Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 13: Kéo Buộc Chỉ Trắng Cắt Mạng
Xó chợ Cũ trấn Vĩnh An vào ngày rằm tháng Chạp bốc lên mùi bắp cải thối ủng lẫn nước tro than tổ ong. Lối đi hẹp giữa hai dãy lều tôn ẩm ướt lầy lội,…
Nội dung chương
Xó chợ Cũ trấn Vĩnh An vào ngày rằm tháng Chạp bốc lên mùi bắp cải thối ủng lẫn nước tro than tổ ong. Lối đi hẹp giữa hai dãy lều tôn ẩm ướt lầy lội, tràn ngập bao tải rách và cọng rơm khô. Tôi xách túi đồ nghề của xưởng dệt bao bì đi ngang qua bãi tập kết phế liệu ở góc tường hoa của hợp tác xã cũ, chân dẫm phải một vật kim loại cứng ngắc dưới lớp bùn nhão.
Cúi xuống gạt lớp vỏ trấu mục, tôi nhặt lên một chiếc kéo bấm chỉ bằng thép rèn thủ công. Thân kéo dài chừng mười lăm phân, nước thép đen kịt không một vết rỉ sét, phần sống thép dày và nặng hơn hẳn các loại kéo bấm của thợ may thông thường. Hai phần tay cầm được quấn chặt bằng nhiều vòng chỉ sợi bông màu trắng thô ráp, mép sợi chỉ ngả sang màu vàng vôi, bám đầy một lớp bột khô màu xám tro. Thử bóp nhẹ hai ngón tay, hai lưỡi kéo khép lại phát ra tiếng "tách" đanh gọn, bén ngọt đến mức làm đứt đôi một sợi rơm mục đang bay lơ lửng trong gió.
Ở xưởng số 3, cánh thợ dệt chúng tôi luôn thiếu kéo cắt sợi gai. Kéo nhà máy cấp phát thường xuyên bị mẻ lưỡi hoặc cùn vẹt. Tôi lau sạch đất cát dính quanh thân kéo vào ống quần bò, nhét nó vào túi áo ngực rồi đi thẳng về khu tập thể công nhân.
Bảy ngày đầu tiên, chiếc kéo rèn đen bóng trở thành công cụ đắc lực nhất trên bàn máy của tôi. Lưỡi thép sắc lịm, bấm các loại dây đay, bao bố dày tám lớp nhẹ nhàng như cắt qua nước lã. Nhưng bắt đầu từ ngày thứ tám, thân thể tôi liên tục phát sinh những tai nạn kỳ quặc.
Đầu tiên là ngón tay cái bên trái. Trong lúc gập mép bao bì bằng giấy kraft cứng, mép giấy trượt qua đầu ngón tay. Lớp biểu bì bị cắt một đường thẳng tắp sâu đến tận màng xương. Máu tươi không rỉ từng giọt mà phun thành tia nhỏ, bắn tung tóe lên mặt bàn gỗ. Tôi lấy băng gạc cá nhân quấn chặt ba vòng, nhưng máu lập tức thấm đỏ rực lớp bông, chảy ròng ròng xuống cổ tay. Bác sĩ ở phòng y tế xưởng phải dùng dung dịch cầm máu cực mạnh rắc lên miệng vết thương, ép chặt suốt hai mươi phút thì mạch máu mới tạm thời khép miệng.
Bác sĩ nhìn vết thương của tôi bằng ánh mắt ngờ vực: - Cậu bị mép giấy cứa mà đứt cả nhánh tiểu động mạch. Thành mạch máu của cậu mỏng bất thường, hệt như sợi chỉ mục bị kéo đứt vậy.
Ba ngày sau, tai họa thứ hai ập đến. Khi tôi đang căn chỉnh trục cuốn sợi số 4, một sợi cước nilon siêu bền bị kẹt trong rãnh trượt đứt phựt. Đầu sợi cước quất ngang mu bàn chân phải của tôi qua lớp giày vải bảo hộ. Cú va chạm rạch toạc lớp da mu bàn chân, để lộ đường gân trắng bệch và cắt đứt tĩnh mạch nông. Máu đỏ sẫm trào ra sàn xi măng, đọng thành vũng lớn dưới chân máy dệt.
Vết thương lần này mất năm ngày nằm trạm xá, khâu tổng cộng sáu mũi chỉ y tế. Điểm kỳ lạ nhất là mép thịt xung quanh vết khâu không hề sưng đỏ theo phản ứng viêm tự nhiên mà trắng bợt, trơn nhẵn như bị một lưỡi kéo vô hình gọt giọt từng thớ cơ.
Đến đêm thứ mười bốn, biến cố đáng sợ nhất xảy ra ngay trong phòng trọ của tôi.
Nửa đêm, tôi thức giấc vì nghe thấy tiếng lách cách kim loại vang lên đều đặn. Âm thanh "tách... tách... tách..." phát ra từ chiếc bàn con kê sát đầu giường. Căn phòng ngập tràn mùi khét lẹt của sáp nến trộn lẫn mùi dầu tràm ướp xác nồng nặc.
Tôi với tay bật công tắc đèn tuýp. Ánh sáng trắng lạnh phủ khắp phòng.
Chiếc kéo bấm chỉ sắt đen kịt đang nằm giữa bàn, nhưng cuộn chỉ trắng tang lễ quấn quanh chuôi kéo đã tự tháo tung ra từ lúc nào. Đầu sợi chỉ màu vàng ố trườn từ mép bàn xuống sàn gạch men, quấn ba vòng siết chặt quanh ngón chân trỏ bên trái của tôi. Lực siết mạnh đến mức sợi chỉ lún sâu vào da thịt hơn hai milimét. Máu tươi từ rãnh siết rỉ ra đỏ lòm, nhuộm đỏ toàn bộ đoạn chỉ bông thô ráp.
Hai lưỡi thép của chiếc kéo tự động mở rộng hết cỡ, hướng thẳng về phía giường tôi nằm.
Tôi dùng hết sức giật tung sợi chỉ khỏi ngón chân. Đốt ngón chân bị cứa một vòng tròn sâu hoắm, máu phun ướt sũng ga trải giường. Cơn đau buốt từ xương tủy truyền thẳng lên đỉnh đầu. Nhận ra chiếc kéo này không phải vật dụng bình thường, tôi lấy kẹp sắt gắp nó bỏ vào một chiếc hộp bánh quy bằng thiếc, quấn băng dính kín miệng hộp, sau đó tức tốc đạp xe đến ngõ Tây trấn Vĩnh An tìm bà Mận.
Căn nhà cấp bốn của bà Mận nằm sâu sau rặng tre cộc. Đèn dầu trong gian nhà chính vẫn sáng leo lét.
Bà Mận mặc chiếc áo bà ba màu chàm, ngồi sau tấm phản gỗ lim bày đầy các vị thuốc nam khô khốc. Khi tôi đặt chiếc hộp thiếc dính máu lên bàn và mở nắp, bà Mận lập tức đẩy chậu nước tro lại gần, không dùng tay chạm trực tiếp mà lấy một que tre vót nhọn gạt chiếc kéo ra ngoài.
Bà Mận cúi sát mắt, nhìn kỹ vào rãnh chốt tán đinh ở giữa hai nhánh thép. Sau đó, bà lấy móng tay cạo nhẹ lớp cặn bẩn bám ở phần gốc lưỡi kéo. Một vệt bột màu trắng đục pha lẫn mỡ đóng cục tróc ra, tỏa mùi hôi thối nồng nặc của thi thể phân hủy lâu ngày.
Bà Mận gõ đầu ngón tay khẳng khiu xuống mặt phản: - Đây là kéo may mắt của thợ khâm liệm vùng sông Vị. Mày nhặt ở góc chợ Cũ đúng không?
Tôi gật đầu lia lịa, tay phải vẫn đang dùng khăn siết chặt ngón chân đang rỉ máu: - Cháu thấy nó còn bén quá nên nhặt về xưởng cắt bao bì.
Người chết khi tắt thở, có những kẻ chết oan hoặc chết bệnh nặng, mắt không chịu nhắm, môi co quắp để lộ hàm răng. Thợ khâm liệm thời xưa phải dùng sợi chỉ trắng thô nhúng nước vôi, dùng chiếc kéo bấm rèn bằng sắt đáy lò này để cắt chỉ, may liền hai mí mắt và khâu hai khóe môi người chết lại trước khi nhập quan.
Bà Mận lật mặt sau của chiếc kéo lên, để lộ ba vết khắc hình vảy cá li ti trên sống thép: - Mỗi vết khắc này đại diện cho một xác chết từng bị cắt chỉ mạng. Sợi chỉ trắng quấn quanh chuôi là chỉ đoạn mệnh, dùng để trói giữ tử khí không cho bốc ngược vào tay thợ may. Người ta vứt nó ra ngã ba đường hoặc xó chợ cũ là để xả nghiệp sát cho người thợ liệm lúc về già. Mày mang nó về nhà, thân thể mày sẽ nhận toàn bộ tử khí cắt mạch. Huyết quản trong người mày bây giờ giống như sợi chỉ khâu trên mặt xác chết, chạm nhẹ là đứt, cứa nhẹ là toác miệng. Mày giữ nó thêm ba ngày nữa, mạch máu lớn ở cổ mày sẽ tự nứt đôi khi mày đang ngủ.
Tôi run rẩy nhìn vết máu đang thấm đẫm chiếc khăn dưới chân: - Giờ phải làm cách nào để tống khứ nó đi hả bà? Vứt xuống sông có hết không?
Vứt xuống nước thì mạch máu mày vỡ bung ra vì úng thủy. Phải triệt tiêu sát khí trên lưỡi thép trước khi hạ thổ.
Bà Mận đứng dậy, đi vào chái bếp mang ra một chiếc chậu bằng đồng đỏ gỉ xanh. Bà đổ vào chậu một bát giấm nuôi chua loét và hai vốc vôi sống tán nhỏ. Hỗn hợp giấm và vôi lập tức sôi sùng sục, bốc lên làn khói trắng khét mù, sủi bọt ùng ục trong lòng chậu đồng.
Bà Mận dùng kẹp tre gắp chiếc kéo sắt và toàn bộ đoạn chỉ trắng tang lễ ném thẳng vào trong chậu bọt sôi.
Tiếng xèo xèo vang lên rợn người như tiếng mỡ tươi bị ném vào chảo dầu nóng. Nước thép đen kịt của chiếc kéo bắt đầu biến đổi, nhả ra từng mảng cặn màu nâu đỏ như máu khô lâu năm hòa tan vào nước giấm. Khói bốc lên nồng nặc mùi hôi của tử thi thối rữa và mùi sắt rỉ.
Bà Mận lấy một chiếc kìm bấm bằng thép nguội của thợ rèn, luồn vào lòng chậu, dùng lực bẻ mạnh hai nhánh kéo. Hai tiếng "rắc... rắc..." giòn tan vang lên, thân kéo gãy đôi, rơi xuống đáy chậu đồng cùng với cuộn chỉ đã bị giấm vôi ăn mòn thành mớ bùi nhùi xám ngoét.
Bà Mận chỉ tay vào đống mảnh vụn dưới đáy chậu: - Lấy tro bếp nguội phủ kín chậu đồng, đem tất cả đống này gói vào một mảnh vải gai thô màu đen. Ra bãi tha ma phía bắc trấn Vĩnh An, tìm gốc cây hòe già cụt ngọn, đào sâu ba thước đất mà chôn xuống. Đặt gói vải xuống hố xong thì lấp đất thật chặt, nện ba nhát xẻng lên mặt đất rồi đi thẳng một mạch về nhà. Dọc đường có nghe tiếng kim loại bấm lách cách sau lưng cũng cấm tuyệt đối không được quay đầu lại nhìn. Quay đầu là chỉ mạng đứt hẳn.
Tôi làm theo từng lời bà Mận dặn.
Giữa đêm sương muối giăng mờ mịt trên bãi tha ma phía bắc, tôi đào một cái hố sâu dưới gốc cây hòe cụt ngọn. Đất ở đây đen sì, dính dẻo và bốc mùi tanh của rễ cây thối. Đặt bọc vải gai chứa các mảnh kéo gãy xuống đáy hố, tôi điên cuồng xúc đất lấp lại, dùng sống xẻng nện mạnh ba nhát xuống mô đất phẳng lì.
Lúc quay lưng bước đi trên con đường đất ven mương dẫn về thị trấn, gió đông thổi rít qua các bụi cỏ lau ven đường. Ngay sau gót chân tôi, cách chừng nửa bước, tiếng bấm kéo "tách... tách... tách..." vang lên dồn dập, sắc lạnh và sát sạt ngay sau gáy. Mồ hôi túa ra ướt đẫm lưng áo, nhưng tôi cắn chặt răng, mắt nhìn thẳng vào ánh đèn đường màu vàng vọt phía xa, không dám xoay đầu dù chỉ nửa phân.
Về đến phòng trọ, tôi kiểm tra lại ngón chân trỏ và mu bàn chân. Miệng các vết cắt đã se lại, máu ngừng chảy hoàn toàn, mép thịt bắt đầu ửng đỏ và kéo vảy da non. Cơn buốt nhức trong tủy xương biến mất.
Tôi cầm chổi gom lớp gạc bông dính máu khô trên sàn nhà để dọn dẹp căn phòng. Khi cúi người quét sâu vào góc tối dưới gầm giường gỗ, đầu chổi chạm phải một vật cản nặng nề nằm khuất sau chiếc hòm tôn cũ.
Kéo vật đó ra ngoài, ánh đèn tuýp soi rõ một chiếc hộp gỗ dài ba gang tay, phủ lớp sơn màu cánh gián đã tróc vảy từng mảng lớn. Nắp hộp được dán chéo bằng hai dải giấy đỏ mục nát, trên mặt giấy vẽ những ký tự ngoằn ngoèo bằng mực tàu đen thẫm đã phai màu.
Từ bên trong chiếc hộp gỗ dán niêm phong kín mít, tiếng móng tay sắc nhọn cào sột soạt vào thành gỗ vang lên đều đặn.
Ngay tại khe hở nhỏ xíu giữa nắp hộp và thân gỗ, một lọn tóc đen dài, ướt sũng nước nhớt tanh tưởi, đang từ từ thò ra ngoài, quẫy nhẹ như đuôi rắn trên nền gạch men.