Lộ Biên Tà Vật Chiêu Quỷ Lục - Chương 8: Đồng Xu Đè Lưỡi Vong Xuyên
Hai tuần trước, chiếc xe tải chở gạch của tôi bị nổ lốp ngay khúc cua dốc đá núi Thiết Lĩnh, đoạn đường nối liền mỏ quặng phía bắc với trấn Vĩnh An. Trời…
Nội dung chương
Hai tuần trước, chiếc xe tải chở gạch của tôi bị nổ lốp ngay khúc cua dốc đá núi Thiết Lĩnh, đoạn đường nối liền mỏ quặng phía bắc với trấn Vĩnh An. Trời nhá nhem tối, sương mù từ các hốc núi đá vôi tràn xuống mặt đường nhựa nứt nẻ. Trong lúc ngồi xổm kích gầm xe bên mép vực sạt lở, mũi xẻng công cụ của tôi va phải một vật cứng nằm vùi dưới lớp bùn nhão.
Đó là một đồng tiền đồng cổ xỉn màu.
Kích thước của nó lớn hơn đốt ngón tay cái, hình tròn lỗ vuông, bốn chữ Hán đúc nổi đã bị mài mòn góc cạnh. Bề mặt kim loại không sáng bóng mà phủ một lớp gỉ xanh lục dày cộp, xen lẫn những mảng bám màu trắng đục khô cứng. Mảng bám ấy xốp, bám chặt vào các rãnh chữ giống hệt vôi chết trộn lẫn mỡ trâu. Tôi đưa tay cạo nhẹ, lớp bột trắng rơi ra móng tay, xộc thẳng vào mũi một mùi tanh nồng nồng, chua lòm, y hệt mùi chuột chết thối rữa dưới đáy giếng cạn lâu ngày.
Nghĩ là đồ cổ từ mấy ngôi mộ vô chủ trên sườn núi bị mưa lũ xói mòn trôi xuống, tôi lau vội đồng xu vào gấu quần bò rồi nhét sâu vào túi áo ngực.
Đêm hôm đó, tai họa bắt đầu ngấm vào người.
Ba ngày đầu tiên, cuống họng tôi khô khốc. Cảm giác khát nước thiêu đốt từ bên trong dạ dày bốc lên, dù tôi tu hết ba bình nước lọc lớn vẫn không đỡ. Mỗi lần nuốt nước bọt, đầu lưỡi tôi lại tê rần, cảm nhận rõ rệt vị mặn chát của bùn và vị đắng nghét của kim loại rỉ sét. Tôi soi gương trong nhà vệ sinh xưởng gạch, phát hiện gai lưỡi chuyển sang màu tím tái, dưới đáy cuống họng xuất hiện một vệt hằn hình vuông màu xám tro, kích thước đúng bằng cái lỗ trên đồng tiền đồng.
Đến ngày thứ bảy, tôi hoàn toàn mất giọng.
Thanh quản tôi cứng đờ như bị ai đó đổ chì nóng vào. Khi cố gắng mở miệng phát âm, cổ họng chỉ phát ra những tiếng khè khè đứt quãng, nặng nhọc hệt tiếng quạt thông gió bị kẹt dị vật. Tôi không thể ăn cơm hạt, chỉ cần nuốt một hạt gạo nhỏ là thực quản co thắt dữ dội, đau buốt lên tận đỉnh đầu. Tôi sút năm cân, hai hốc mắt trũng sâu, da mặt xám ngoét như người vừa vớt dưới đáy sông lên.
Đỉnh điểm là đêm ngày thứ mười bốn.
Nửa đêm, một cơn buồn nôn kinh hoàng ập đến xé toạc giấc ngủ của tôi. Tôi ngã nhào từ trên giường xuống nền gạch men, hai tay bóp chặt lấy cổ họng, bò lê lết vào nhà tắm. Cơn co thắt tống ngược từ ruột non lên miệng. Tôi há hốc mồm, nôn thốc nôn tháo xuống bồn cầu.
Chất thải trào ra không phải thức ăn hay dịch vị dạ dày. Đó là một thứ dịch lỏng màu vàng xỉn lợn cợn bọt trắng, bốc mùi tử khí nồng nặc khắp bốn bức tường. Trong bãi nôn nhớp nháp ấy rơi lỏng chỏng những mảnh vôi vụn màu xám và mấy sợi tóc dài mục nát, bện chặt vào nhau thành búi đen sì. Ngay giữa bãi nôn, đồng tiền bằng đồng phủ gỉ xanh mà tôi cất trong ngăn kéo tủ gỗ mấy hôm trước nằm im lìm dưới đáy bồn sứ, phát ra tiếng kêu cắc cụp kim loại va chạm khô khốc.
Tôi hoảng loạn dùng kẹp gắp than bằng sắt kẹp chặt đồng xu, gói chặt trong ba lớp giấy báo rồi chạy thẳng đến ngõ Tây trấn Vĩnh An để tìm bà Mận.
Cửa căn nhà gỗ bán đồ mã mở hé. Mùi nhang trầm và vỏ bưởi khô đun nước nồng nặc trong gian phòng khách tối tăm. Tôi lao vào, không nói được lời nào, chỉ run rẩy đặt bọc giấy báo ướt sũng dịch vàng lên mặt bàn gỗ trắc rồi chỉ tay vào cổ họng mình, miệng thở dốc từng cơn.
Bà Mận ngồi trên ghế mây, mắt liếc qua bọc báo rồi với tay lấy đôi đũa cả bằng tre gạt lớp giấy ẩm ướt sang hai bên. Nhìn thấy đồng xu bám cặn vôi trắng xốp, nét mặt bà đanh lại.
Bà không chạm tay vào đồng tiền mà đứng dậy đi vào góc nhà, bưng ra một bát giấm thanh nuôi bằng chuối chín. Bà dùng đũa gắp đồng tiền thả tõm vào bát giấm.
Ngay lập tức, mặt bát giấm sủi bọt ùng ục. Khói trắng bốc lên mang theo mùi mỡ người thối rữa đặc quánh, khiến tôi lợm giọng phải quay mặt sang một bên nôn khan. Lớp cặn vôi bám trên mặt đồng xu rã dần ra từng mảng mục, để lộ rõ bốn chữ Hán khắc chìm sắc lẹm: Càn Long Thông Bảo.
Bà Mận kéo chiếc ghế gỗ ngồi đối diện tôi, ngón tay gõ nhịp xuống mặt bàn:
Cậu nhặt nó ở chỗ sạt lở núi Thiết Lĩnh phải không?
Tôi gật đầu lia lịa, tay đấm thùm thụp vào ngực để cố xua tan cảm giác nghẹt thở.
Đây là Áp Thiệt Tiền. Dân gian gọi nôm na là tiền đè lưỡi. Người xưa khâm liệm kẻ chết oan hoặc chết đường chết chợ thường lấy chu sa bọc ngoài đồng tiền đồng, nhét thẳng vào cuống họng, đè chặt dưới gốc lưỡi của cái xác trước khi khâu mép môi lại.
Bà Mận ngừng một nhịp, mắt nhìn xoáy vào cổ họng tím tái của tôi:
Thứ nhất, đồng tiền đè giữ lại hơi tàn cuối cùng để thây ma không biến thành cương thi bật dậy quấy nhiễu nhân gian. Thứ hai, nó là tiền lộ phí đưa đò qua sông Vong Xuyên dưới cõi âm. Cặn trắng bám trên thân đồng tiền này không phải vôi vữa xây dựng, mà là vôi bột chống ẩm người xưa rải trong quan tài, ngấm mỡ tử thi mục rữa qua trăm năm mà cô đặc lại thành cao.
Tôi sợ hãi, hai hàm răng va vào nhau cầm cập phát ra tiếng lách cách.
Người sống tham lam nhặt lấy tiền ngậm hàm của thây ma, tức là cướp mất lộ phí qua đò của người chết dưới mộ. Thây ma mất tiền không thể qua sông, oán khí sẽ theo mùi đồng bám vào người giữ. Cậu nhét tiền vào túi áo, hồn ma của nó liền coi cái miệng của cậu là cái miệng của nó. Nó mượn cuống họng cậu làm nơi ngậm tiền. Cậu mất tiếng vì lưỡi bị hồn ma đè xuống. Cậu nôn ra nước vàng vì dịch thi thể của cái xác dưới mồ đang tràn ngược vào thực quản của cậu. Cứ để thêm ba ngày nữa, cuống họng cậu sẽ thối rữa từ trong ra ngoài, biến thành một cái hốc rỗng giống hệt cái xác khô trên núi.
Tôi quỳ sụp xuống sàn nhà, dập đầu lia lịa cầu xin. Cổ họng tắc nghẽn chỉ phát ra những âm thanh ứ ự thảm hại.
Bà Mận xua tay:
Đừng lạy tôi. Muốn sống thì phải trả lại đúng luật lệ. Lấy của người chết cái gì thì phải trả lại tận gốc cái đó, không được thiếu một ly.
Bà Mận rút từ gầm bàn ra một chiếc hộp sắt gỉ, lấy ra ba cây đinh thuyền bằng sắt hoen ố và một nắm than củi dẻ gai:
Cậu cầm đồng tiền này về xưởng, dùng kẹp sắt đặt thẳng lên lò nung than củi quặng đá, nung cho đến khi đồng đỏ rực như than hồng. Khi đồng đỏ au, không được dùng nước dập, mang nguyên vẹn lên đúng cái hố đất sạt lở trên dốc núi Thiết Lĩnh. Ném đồng tiền xuống đáy hố, đóng ba cây đinh sắt này tạo thành hình tam giác chặn quanh miệng hố rồi lấp đất lại. Trên đường đi và về, dù nghe thấy bất kỳ âm thanh nào gọi tên mình sau lưng cũng tuyệt đối không được mở miệng trả lời hay quay đầu lại. Nếu hé răng phát ra nửa tiếng, hồn ma sẽ chui tọt vào họng cậu mà cắn đứt lưỡi.
Tôi nhận lấy ba cây đinh sắt lạnh ngắt và chiếc kẹp gắp đồng xu, vội vã chạy về xưởng gạch trong đêm.
Lò than quặng của xưởng gạch vẫn còn rực lửa. Tôi dùng kẹp sắt gắp đồng Càn Long Thông Bảo đặt thẳng vào tâm ngọn lửa đỏ rực. Tiếng xèo xèo vang lên chói tai kèm theo mùi khét lẹt của thịt thối bị thiêu đốt. Đồng tiền từ màu xanh xỉn chuyển dần sang màu đỏ rực như một hòn than non.
Tôi kẹp chặt đồng xu nóng đỏ, leo lên chiếc xe tải rỗng, đạp ga lao vút lên núi Thiết Lĩnh trong màn đêm đặc quánh.
Gió rít qua khe cửa kính xe tải gầm rú từng hồi. Đến khúc cua sạt lở ven vực, tôi dừng xe, bật đèn pha chiếu thẳng vào hố bùn nhão. Đất đá quanh miệng hố sụt lún sâu hoắm, để lộ một góc ván gỗ mục nát của chiếc áo quan cổ xưa bị gãy đôi. Tôi bước xuống, hai tay cầm kẹp vung mạnh, ném thẳng đồng tiền đỏ rực vào sâu trong kẽ nứt của tấm ván quan tài.
Xoẹt một tiếng, lớp bùn nhão bốc lên một luồng khói đen kịt. Tôi lấy búa tạ, nện mạnh ba cây đinh sắt xuống ba góc quanh miệng hố sâu cả tấc đất, sau đó dùng xẻng xúc đất đá lấp phẳng mép vực.
Ngay khi lớp đất cuối cùng đè lên miệng hố, cuống họng tôi bỗng nhẹ bẫng. Cảm giác nghẹn ứ, tanh nồng nơi đáy lưỡi biến mất hoàn toàn. Tôi ho khan một tiếng, thử thốt lên:
A...
Âm thanh phát ra đã tròn vành, rõ ràng tiếng người sống. Tôi thở dốc, cảm giác thoát chết khiến toàn thân ướt đẫm mồ hôi lạnh. Tôi ném chiếc xẻng lên thùng xe, lập tức quay đầu lái xe về thị trấn mà không dám nhìn lại phía sau một lần nào.
Về đến xưởng gạch Vĩnh An, trời đã rạng sáng. Tôi bước vào gian phòng nghỉ công nhân, với tay rót một cốc nước ấm lớn uống cạn để làm dịu thanh quản vừa hồi phục.
Cơn khát và đau đớn biến mất, tôi mở cửa lò nung gạch số ba để kiểm tra mẻ gạch thô chuẩn bị đưa vào nướng. Khi chiếc xẻng xúc than củi của tôi vừa xúc sâu vào đống xỉ than xám xịt nằm ở góc lò, lưỡi xẻng chạm phải một vật mềm nhũn, ẩm ướt khác thường.
Tôi gạt lớp tro xỉ than ra xem.
Nằm kẹp giữa hai viên gạch thô chưa nung là một đôi hài thêu bằng lụa màu đỏ tươi, mũi hài uốn cong vút đính hạt cườm lóng lánh. Đôi hài hoàn toàn khô ráo, không dính một hạt bụi than, nhưng bên trong lòng chiếc hài bên trái thò ra một ngón chân người trắng bệch, móng chân sơn màu đen nhánh, rỉ ra từng giọt máu tươi chưa đông thấm đẫm mặt gạch mộc.