Lời Nguyền Diều Giấy - Chương 4: Trống Khai Hội Làng
Hồi trống cái đầu tiên thúc vào thinh không lúc sương sớm còn đọng trắng mặt đê sông Tích. Tiếng trống da trâu già đanh giòn, trầm đục vang rền dội ngược…
Nội dung chương
Hồi trống cái đầu tiên thúc vào thinh không lúc sương sớm còn đọng trắng mặt đê sông Tích. Tiếng trống da trâu già đanh giòn, trầm đục vang rền dội ngược vào vách đá chân núi Ba Vì rồi dội ngược trở lại lòng chảo làng Nại, đánh thức cả vùng bãi bồi sau một đêm ngái ngủ.
Khoa khoác tấm áo cánh nâu mới tinh, hai tay ôm ghì lấy bộ sáo đại năm ống bằng ống nứa ngâm bùn sấy gác bếp mười năm của ông nội. Bộ sáo nặng trịch, mỗi ống khoét miệng bằng gỗ vàng tâm thếp sơn ta bóng loáng. Ống sáo cái to bằng bắp đùi người lớn, dài trọn ba thước, đầu bịt sừng trâu đen nhánh có khắc chìm hình mây cuộn. Hơi lạnh từ lớp sơn ta phả qua làn vải áo mỏng, chạm vào ngực Khoa qua lớp giấy dó gấp tư giấu kín bên trong túi áo. Tờ giấy mang dòng chữ đỏ quạch của cha vẫn nằm im lìm ở đó, cọ vào xương sườn cậu từng nhịp râm ran the buốt.
Phía trước, ông Vạn cùng hai người thợ phụ lực lưỡng trong xóm đang cẩn thận khiêng thân con diều đại cánh muỗm dài hơn bốn mét. Cánh diều dán bằng ba lớp giấy dó loại dầy, quét nhựa cậy đỏ sẫm óng ánh dưới ánh bình minh vừa ló dạng sau rặng tre. Khung tre uốn cong vút, tròn trịa mềm mại theo dáng trăng khuyết, hai đầu cánh vót mỏng dần về ngọn tạo nên một đường cong hoàn mỹ không gợn một vết gập. Lũ trẻ con trạc tuổi Khoa chạy túa ra hai bên ngõ đất, reo hò ầm ĩ khi đoàn rước diều nhà cụ Vạn đi ngang qua.
"Tránh đường ra cho các cụ rước diều cái!"
Mấy bác trung niên mặc áo the khăn xếp đi dẹp đường, miệng quát tay phất cờ ngũ sắc. Khoa ưỡn ngực, bước đi thật vững trên đôi guốc mộc gõ lách cách xuống mặt đường lát gạch nghiêng. Sự kiêu hãnh của đứa cháu nối dõi một nghệ nhân nức tiếng vùng chân núi khiến sống lưng cậu thẳng tắp. Cả làng Nại có hàng chục cánh diều muôn hình vạn trạng đang tề tựu về bãi cỏ trước cổng đình làng, nhưng con diều đại của ông nội luôn là tâm điểm của ngày hội rằm tháng Ba năm ấy.
Bãi đình hôm nay đông đặc người. Dân các làng lân cận, khách thập phương từ tận thị xã Sơn Tây, từ mạn Phúc Thọ, Đan Phượng cũng đổ về xem hội. Những quán nước chè chén, kẹo bột, bánh củ mài mọc lên san sát dưới gốc đa cổ thụ. Khói hương trầm từ gian tiền tế bay ra nghi ngút, quyện chặt lấy mùi ngai ngái của cỏ voi bị giẫm nát và mùi cậy tươi từ những cánh diều vừa dán xong đêm qua.
Trên bãi đất rộng thênh thang, hàng chục cánh diều cánh muỗm, cánh cốc, cánh chanh bằng giấy bồi, vải phin trắng đã được dựng nghiêng vào các cọc tre cắm sẵn. Mỗi con diều đều mang trên lưng một bộ sáo, từ sáo đôi, sáo ba cho đến sáo ngũ, miệng sáo quay về hướng đông nam để hứng luồng gió nồm thổi từ thung lũng lên.
Thế nhưng, giữa không khí náo nức tiếng cười nói và tiếng chiêng trống giục giã, Khoa nhận thấy một nét mặt khác lạ bao trùm lên nhóm các bô lão đang đứng làm lễ trước bàn hương án lộ thiên.
Cụ Tiên, người cao tuổi nhất làng, tay cầm chén rượu nâng ngang trán, đôi mắt đùng đục nước lại ngước nhìn lên rặng núi Ba Vì sừng sững đằng xa. Ba đỉnh núi Tản Viên, đỉnh Vua và đỉnh Ngọc Hoa sáng nay không hề trong xanh. Một dải mây màu xám tro dày đặc vắt ngang lưng chừng núi, bóp nghẹt phần đỉnh lại như một chiếc thòng lọng khổng lồ.
Khi cụ Tiên trao chén rượu cho ông Vạn để làm lễ quán tẩy sái cật diều, bàn tay nhăn nheo của cụ run lên bần bật.
"Gió sáng nay có mùi sỏi đá khô," cụ Tiên ghé sát tai ông Vạn, giọng thì thào đứt quãng qua kẽ răng rụng gần hết. "Thằng Vạn này, hướng gió Tản đang dội xuống, luồng gió nghịch đáy vực Thác Bạc năm Tân Dậu lại chớm về. Liệu có nên hạ cờ lùi hội lại một buổi không?"
Ông Vạn đứng nghiêm, vạt áo dài lụa đen bay phần phật trong gió sớm. Khuôn mặt vuông vức đầy nếp nhăn của ông đanh lại, ánh mắt nhìn chằm chằm vào dải mây xám trên lưng chừng núi. Đôi môi ông mím chặt thành một đường thẳng tắp, các khớp ngón tay nắm chặt lấy chén rượu cúng đến mức móng tay trắng bệch ra.
"Lễ hội cả tổng đã định ngày rằm, giấy trình trên huyện đã đóng dấu từ tháng trước," ông Vạn trầm giọng đáp, âm điệu nghe khô khốc. "Cả làng cả tổng trông vào cánh diều khai hội để cầu cho mùa màng năm nay thuận hòa. Lúc này hạ cờ, dân làng hoang mang, rồi thần núi quở trách thì ai gánh nổi?"
"Nhưng con sáo đại nhà anh..." Cụ Tiên ngập ngừng, mắt liếc về phía bộ sáo năm ống mà Khoa đang ôm trước ngực. "Miệng sáo ấy, tiếng sáo ấy năm xưa từng hút luồng gió trên đèo Ké. Đừng để nó vượt qua đầu núi. Lời nguyền mười mấy năm trước, người làng chưa ai quên đâu."
Khoa đứng cách đó ba bước chân, nghe rõ từng lời thì thầm giữa hai người già. Tim cậu nảy lên một nhịp mạnh mẽ. Đèo Ké? Vực Thác Bạc? Lời nguyền mười mấy năm trước? Tờ giấy dó trong ngực áo cậu ghi rõ năm Tân Dậu, đúng mười bốn năm trước, năm cậu ra đời và cũng là năm cha cậu gãy cánh giữa tầng không. Có một mối liên hệ rành rành giữa những điều cụ Tiên lo sợ với cái chết của cha mà ông nội giấu nhẹm suốt tuổi thơ của cậu.
Khoa liếc nhìn các cụ già khác trong ban khánh tiết đình làng. Ai nấy đều mặc áo thụng xanh thụng đỏ chỉnh tề, tay cầm hương nhưng mắt không nhìn vào ban thờ hay nhìn ngắm những cánh diều sặc sỡ. Thỉnh thoảng, họ lại lén nhìn về phía rặng Ba Vì, ánh mắt chứa đầy sự âu lo, sợ sệt khó tả. Mỗi khi một ngọn gió mạnh thổi qua ngọn đa, làm cành lá xào xạc và những lá cờ đuôi nheo giật đùng đùng, vài cụ lại khẽ rụt cổ lại, lẩm nhẩm lần tràng hạt trong tay áo.
"Lên dây!"
Tiếng quan đám dõng dạc hô to, cắt đứt cuộc nói chuyện thì thầm của các bô lão. Tiếng chiêng thúc ba hồi chín tiếng, vang dội xé toạc không gian bãi bồi.
Đám thanh niên trai tráng hò reo vang dội. Mười tráng đinh lực lưỡng nhất của giáp Đông cởi trần, đóng khố đỏ, bước ra giữ lấy sợi dây diều của cỗ diều cái nhà ông Vạn. Sợi dây diều này không phải dây cước nilon bình thường như đám trẻ con hay dùng, mà là dây chão bện từ tre non ngâm nước vôi rồi đem luộc với vỏ cây gụ, dẻo dai và chắc chắn như dây cáp đồng, to bằng ngón chân cái.
Khoa vội vã chạy theo sau ông nội, cẩn thận đặt bộ sáo đại lên lưng con diều. Ông Vạn đích thân dùng những sợi lạt giang tươi dẻo quánh, buộc chặt chân sáo vào sống lưng cật tre. Từng nút buộc được ông giằng mạnh bằng cả sức nặng của thân thể, kiểm tra đi kiểm tra lại độ cân bằng của từng ống sáo. Miệng sáo cái hướng chếch lên một góc bốn mươi lăm độ, sẵn sàng nuốt trọn luồng gió tầng cao.
"Khoa, lui ra mép cỏ sau gốc gạo đực mà đứng," ông Vạn quay lại dặn, giọng nghiêm khắc không để cho cậu cãi lại. "Cấm chạy lung tung. Mắt phải trông chừng cuộn chão, thấy dây giật đứt cọc neo thì phải hét to lên cho tráng đinh biết."
"Vâng ạ," Khoa đáp ngoan ngoãn, nhưng đôi chân cậu chỉ lùi lại vài bước rồi dừng lại ở vị trí có thể quan sát rõ nhất toàn bộ bãi đất.
Mặt trời đã lên cao bằng con sào, xua tan bớt lớp sương muối lạnh lẽo dưới chân đê. Luồng gió nồm bắt đầu thổi mạnh dần, quét qua thung lũng, làm rạp những vạt ngô non ven bãi bồi.
"Thả diều!"
Hiệu lệnh vừa phát ra, người lĩnh xướng ôm cánh diều đại chạy ngược chiều gió trên bãi cỏ dài hơn trăm mét. Hai tráng đinh phía sau ghìm chặt lấy cọc néo cuộn dây tre.
Khi ngọn gió nồm căng tròn tràn tới, người ôm diều tung mạnh con diều lên không trung. Cánh diều đỏ thắm chao đảo một nhịp ngắn, đón trúng túi gió rồi lập tức ưỡn ngực, bay vút thẳng lên nền trời xanh nhạt.
Sợi dây chão tre rít lên ken két trên cọc néo bằng gỗ lim cắm sâu dưới lòng đất, tạo ra những vệt khói mỏng bốc mùi ma sát khét lẹt. Con diều đại nhà cụ Vạn như một con chim khổng lồ cưỡi trên đầu sóng gió, kéo căng sợi dây chão thẳng tưng như một thanh sắt nung nguội.
Ngay sau cánh diều cái, hàng chục con diều khác của các giáp trong làng đồng loạt cất cánh. Bầu trời bãi đình bỗng chốc ngập tràn sắc màu: diều trắng, diều vàng, diều cánh bướm, diều đuôi phụng bay rợp cả một khoảng không gian rộng lớn, chao lượn rộn ràng.
Và rồi, dàn sáo bắt đầu lên tiếng.
Âm thanh đầu tiên cất lên từ bộ sáo đại của ông Vạn. Ống sáo cái ngân ra một nốt trầm hùng tráng, sâu thẳm như tiếng chuông đồng vọng lại từ đáy thung lũng. Tiếp đó, bốn ống sáo con lần lượt hòa nhịp, tạo thành một hợp âm ngũ cung trầm bổng, du dương, ngân vang khắp chín tầng trời. Tiếng sáo của những con diều khác cũng thi nhau vang lên, tiếng còi tàu, tiếng chuông con, tiếng còi đẩu ríu rít đan xen vào nhau tạo thành một bản đại hòa tấu hùng vĩ của đất trời Ba Vì.
Dân làng vỗ tay reo hò dậy đất. Lũ trẻ con nhảy cẫng lên, vừa ngửa cổ nhìn trời vừa hò hét tranh cãi xem diều nhà ai bay cao hơn, tiếng sáo nhà ai kêu to hơn. Khoa đứng bên gốc gạo, nhìn cánh diều đỏ của ông nội đang dẫn đầu đàn diều lơ lửng giữa trời mây, lòng tràn ngập cảm giác tự hào kiêu hãnh. Cậu đưa tay chạm vào mép giấy dó trong túi áo, thầm nghĩ cha mình năm xưa ắt hẳn cũng từng đứng ở đây, kiêu hãnh ngước nhìn bầu trời lộng gió như thế này.
Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang.
Khi hội làng đang ở độ cao trào náo nhiệt nhất, khi mặt trời lên đến đỉnh đầu rọi những tia nắng chói chang xuống bãi cỏ, tầng mây xám tro trên lưng chừng núi Ba Vì đột ngột chuyển động.
Khoa là một trong những người đầu tiên nhận thấy sự đổi hướng kỳ quặc của ngọn gió.
Gió nồm từ thung lũng sông Tích bỗng nhiên lặng phắt lại trong chớp mắt. Ngọn cờ ngũ sắc trên cổng đình đang bay phần phật bỗng buông thõng xuống, rũ rượi áp sát vào thân cột tre. Toàn bộ không gian quanh bãi đình im ắng đến rợn người, như thể cả bầu không khí vừa bị một cái miệng vô hình khổng lồ hút cạn sạch.
Ngay sau khoảng lặng ngột ngạt ấy, từ phía chân núi Ba Vì dội xuống một âm thanh rít gầm trầm đục.
Một luồng gió xoáy màu xám xịt, cuốn theo bụi đất mù mịt và lá khô từ sườn núi lao thẳng xuống bãi bồi ven sông. Luồng gió này không thổi ngang theo hướng nồm bình thường, mà cuộn tròn thành từng cột lốc xoáy ngược, xoay tít theo chiều kim đồng hồ với tốc độ kinh hoàng. Cát bụi mịt mù cuốn thốc lên không trung, tạt rát rạt vào mặt đám đông đang đứng xem hội. Mọi người ho sặc sụa, vội vã đưa tay áo lên che mắt, những tiếng la hét hoảng loạn bắt đầu rộ lên khắp bãi đất.
Luồng gió ngược hung hãn thốc thẳng vào dàn diều đang lơ lửng trên tầng cao.
Những cánh diều đang bay êm ả bỗng chao đảo dữ dội như những chiếc lá khô rơi vào dòng nước xoáy. Con diều cánh muỗm của giáp Nam bị gió quặn gãy đôi nan cánh, rơi cắm đầu xuống rặng tre ven làng xé toạc một tiếng "xoạc" đau đớn. Hai con diều vải phin khác bị gió xoắn tít lấy nhau, dây cước quấn chặt thành một búi bòng bong rồi đứt phựt, trôi dạt vô định về phía rừng sâu.
Đáng sợ nhất là âm thanh phát ra từ những giàn sáo trên trời.
Dưới áp lực của luồng gió xoáy ngược kỳ dị, các miệng sáo không còn đón gió thông suốt để tạo ra những nốt nhạc du dương trầm bổng nữa. Tiếng sáo sáo đại năm ống của nhà ông Vạn bỗng nghẹn ứ lại, phát ra một âm thanh the thé chói tai, rền rĩ run rẩy hệt như tiếng một người đang bị bóp nghẹt cổ họng cố sức nấc lên từng cơn tuyệt vọng. Toàn bộ giàn sáo của các cánh diều còn lại trên không trung đồng loạt biến âm, tạo thành một chuỗi âm thanh ai oán, thê lương, giống như tiếng gào khóc ai oán của một đám ma trôi nổi giữa tầng mây xám.
"Hạ diều! Mau hạ diều xuống!"
Tiếng ông Vạn gào lên lạc cả giọng giữa cơn lốc bụi. Ông lao bổ về phía cọc néo, hai bàn tay gân guốc chộp lấy sợi chão tre đang giật bần bật như một con mãng xà bị trúng tên.
Mười tráng đinh giáp Đông nghiến răng dùng hết sức bình sinh ghìm sợi dây lại, nhưng sức kéo từ tầng không lúc này nặng gấp ba bốn lần bình thường. Sợi chão tre căng cứng phát ra những tiếng kêu răng rắc rợn người, từng thớ tre bị tước ra, rỉ ra những giọt nước nhựa màu nâu đen tanh nồng dưới lực ma sát khủng khiếp.
Cụ Tiên quỳ sụp xuống bãi cỏ, hai tay chắp trước ngực, mắt nhìn trừng trừng lên vầng mây xám đang từ từ sà thấp xuống đỉnh ngọn diều cái, miệng lẩm bẩm khấn vái không ngừng:
"Thần núi tha tội! Thần núi tha tội! Chúng con không dám đo long mạch! Không dám mở cổng trời nữa đâu!"
Khoa nép chặt lưng vào thân cây gạo xù xì, mắt không rời khỏi cánh diều đại của ông nội đang quằn quại giữa đám mây đen đặc vừa tràn tới từ đỉnh Tản. Cậu thấy rõ mồn một trên lưng con diều, ngay cạnh bộ sáo gỗ đang rít lên từng tiếng nấc nghẹn, một vệt bóng đen mờ ảo, gầy guộc như hình bóng một người đang bò rạp trên khung tre, dằn con diều chúc mũi thẳng về phía vực sâu hun hút của dãy núi Ba Vì.