Lời Nguyền Diều Giấy - Chương 1: Làng Nại Dưới Chân Ba Vì
Khói rơm mùa khô quyện với hơi ẩm từ rừng rậm chân núi Ba Vì bay là là qua những rặng tre gai bao quanh làng Nại. Năm một chín chín lăm, ngôi làng cổ này…
Nội dung chương
Khói rơm mùa khô quyện với hơi ẩm từ rừng rậm chân núi Ba Vì bay là là qua những rặng tre gai bao quanh làng Nại. Năm một chín chín lăm, ngôi làng cổ này vẫn giữ nguyên nhịp sống nép mình dưới bóng ba ngọn núi thiêng sừng sững chọc thẳng lên vòm trời xứ Đoài. Ở đây, người ta lớn lên cùng tiếng rít của cật tre già, mùi nhựa trám bùi bùi và thanh âm trầm bổng của những giàn sáo diều rền rĩ suốt mùa gió nam.
Nguyễn Khoa ngồi chồm hổm trên bậc thềm đá xanh mát lạnh, hai bàn tay cáu bẩn tì chặt lên đầu gối, chăm chú nhìn từng chuyển động của ông nội. Cậu mười bốn tuổi, vóc người gầy khẳng khiu, nước da ngăm đen vì những buổi trưa trốn nhà đi mò cua bắt ốc ngoài bãi bồi sông Đà. Trước mặt cậu, ông Vạn đang ngồi trên chiếc ghế đẩu bằng gỗ nghiến xỉn màu. Đôi bàn tay gân guốc, móng tay đóng khấc màu bùn và nhựa cây của người thợ già thoăn thoắt di chuyển một lưỡi nạo thép mỏng dính trên miệng một ống sáo tre.
Đó là ống sáo cái của một giàn sáo ba, khoét từ thân tre đực bánh tẻ đã ngâm bùn ao đủ hai mùa rét rồi đem gác bếp cho ám khói đen bóng. Miệng sáo làm bằng gỗ vàng tâm, khoét rỗng hình vầng trăng khuyết, được mài nhẵn thín không còn gợn một dăm nhỏ.
"Gió từ đất bốc lên trời, sáo phải đón gió bằng sự nhũn nhặn." Giọng ông Vạn khàn đục như tiếng cối đá nghiền ngô bên chái bếp. Ông không ngẩng đầu lên, lưỡi thép trong tay vẫn nạo ra từng lớp phoi tre mỏng tanh như cánh ve sầu. "Mày đục miệng sáo quá rộng, gió vào ào ạt thì tiếng kêu đanh gắt, nghe rợn tai. Người làng Nại đời đời thả diều cầu mưa thuận gió hòa, đón lộc của thần núi, chứ không phải phường ngạo mạn đem tiếng thét lên chọc giận trời xanh."
Khoa gãi đầu, mắt nhìn chòng chọc vào dải phoi tre xoăn tít rơi trên nền đất nện:
"Nhưng cháu thấy tiếng sáo nhà anh Tuất bên xóm chợ rít to lắm ông ạ. Chiều qua anh ấy thả con diều năm cánh ngoài đồng Roi, sáo rít réo nghe như còi tàu hỏa trên ga thị xã, cả làng ai cũng ngoái nhìn."
Lưỡi nạo của ông Vạn khựng lại. Lưng ông còng xuống, bóng cây cau sau vườn ngả dài phủ kín lấy vóc người hom hem của người nghệ nhân già. Ông đưa ống sáo lên ngang môi, hít một hơi sâu rồi thổi nhẹ một luồng khí qua khe hở hình bán nguyệt.
"U u... o o..."
Âm thanh phát ra trầm đục, ngân nga, rung lên từng chập đều đặn, lan khắp khoảng sân gạch rêu phong rồi lặn dần vào không gian tĩnh mịch của buổi chiều tà. Nghe tiếng sáo, con chó Vện nằm dưới gầm phản gỗ chỉ khẽ vẫy đuôi rồi lại gục mõm ngủ tiếp.
"Đấy là tiếng sáo rỗng ruột, tiếng của thói háo danh." Ông Vạn hạ ống sáo xuống, ánh mắt đùng đục nhìn Khoa. Vết sẹo dài chạy từ khóe mắt trái xuống tận chân cằm ông giật nhẹ một cái. Vết sẹo ấy có từ năm Khoa chưa đầy ba tuổi, người trong làng bảo ông bị dây diều cứa vào thịt trong một đêm giông bão trên đỉnh Tản Viên. Cùng đêm ấy, cha của Khoa biến mất, không để lại một mảnh thi thể hay manh chiếu rách nào. "Tiếng sáo tốt là tiếng sáo khiến trâu bò ngừng gặm cỏ, người già lắng tai thở dài, trẻ con nghe thấy nằm im ngủ ngon. Thứ sáo rít như quỷ réo của thằng Tuất, sớm muộn gì cũng đứt dây mà đâm đầu xuống đất."
Khoa im lặng cúi đầu, nhưng ngón chân cái vẫn bồn chồn cọ vào mặt đá bậc thềm. Cậu mồ côi cha từ nhỏ, mẹ bỏ đi lấy chồng xứ khác từ khi cậu mới chập chững biết đi. Trong ký ức của Khoa, ngôi nhà ba gian lợp ngói vảy cá này chỉ có bóng lưng gầy gò của ông nội, mùi khói bếp củi thông và vô số những khung tre, cuộn dây gai, cuộn dây cước giăng khắp các xà nhà. Khoa yêu những cánh diều giấy dó trắng muốt căng gió, nhưng cậu ghét sự im lặng nặng nề bao trùm lấy ngôi nhà mỗi khi đêm xuống.
Trong làng, những đứa trẻ cùng trang lứa đều chuẩn bị diều cho hội làng sắp tới. Lễ hội mở vào rằm tháng Ba âm lịch, năm nay lại là năm Ất Hợi một chín chín lăm, ủy ban xã đã cho phép khôi phục toàn bộ các trò chơi dân gian sau bao nhiêu năm gián đoạn. Đám trai làng bàn tán xôn xao về những con diều khổng lồ sải cánh ba bốn mét, những giàn sáo còi, sáo chuông đắt tiền. Đứa nào cũng muốn diều của mình bay cao nhất, sáo kêu vang nhất để nhận giải thưởng của xã. Duy chỉ có ông Vạn là dửng dưng. Ông chỉ cặm cụi vót những thanh tre già cho bộ diều cánh trăng khuyết truyền thống, thân diều tròn trịa, hiền lành như con thuyền nan lướt trên sóng lúa.
"Ông ơi, sao diều làng mình chỉ làm cánh bầu trăng khuyết?" Khoa ngước lên, buột miệng hỏi câu hỏi mà cậu đã ấp ủ bấy lâu. "Hôm nọ cháu thấy sách vẽ con diều của người phương Bắc, cánh nó nhọn hoắt như móng vuốt chim ưng, đuôi xẻ dài, nhìn dữ dằn mà bay xé gió. Sao ông không vót cánh nhọn cho cháu một lần?"
"Bốp!"
Bàn tay thô ráp của ông Vạn giáng mạnh xuống chiếc ghế đẩu, làm ống sáo lăn lông lốc xuống sân. Cả thân hình ông run lên bần bật, đôi mắt đùng đục quắc lên những tia nhìn sắc lẹm khiến Khoa co rúm người lại, lùi sát vào chân cột hiên.
"Mày nghe ai nói bậy bạ?" Giọng ông gằn xuống, từng tiếng rít qua kẽ răng. "Ai dạy mày nhắc đến cánh chim ưng ở cái đất này?"
"Cháu... cháu xem sách... cháu chỉ hỏi thế thôi..." Khoa lắp bắp, hai mắt hoe đỏ vì sợ hãi. Chưa bao giờ cậu thấy ông nội nổi giận lôi đình như thế chỉ vì một câu nói đùa.
Ông Vạn đứng bật dậy. Vóc người ông cao lớn khác thường so với những người già trong làng, chiếc áo cánh nâu bạc phếch bay phần phật theo luồng gió núi vừa thốc tới. Ông bước tới, túm lấy bả vai gầy của Khoa, lực ngón tay bóp mạnh đến mức cậu cảm thấy xương khớp kêu lạo xạo.
"Nhớ lấy lời tao, khắc vào xương tủy của mày." Mặt ông ghé sát mặt Khoa, hơi thở nồng nặc mùi thuốc lào và nhựa tre già. "Làng Nại dưới chân núi Ba Vì này có trời đất chứng giám. Tre ở đây chỉ để làm diều cánh trăng đón gió lành. Tuyệt đối không đứa nào được vót nan nhọn hình chim ưng xé trời. Kẻ nào làm trái, ngọn gió trên đỉnh Ba Vì sẽ bẻ gãy cổ nó, kéo cả dòng họ xuống mồ. Hiểu chưa?"
Khoa run rẩy gật đầu lia lịa:
"Cháu hiểu rồi... Cháu nhớ rồi..."
Lúc bấy giờ ông Vạn mới từ từ buông tay ra. Ông hít sâu một hơi, quay lưng nhặt ống sáo dưới đất lên, lấy vạt áo lau đi lớp bụi bám trên miệng gỗ vàng tâm. Cơn giận rút đi nhanh như khi nó ập đến, để lại trên gương mặt nhăn nheo của ông một vẻ mệt mỏi, u ám khôn tả. Ông ngước nhìn về phía rặng núi Ba Vì xa xa.
Mặt trời bắt đầu khuất dần sau đỉnh Tản Viên. Bầu trời rực lên một màu đỏ quạch như máu gà non pha loãng, nhuộm đỏ cả những vạt rừng nguyên sinh rậm rạp trên sườn núi. Những áng mây xám xịt từ phía tây ùn ùn kéo về, trườn qua vách đá dựng đứng như những con rắn khổng lồ.
Ngoài đê làng, tiếng tù và bằng sừng trâu bắt đầu rúc lên từng hồi dài não nuột.
"Hạ diều! Thu dây! Giờ Dậu đã điểm!"
Tiếng mõ làng lách cách điểm theo sau tiếng thét của tuần đinh. Đó là lệ làng có từ hàng trăm năm trước, chưa một ai dám làm trái. Cứ đến giờ Dậu, khi ánh mặt trời vừa tắt sau đỉnh núi thiêng, tất cả những ai đang thả diều trên triền đê hay ngoài đồng bãi đều phải lập tức kéo dây, hạ diều xuống đất. Người già trong làng bảo, giờ Dậu là giờ chuyển giao giữa cõi sống và cõi chết của vùng núi Ba Vì. Sau giờ Dậu, bầu trời không còn thuộc về con người nữa, mà thuộc về những con diều ma, thuộc về những kẻ ngã từ mây xanh xuống mà không tìm thấy xương thịt.
Tiếng sáo vi vu ngoài đồng đột ngột tắt lịm. Đám trẻ con xóm chợ hò nhau cuộn những guồng dây to bằng cái nia, hớt hải ôm những cánh diều to lớn chạy vội về nhà trước khi bóng tối nuốt trọn những con đường liên thôn. Không một cánh diều nào được phép lơ lửng trên nền trời khi bóng đêm buông xuống.
"Vào nhà, cài then cửa lại." Ông Vạn cất ống sáo vào túi vải, lạnh lùng bảo Khoa rồi bước vào gian giữa.
Khoa lủi thủi đi sau lưng ông. Gian nhà ngói ba gian chìm trong bóng tối lờ mờ. Ngọn đèn dầu hột vịt đặt trên bàn thờ tổ tiên tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù, hắt những cái bóng ngoằn ngoèo lên bức tường gạch trần. Mùi khói hương bài trầm mặc quyện lấy mùi thuốc trừ sâu thoang thoảng từ khoảnh ruộng bên cạnh tạo nên một thứ không khí ngột ngạt khó chịu.
Khoa bước đến bên cánh cửa liếp bằng tre nứa, chuẩn bị kéo then cài thì ánh mắt cậu vô tình quét qua góc tối của gian buồng trong.
Nơi đó, đặt nép mình dưới gầm bàn thờ phụ, là một chiếc rương gỗ lim cổ đen thẫm bóng loáng. Chiếc rương dài chừng một sải tay người lớn, bốn góc đều bọc những thanh đai sắt đã hoen gỉ màu nâu đỏ như máu khô. Mặt trước rương là một ổ khóa đồng hình đầu thú ngậm ngọc to bằng bàn tay úp, trên thân khóa chạm trổ những hoa văn hình xoắn ốc kỳ dị.
Từ lúc bắt đầu biết nhận thức, Khoa chưa từng thấy ông nội mở chiếc rương ấy ra bao giờ. Cậu hỏi thì ông chỉ bảo đó là hòm đựng văn tự cũ và quần áo của tổ tiên thời phong kiến. Nhưng có những đêm trở trời, khi tiếng gió rừng rít gầm gào qua mái ngói, Khoa nằm trên phản gỗ thường nghe thấy những âm thanh lục cục rất khẽ phát ra từ đáy rương, tựa hồ có vật gì đó còn sống đang cựa mình bên trong lớp gỗ lim dày cộp.
Chiếc chìa khóa đồng của ổ khóa ấy luôn được ông Vạn đeo lủng lẳng bên hông cùng với chiếc ống ngoáy trầu và bao dao bài vót nan.
"Mày đứng đực mặt ra đấy làm gì? Đóng cửa!" Tiếng ông Vạn từ trong bếp vọng lên, cắt đứt dòng suy nghĩ của Khoa.
"Cháu đóng ngay đây ạ." Khoa giật mình, vội vàng kéo hai cánh liếp tre khép lại, tra then ngang bằng gỗ nghiến vào ổ chốt.
Căn nhà lập tức chìm vào một khoảng không gian tách biệt với thế giới bên ngoài. Chỉ còn tiếng lép bép của củi ướt cháy trong bếp lò và tiếng gió núi bắt đầu thổi mạnh dần, quật phần phật vào rặng chuối sau nhà.
Khoa ngồi xuống chiếc chõng tre ở góc hiên, bưng bát cơm độn khoai lang nguội ngắt nuốt từng miếng trút nghẹn ứ nơi cổ họng. Ông Vạn ngồi trên phản, nhai trầu bỏm bẻm, đôi mắt đăm đăm nhìn vào khoảng tối mịt mùng của gian buồng trong. Trên vách nứa, hàng chục bộ sáo diều treo ngay ngắn đang khẽ lay động theo luồng gió luồn qua khe liếp.
Đêm Ba Vì xuống rất nhanh. Mới hơn bảy giờ tối mà sương muối đã giăng kín lối đi ngoài ngõ, đặc quánh như cháo loãng. Tiếng ếch nhái râm ran ngoài đồng bãi bỗng nhiên im bặt một cách bất thường. Không gian chung quanh tĩnh mịch đến rợn người, chỉ còn tiếng côn trùng rỉ rả dưới chân móng nhà.
Bất thình lình, một luồng gió lạnh buốt từ hướng đỉnh Tản Viên thốc thẳng xuống thung lũng.
Gió không rít từng cơn mà tràn về như một khối nước lũ khổng lồ, va đập ầm ầm vào mái ngói âm dương, làm căn nhà cổ rung lên bần bật. Bụi bồ hóng từ trên trần nhà rơi lả tả xuống sàn đất nện. Ngọn lửa đèn dầu leo lét chao đảo dữ dội, suýt chút nữa thì lụi tàn.
Khoa giật nảy mình, đánh rơi đôi đũa tre xuống đất. Cậu chưa bao giờ thấy một cơn gió nào quái đản như thế. Luồng gió lạnh toát, mang theo mùi ngai ngái của lá mục rừng sâu và một thứ mùi tanh nồng rất nhạt, giống hệt mùi bùn đáy ao lâu năm bị sục lên.
"Keng... reng..."
Những chiếc vòng sắt gia cố trên các bộ sáo treo trên vách va vào nhau lanh canh. Nhưng kỳ lạ thay, hàng chục ống sáo bằng trúc, bằng gỗ mít đều câm bặt, không hề phát ra một tiếng kêu nào dù gió đang lùa qua các khe nẹp vách tre.
Giữa sự im lặng ngột ngạt ấy, một âm thanh bỗng cất lên.
"Khè... rít..."
Âm thanh ban đầu rất nhỏ, nghẹn ứ, như tiếng một người đang bị bóp nghẹt cổ họng cố hít lấy một ngụm không khí tàn dư. Sau đó, nó vút cao dần lên, sắc nhọn, the thé, rít qua từng kẽ răng, vang vọng khắp bốn bức tường gian nhà cổ.
Tiếng rít ấy không phát ra từ giàn sáo của ông Vạn treo trên tường.
Khoa trợn tròn mắt, toàn thân đông cứng lại. Âm thanh quái dị, ai oán và đầy nộ khí ấy đang phát ra từ sâu bên trong chiếc rương gỗ lim bọc đai sắt khóa chặt dưới gầm bàn thờ phụ.
Chiếc rương khẽ rung lên. Chiếc khóa đồng hình đầu thú ngậm ngọc va đập vào đai sắt tạo nên những tiếng cùm cụp khô khốc.
Ông Vạn buông rơi chiếc bát sành trên tay. Bát rơi xuống phản vỡ đôi, cơm khoai văng tung tóe. Người thợ già đứng phắt dậy, gương mặt cắt không còn một giọt máu, các thớ thịt trên gò má giật liên hồi làm vết sẹo dài đỏ ửng lên như một con rết sống bò ngang mặt.
"Nó... nó ngửi thấy hơi gió hội rồi..." Ông lẩm bẩm, giọng run rẩy hoàn toàn mất đi vẻ uy nghiêm thường nhật.
Ông Vạn bước những bước chân dồn dập về phía bàn thờ phụ, bàn tay run bần bật nắm chặt lấy con dao bài dắt bên hông, ánh mắt nhìn trừng trừng vào chiếc rương đang không ngừng phát ra tiếng sáo rít ghê rợn trong bóng tối đặc quánh của giờ Dậu.