Lời Nguyền Diều Giấy - Chương 7: Bộ Khung Tre Đen Tuyền
Tiếng rền rĩ nghẹn ứ dưới đáy rương dội ngược lên hai bên màng nhĩ Khoa, sắc nhọn tựa một mũi dùi cạo nan cọ sát vào đá mài. Cậu cứng đờ người trên bệ…
Nội dung chương
Tiếng rền rĩ nghẹn ứ dưới đáy rương dội ngược lên hai bên màng nhĩ Khoa, sắc nhọn tựa một mũi dùi cạo nan cọ sát vào đá mài.
Cậu cứng đờ người trên bệ đá, hai bàn tay vẫn bám chặt lấy mép nắp gỗ lim nặng trịch. Luồng khí ẩm buốt từ kẽ hở phả thẳng vào từng lỗ chân lông trên mặt cậu, mang theo thứ mùi bùn sâu ngai ngái lẩn khuất mùi mỡ thú cháy khét. Gió đêm lọt qua khe liếp gian thờ tổ thổi tới, hắt những vệt sáng nhờ nhợ của ánh trăng muộn lên mười đầu ngón tay đang run rẩy của thằng bé mười bốn tuổi.
Dưới đáy rương, những chấn động lục bục bỗng im bặt.
Sự tĩnh lặng quay trở lại quá đột ngột khiến gian buồng tối om như đặc quánh lại. Khoa nuốt nước bọt, cuống họng khô khốc ran rát. Cậu lắng tai nghe ngóng ra phía nhà ngoài. Tiếng ngáy đều đặn của ông nội bên gian nhà ngang vẫn vang lên qua hai lớp tường gạch non. Con vượn đá trên đỉnh Ba Vì dường như cũng nín bặt, cả khu vườn sau chỉ còn tiếng lá chuối tiêu cọ vào bể nước mưa sột soạt từng cơn.
Nỗi tò mò tích tụ bấy lâu trong lồng ngực lấn át cảm giác lạnh gáy. Khoa cắn chặt môi dưới, ghìm hai gót chân xuống sàn đất nén, dùng hết sức bình sinh nâng bổng mép gỗ lim lên.
Bản lề sắt đúc thủ công cọ vào ngàm phát ra tiếng nghiến ken két khô khốc. Nắp rương nặng đến mức hai bắp tay Khoa căng phồng, gân xanh nổi chằng chịt dưới lớp da nâu rám nắng. Cậu nhấc dần chiếc nắp lên quá nửa thân rương, rồi lựa thế tựa mép gỗ dày cộp vào vách tường gạch rêu phong phía sau.
Một lớp hơi lạnh đặc quánh lập tức tràn ra, trườn qua mép rương rồi đổ ụp xuống hai bàn chân trần của Khoa. Cậu rùng mình, cảm giác lạnh buốt thấu vào xương tủy, hệt như lúc lội xuống đáy đầm sen hoang giữa cữ rét nàng Bân.
Khoa quỳ sát xuống miệng rương, cúi đầu nhìn vào khoảng tối thăm thẳm bên trong.
Chiếc rương dài hơn hai mét, đóng bằng gỗ lim già dày dặn, các góc rương được bọc đai đồng có đinh tán cỡ ngón tay cái. Dưới đáy rương không hề có vải điều đỏ phủ lên như những cỗ hòm đựng diều sáo đoạt giải hội làng của tổ tiên. Đập vào mắt cậu là một lớp ngải cứu khô trộn lẫn với hạt bình vôi và tro rơm nếp, rải dày gần nửa gang tay nhằm ngăn ẩm mốc và côn trùng đục khoét.
Nhưng lớp thảo mộc khô ấy đã bị xới tung sang hai bên, để lộ ra một tấm vải bạt màu chàm xám xịt phủ trùm lên một vật thể dài ngoằng.
Khoa hít sâu một hơi, thò tay nắm lấy góc tấm vải bạt thô ráp rồi giật mạnh.
Một đám bụi xám bay thốc lên làm cậu hắt hơi một tiếng nghẹn lại trong cổ họng. Dưới ánh trăng mờ đục rọi xiên qua ô cửa sổ con trên cao, vật thể nằm im lìm dưới đáy rương lộ diện toàn bộ hình hài.
Đó là một con diều.
Khoa mở trừng hai mắt, hơi thở dồn dập trong lồng ngực. Là đứa trẻ lớn lên bên chiếu chẻ nan của một nghệ nhân lão luyện, từng thấy qua hàng trăm cánh diều lớn nhỏ của khắp các làng nghề ven sông Đáy, sông Hồng, nhưng chưa bao giờ Khoa nhìn thấy một tạo tác quái dị đến nhường này.
Toàn bộ khung diều dài chừng sáu thước ta, chiếm trọn chiều dài lòng rương. Sống lưng diều và đôi nan cánh uốn cong làm từ thứ tre già đen tuyền, bóng loáng đến mức hắt lại ánh trăng thành những dải sáng lạnh lẽo như thép tôi. Cậu ngỡ ngàng đưa những ngón tay thô ráp chạm vào thanh sống diều.
Tre làm diều thông thường ở làng Nại luôn là tre gai bánh tẻ ngâm bùn ao đủ ba năm, sau đó vớt lên gác bếp hun khói rơm vàng óng như mật mía, dẻo dai mà nhẹ bẫng. Nhưng thanh nan tre này lại đặc ruột, nặng trịch một cách bất thường. Bề mặt thân tre nhẵn thín, các mắt tre được gọt phẳng lì không để lại một gờ ráp, phủ một lớp dầu đen sẫm tỏa ra mùi nhựa thông cổ thụ hòa lẫn mùi mỡ trăn nồng gắt.
Dưới ánh sáng lạnh, màu đen của nan tre không phải do lớp sơn bên ngoài, mà ngấm sâu vào từng thớ cật, tựa hồ thân cây tre này từng hút thứ nước đen ngòm dưới đáy huyệt mộ suốt hàng thế kỷ trước khi bị đốn hạ. Suốt chiều dài thân nan không hề có một vết nứt, không một lỗ mọt đục, bóng lộn và sắc sảo như vừa mới bước ra khỏi lưỡi dao cạo của người thợ vào buổi chiều hôm nay.
Khoa lần ngón tay theo dọc đường cong của sống diều xuống đến phần đuôi. Chỗ liên kết giữa các nan tre không dùng dây gai bện tẩm nhựa chuối tiêu như cách ông Vạn thường dạy cậu.
Những mối nối ở đây được quấn chặt bằng những sợi gân động vật màu nâu đỏ, dai nhách và khô quắt, thắt theo những nút thắt bát quái cực kỳ phức tạp. Đầu mối gân gắn chặt vào khung tre bằng một thứ keo màu cánh gián sền sệt, cứng như đá hoa cương, tỏa ra thứ mùi hôi tanh lờ lợ khiến dạ dày Khoa cồn cào từng chập.
"Tại sao lại dán kín thế này..." Khoa lẩm bẩm một mình, giọng cậu run rẩy lạc đi giữa gian phòng vắng.
Cánh diều đã được bồi giấy hoàn chỉnh. Nhưng chất liệu bồi trên khung tre đen tuyền kia tuyệt nhiên khác hẳn giấy dó làng Bưởi mà dân làng Nại vẫn dùng. Lớp giấy dán trên con diều dày dặn một cách kỳ lạ, bề mặt ráp rụa, ngả sang một màu vàng ệch nhớp nháp tựa như lớp da bụng của loài trăn gió phơi khô lâu năm. Từng lớp giấy được ghép nối với nhau bằng những đường viền khâu chỉ tơ tằm nhuộm đen, mũi chỉ đều tăm tắp, sít sao đến mức không một ngọn gió nào có thể lọt qua khe nối.
Trên nền giấy vàng úa ấy, người ta không vẽ hình mây cuộn, rồng lượn hay họa tiết sóng nước truyền thống của xứ Đoài.
Chạy dọc suốt hai bờ cánh diều là những vệt chu sa đỏ rực uốn lượn ngoằn ngoèo. Màu chu sa không bị phai nhạt theo năm tháng, trái lại vẫn tươi rói như những vệt máu tươi vừa quét lên mặt giấy. Những nét vẽ kéo dài, gấp khúc sắc nhọn tựa hình những tia sét giáng xuống từ tầng mây đen, ken dày những ký tự cổ tựa như những chiếc móng vuốt chim săn mồi đang quắp lấy mặt giấy.
Mỗi nét bút chu sa đều ăn sâu vào thớ giấy, nổi gồ lên những đường gân đỏ quạch. Khi nhìn thẳng vào tâm điểm giữa sống diều, nơi các đường bùa chú hội tụ lại thành một vòng tròn đồng tâm, đầu óc Khoa bỗng nhiên chao đảo. Cậu cảm thấy những đường chu sa ấy đang khẽ co rút nhịp nhàng, giống hệt những mạch máu đang đập phập phồng dưới lớp da mỏng của một sinh vật sống nằm bất động.
Khoa lùi lại nửa bước, mồ hôi lạnh rịn ra trên trán, nhỏ giọt xuống sàn đất.
Cậu nhớ lại những lời răn đe nghiêm ngặt của các cụ cao niên trong làng mỗi dịp mở hội tế thần đầu xuân. Người làng Nại đời đời kiếp kiếp chỉ làm ba kiểu cánh diều: diều cánh muỗm thuôn tròn đón gió lành, diều cánh cốc bầu bĩnh cầu mùa màng no đủ, và diều cánh chanh thanh thoát chở tiếng sáo gọi mưa thuận gió hòa. Bầu trời xứ Đoài là chốn ngự trị của thần linh ngọn núi Tản Viên, cánh diều đưa lên không trung phải mang dáng dấp hiền hòa, nương tựa vào khí trời mà bay bổng.
Tuyệt đối cấm kỵ hình dáng chim săn mồi.
Người già bảo, kẻ nào làm cánh diều mang hình chim ưng, cánh nhọn vuốt sắc, chính là kẻ mang dã tâm xé toạc bầu trời, khiêu khích thần gió. Cánh diều ấy sẽ hút lấy oán khí của những linh hồn chết bờ chết bụi lang thang trên chín tầng mây, biến thành con diều ma tác quái, rước tai ương và đổ máu xuống trần gian.
Nhưng con diều nằm dưới đáy rương này lại phạm vào điều cấm ngặt nghèo nhất.
Đôi cánh của nó không hề có độ cong mềm mại của diều truyền thống. Từ sống lưng tre đen tuyền, hai nan cánh vươn dài ra hai bên rồi bất thần bẻ gập về phía sau theo một góc nghiêng sắc lẹm, vuốt nhọn hoắt ở chóp cánh hệt như đôi cánh của một con đại bàng núi Ba Vì đang bổ nhào xuống bắt mồi.
Mép cánh diều mỏng dính, được vót sắc bén đến mức chỉ cần sơ ý quẹt qua cũng có thể cứa đứt da thịt. Nhìn tổng thể từ trên cao, con diều toát lên một vẻ tàn bạo, hung hãn và kiêu ngạo đến rợn người, sẵn sàng đâm thủng bất kỳ ngọn gió nào cản đường bay của nó.
Một cảm giác thôi thúc quái đản dâng lên trong đáy lòng Khoa. Nỗi sợ hãi ban đầu dần bị lòng hiếu kỳ tột độ nuốt chửng.
Cậu nhớ đến dáng vẻ run rẩy của ông nội khi quỳ lạy trước bàn thờ tổ vào buổi chiều, nhớ đến giọt nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo của ông khi nhắc đến người cha đoản mệnh của cậu. Nguyễn Thức, người thợ làm diều tài ba nhất làng Nại mười năm trước, có phải cũng từng đứng trước chiếc rương này, ngắm nhìn bộ khung tre đen tuyền này với ánh mắt say mê như cậu lúc này?
Có phải cha cậu đã chết vì muốn chế ngự con quái vật bằng tre và giấy này trên đỉnh Tản Viên?
"Chỉ là một con diều thôi mà..." Khoa thì thầm, bàn tay vô thức vươn ra. "Tre rốt cuộc vẫn là tre, giấy rốt cuộc vẫn là giấy."
Những ngón tay của Khoa chầm chậm hạ xuống, áp thẳng lòng bàn tay vào khoảng giấy vàng ệch nằm giữa hai vệt phù chú chu sa trên cánh trái con diều.
"Xoẹt!"
Một cơn chấn động buốt giá chạy dọc từ đầu ngón tay xộc thẳng vào tủy sống Khoa.
Lớp giấy dán không hề mang nhiệt độ của căn phòng hay độ ẩm của lớp rơm rạ. Nó lạnh ngắt. Cái lạnh sắc bén, buốt nhức tựa như cậu vừa áp cả bàn tay trần vào một tảng băng trôi vớt lên từ đáy giếng khơi giữa mùa đông giá rét.
Khoa giật nảy mình định rụt tay lại, nhưng da thịt nơi đầu ngón tay cậu dường như bị một lực hút vô hình dính chặt lấy mặt giấy dó. Lớp biểu bì trên da tê dại đi trong chốc lát, mất hết mọi cảm giác. Cậu trân trối nhìn xuống, nơi tiếp xúc giữa da tay và mặt giấy bỗng ửng lên một quầng sáng mờ nhạt màu tím sẫm, rồi những đường vân chu sa xung quanh khẽ co giật.
Dưới lớp giấy dày cộp, thanh nan tre đen tuyền khẽ rung lên một nhịp ngắn ngủi. Một tiếng "tách" khô khốc vang lên từ khớp nối bện bằng gân thú, tựa như một đốt xương vừa tự nắn lại cho ngay ngắn sau giấc ngủ vùi hàng chục năm ròng.
Khoa nghiến răng, giật mạnh cánh tay về phía sau.
"Bốp!"
Cậu ngã ngửa ra sàn đất nén, lưng đập mạnh vào mép bệ đá kê gian thờ. Cú va chạm đau điếng khiến Khoa tỉnh hẳn người. Cậu ôm lấy bàn tay phải, thở dốc từng cơn.
Bàn tay cậu trắng bệch, năm đầu ngón tay đỏ ửng rồi chuyển dần sang màu tím tái vì lạnh, các khớp ngón tay cứng đờ lại không thể co duỗi bình thường. Phải mất một hồi lâu xoa nắn và hà hơi ấm vào lòng bàn tay, cảm giác đau rát quen thuộc mới chầm chậm quay trở lại trên da thịt.
Con diều dưới đáy rương vẫn nằm yên bất động, nhưng bầu không khí xung quanh nó đã biến đổi hoàn toàn. Luồng hàn khí tỏa ra từ lòng rương càng lúc càng đậm đặc, biến hơi thở hắt ra từ miệng Khoa thành những luồng khói trắng lượn lờ trong bóng tối.
Ánh mắt Khoa lại dán chặt vào con diều. Nỗi khiếp đảm ban nãy không đẩy lùi được cậu, trái lại càng làm bùng cháy ngọn lửa ngỗ ngược của tuổi mười bốn.
Một con diều biết rung chuyển, một bộ khung tre đen tuyền không chịu mục nát, một thứ vũ khí của bầu trời có thể khiến cha cậu liều mạng theo đuổi. Đây chắc chắn là tuyệt tác ngàn năm có một, thứ có thể đập tan mọi lời nhạo báng của thằng Thao và đám trẻ bãi đê, thứ có thể chứng minh dòng máu thợ làm diều chảy trong người cậu không hề thua kém bất kỳ ai trên cõi đời này.
Khi định thần nhìn kỹ lại vào lòng rương để tìm kiếm bộ sáo đi kèm, ánh mắt Khoa bỗng dừng lại ở khoảng trống hẹp nằm kẹp giữa sống lưng diều và vách gỗ lim phía trong.
Nằm khuất dưới mép cánh diều nhọn hoắt là một cuộn lụa điều cổ dài chừng hai gang tay. Cuộn lụa đã ngả sang màu đỏ sẫm của máu khô, bên ngoài buộc chặt bằng một sợi chỉ ngũ sắc đã sờn rách. Đầu mép lụa lòi ra những dòng chữ Hán viết bằng mực tàu đen nhánh, nét chữ sắc bén, ngạo nghễ đâm thẳng vào mắt người nhìn.
Khoa nín thở, chầm chậm quỳ thẳng dậy, run rẩy đưa bàn tay vừa lấy lại được hơi ấm về phía dải lụa điều bí ẩn.