường. Tôi quay trở lại xưởng gạch làm việc ca sáng.

Trưa hôm đó, nhân viên bưu tá giao đến xưởng một kiện hàng chuyển phát nhanh bọc giấy xi măng, người nhận ghi tên Lý Bình. Không có tên, số điện thoại hay địa chỉ của người gửi, chỉ có con dấu bưu cục đóng từ một huyện miền núi thuộc tỉnh Sơn Tây.

Tôi mang gói hàng vào phòng nghỉ công nhân, dùng dao rọc giấy cắt lớp băng dính bên ngoài.

Bên trong hộp carton lót đầy rơm khô là một cây bút lông cán trúc đã mòn vẹt đầu, lông cọ còn ướt đẫm một loại mực màu đỏ tươi mùi tanh như máu. Nằm ép bên dưới cây bút là một miếng da người hình vuông đã thuộc khô, kích thước bằng bàn tay, trên mặt da vẽ sẵn hình một con mắt mở to nhưng phần con ngươi chính giữa vẫn còn để trống.

Chương khác

Xem thêm