Lời Nguyền Diều Giấy - Chương 9: Cậu Bé Lục Rương Giờ Dậu

Bóng tối ở chân núi Ba Vì sập xuống nhanh như một tấm màn vải đen ướt nước hắt thẳng lên đầu làng Nại. Mặt trời vừa chìm hẳn sau rặng tre mé tây, tiếng…

Nội dung chương

Bóng tối ở chân núi Ba Vì sập xuống nhanh như một tấm màn vải đen ướt nước hắt thẳng lên đầu làng Nại.

Mặt trời vừa chìm hẳn sau rặng tre mé tây, tiếng mõ cầm canh điểm dồn dập ba hồi ngắn cẩu thả vang lên từ điếm canh đầu thôn, báo hiệu giờ Dậu đã cạn. Đó là cái mốc vô hình nhưng khắc nghiệt mà người già trong làng truyền nhau qua bao đời. Hễ tiếng mõ dứt, mọi nhà đều phải hạ then cài chặt cửa ngõ, chuồng gà chuồng lợn cài then đôi, trẻ con đang chạy nhảy ngoài bãi đê cũng bị người lớn túm cổ lôi xềnh xệch về sân. Đèn dầu trong các nếp nhà tranh chỉ được phép vặn bấc thật nhỏ, le lói qua khe liếp như những cặp mắt cú vọ ngái ngủ. Người làng Nại sợ bầu trời sau giờ Dậu. Họ tin rằng khi ráng chiều đỏ quạch như vệt máu cạn kiệt trên đỉnh núi Tản, bầu trời thuộc về loài chim dữ và những vong hồn ngã từ tầng mây xuống đất đá năm nào.

Khoa nép sát lưng vào bờ tường đá ong xù xì sau gian buồng chứa rơm, hai cánh tay ghì chặt khối vật thể dài bọc kín bằng bao gai trước ngực. Khối tre nặng trịch và buốt lạnh. Cái lạnh không giống như sương đêm hay nước giếng khơi mùa đông, mà là thứ hàn khí sắc nhọn ngấm qua lớp áo cộc tay mỏng tang, găm từng mũi kim buốt nhức vào xương sườn cậu.

Cậu nín thở, lắng tai nghe ngóng. Gian nhà trên hoàn toàn im ắng, chỉ có tiếng thở dài nặng nhọc cùng tiếng ho khan ngắt quãng của ông nội Vạn chìm dần sau bức rèm vải ba. Chiếc giường tre cọt kẹt một nhịp ngắn rồi tắt hẳn. Ông Vạn đã thiếp đi sau một ngày còng lưng vót nan, uốn khung cho đám diều cánh cung chuẩn bị cho hội làng sắp tới.

Khoa rụt cổ, lách người qua cánh cổng ngách đan bằng nứa tép. Cánh cổng này vốn xộc xệch, mỗi lần mở ra đều phát ra tiếng nghiến răng kẽo kẹt, nhưng chiều nay cậu đã lén lấy tóp mỡ lợn bôi đẫm vào các chốt tre. Bản lề trượt đi êm ru, không để lại một gợn âm thanh nào giữa màn đêm đặc quánh.

Đôi chân trần của cậu bé mười bốn tuổi chạm vào lớp đất bùn ẩm lạnh của con ngõ xóm.

Làng Nại lúc này vắng ngắt đến rợn người. Con đường lát gạch nghiêng chạy dọc bờ mương rêu phong phủ kín, hai bên bờ rào dâm bụt rậm rạp đứng im phăng phắc. Không có một bóng người lai vãng. Ngay cả lũ chó săn vốn thính mũi ở xóm Trại cũng trốn biệt dưới gậm giường hay góc bếp, thỉnh thoảng chỉ hắt ra những tiếng rên ư ử nghẹn ứ nơi cuống họng khi ngửi thấy mùi gì đó lạ lẫm trôi qua khe liếp.

Khoa bước từng bước thận trọng, lòng bàn chân bám chặt vào từng viên gạch trơn trượt. Mỗi khi bước qua một cổng nhà khép kín, cậu lại thấy những lá bùa bát quái dán trên mi cửa khẽ phập phồng. Có nhà cẩn thận hơn, trước cổng còn treo thêm một chiếc sáo diều con bằng gỗ thị gọt rỗng ruột, nhét đầy tỏi khô và tro bếp để yểm trừ tà khí. Người già bảo sáo đó dùng để dằn mặt những thứ vô hình rình rập trên nóc nhà, nhưng Khoa nhìn mớ đồ chơi con nít ấy chỉ thấy buồn cười.

Cha cậu, ông Nguyễn Thức, từng nói rằng kẻ làm chủ bầu trời không cần phải run rẩy sau những tấm bùa giấy. Kẻ nào nắm được ngọn gió trên chín tầng mây, kẻ đó mới là người đứng đầu thiên hạ.

Nghĩ đến người cha đoản mệnh, lồng ngực Khoa lại nhói lên một cảm giác ấm ức lẫn kiêu hãnh. Cậu ôm chặt gói bọc trước ngực hơn nữa. Khung tre đen tuyền bên trong dường như cảm nhận được sự kích động của cậu, thớ gỗ khẽ rung lên từng nhịp mơ hồ, ép chặt vào da thịt cậu như muốn nhắc nhở về sự hiện diện sống động của nó.

Cậu đi vòng qua miếu Cây Đa rỗng ruột ở ngã ba làng. Cây đa cổ thụ hàng trăm năm tuổi xòe những chùm rễ phụ buông thõng xuống đất như những cánh tay khẳng khiu của bầy quỷ đói. Dưới gốc cây, những bát hương sành cắm đầy chân nhang đỏ quạch vẫn còn bốc lên từng sợi khói mỏng tanh, mùi trầm hương rẻ tiền quyện lẫn mùi lá mục tạo nên một thứ không khí ngột ngạt đến nghẹt thở.

Khoa cúi gằm mặt, rảo bước thật nhanh qua khoảng sân miếu lát đá xanh. Cậu sợ phải nhìn vào hốc rỗng của thân cây đa, nơi người làng thường vứt bỏ những chiếc sáo diều bị vỡ miệng hay những mảnh khung diều gãy do đâm xuống đất trong các mùa hội trước. Người ta bảo đó là nơi tụ tập của những con diều chết, linh hồn của chúng vẫn bám víu vào từng thớ tre mục nát, rình rập chờ đợi kẻ đi đêm để gieo rắc tai ương.

Vượt qua con mương thủy lợi chắn ngang đầu làng, không gian mở toang ra trước mắt Khoa.

Bãi hoang chân núi Ba Vì hiện ra lừng lững trong bóng chiều tà đã tắt hẳn. Đây là một dải đất bồi rộng mênh mông, kéo dài từ rìa làng Nại cho đến tận chân vách đá dựng đứng của ngọn núi Tản Viên. Ban ngày, đám trẻ chăn trâu vẫn thường lùa trâu ra đây gặm cỏ, nhưng tuyệt nhiên không đứa nào dám bén mảng đến đây khi mặt trời đã khuất bóng. Bãi đất mọc đầy cỏ tranh cao ngang ngực người, rải rác những tảng đá mồ côi màu xám xịt nằm trơ trọi như những nấm mồ vô chủ. Xa hơn nữa, vách đá dựng đứng của núi Ba Vì đen ngòm, chọc thẳng lên vòm trời tím ngắt mờ mịt sương lam, ba đỉnh núi nhọn hoắt ẩn hiện sau những dải mây nặng trĩu tựa như ba lưỡi giáo khổng lồ cắm ngược xuống trần gian.

Gió lạnh từ khe núi thổi thốc ra từng cơn buốt rát, tạt thẳng vào mặt Khoa. Cậu đứng chôn chân ở mép bãi hoang, hít một hơi thật sâu. Mùi bùn sình ngai ngái quện với mùi nhựa thông già từ trên núi cao xộc thẳng vào buồng phổi, khiến toàn bộ tế bào trong cơ thể cậu căng ra vì phấn khích xen lẫn ớn lạnh.

Không còn ai ngăn cản cậu nữa. Không còn những lời cấm đoán cay nghiệt của ông nội Vạn, không còn những ánh mắt dò xét sợ sệt của dân làng, cũng không còn những tiếng nhạo báng của thằng Thao cùng đám trẻ bãi đê. Ở đây, giữa khoảng đất trời hoang vu này, chỉ có cậu và con quái vật bằng tre đen đang ngủ say trong lớp bao gai.

Khoa tiến sâu vào giữa bãi hoang, giẫm đạp lên những gốc cỏ tranh sắc nhọn. Đôi chân trần bị cứa rát bỏng, nhưng cậu không màng tới. Cậu chọn một khoảng đất bằng phẳng, nơi lớp đất thịt khô ráo hơn, rồi cẩn thận quỳ một chân xuống, đặt bọc vải gai xuống nền đất.

Bàn tay cậu run rẩy tháo từng nút buộc bằng sợi dây đay thô ráp. Lớp vải ba tuột ra, để lộ khung diều tre đen tuyền bóng nhẫy dưới ánh sáng mờ mịt của bầu trời đêm.

Mặt giấy dó cổ ngả màu vàng ệch như da người ốm khẽ căng ra. Những vệt chu sa ngoằn ngoèo vẽ bùa chú cổ đại chạy dọc theo mép cánh diều đỏ ửng lên một cách kỳ dị, tựa như những đường gân máu đang phập phồng hấp thụ bóng tối xung quanh. Hai đầu cánh hình chim ưng vuốt nhọn hoắt chĩa thẳng sang hai bên, sắc bén đến mức có thể xé rách màn sương đêm đang lượn lờ là là mặt đất.

Khoa thò tay vào cạp quần, rút ra cuộn dây cước to bằng bắp tay mà cậu đã lén lấy từ gác bếp nhà ông nội. Đó là cuộn cước bện bằng sợi gai rừng ngâm nhựa trám đen nhánh, bền chắc đến mức hai con trâu mộng kéo đôi cũng khó lòng giật đứt. Cậu run rẩy tìm đến khớp nối bằng gân thú ở phần ức con diều, luồn sợi cước qua lỗ xỏ rồi thắt nút con thoi ba vòng theo đúng ngón nghề gia truyền mà ông nội từng dạy.

Từng cử động của cậu đều chính xác, thuần thục như một bản năng đã ngấm sâu vào máu thịt từ thuở lọt lòng. Nhưng càng buộc chặt mối nối, lồng ngực Khoa càng đập dồn dập như gõ trống.

Cậu nhớ lại lời nguyền mà ông Vạn từng nhắc đi nhắc lại bên bếp lửa: con diều cánh ưng là thứ diều đoạt mệnh, ngàn năm trước quân giặc phương Bắc dùng nó để trấn yểm linh khí Ba Vì, thả nó lên trời vào giờ Dậu chính là mở cửa cho loài ma trên mây tìm đường xuống đất.

"Chỉ là lời dọa dẫm của người già thôi," Khoa lẩm bẩm một mình, giọng cậu lạc đi giữa không gian vắng lặng. "Tre thì vẫn là tre do người vót, giấy thì vẫn là giấy do người làm. Cha đã dám làm, cớ sao mình lại phải sợ?"

Cậu đứng thẳng dậy, hai tay nâng ngang thân con diều tre đen tuyền. Trọng lượng của nó dường như nặng hơn lúc ở trong nhà, kéo trĩu hai khớp vai cậu xuống. Lớp giấy dó lạnh ngắt truyền thẳng qua lớp da thịt ở lòng bàn tay, khiến mười đầu ngón tay cậu bắt đầu tê dại, mất dần cảm giác.

Khoa ngẩng đầu lên, chuẩn bị đón hướng gió để chạy đà. Theo thói quen của người làng Nại, cậu đưa ngón tay trỏ lên miệng làm ướt rồi giơ thẳng lên trời để dò luồng gió.

Nhưng ngón tay cậu không cảm nhận được bất kỳ hơi lạnh nào lướt qua.

Không gian xung quanh bỗng nhiên rơi vào một sự tĩnh lặng tuyệt đối, quái đản đến gai người.

Gió mặt đất hoàn toàn lặng ngắt. Không có một ngọn gió lạc nào thổi qua bãi hoang. Chiếc áo cộc tay Khoa đang mặc rủ xuống dính chặt vào da thịt đẫm mồ hôi hột. Tán lá của cây sung dại mọc cách đó mười bước chân đứng sững như tạc bằng đá xám, không một chiếc lá nào rung rinh. Màn đêm dường như đông cứng lại thành một khối đặc quánh, bóp nghẹt mọi âm thanh của ếch nhái, côn trùng dưới chân núi.

Cả bãi đất hoang im ắng như một nghĩa địa vừa bị phong ấn dưới đáy vực sâu.

Thế nhưng, ngay dưới tầm mắt của Khoa, một dị tượng hãi hùng bỗng nhiên diễn ra.

Từng vạt cỏ tranh sắc nhọn dưới chân cậu, dù không hề có lấy một ngọn gió thổi qua, lại bắt đầu chuyển động. Chúng không đung đưa qua lại theo cách thông thường, mà rạp mình xuống sát mặt đất, uốn lượn liên hồi như hàng vạn con rắn lục đang bò trườn trên bùn lầy.

Lớp cỏ tranh ngả rạp đều tăm tắp về một hướng duy nhất. Chúng hướng mũi lá nhọn hoắt về phía chân vách đá dựng đứng của ngọn núi Ba Vì, nơi màn sương lam dày đặc đang cuộn trào như một nồi nước sôi khổng lồ.

Tiếng những cọng cỏ tranh khô cọ xát vào nhau phát ra những âm thanh ràn rạt, ràn rạt khô khốc, tựa như tiếng hàng ngàn bàn tay vô hình đang cào cấu dưới lòng đất nén, cố sức rẽ lối để tiến về phía ngọn núi thiêng.

Khoa rùng mình, lông tơ khắp người dựng đứng. Cậu cúi nhìn xuống chân mình. Đôi bàn chân trần của cậu đang bị những ngọn cỏ tranh uốn lượn quấn lấy mắt cá chân, kéo giật nhẹ về phía ngọn núi tăm tối phía trước.

Mặt đất dưới chân cậu dường như đang thở. Từng nhịp phập phồng mơ hồ truyền qua lòng bàn chân trần, lạnh buốt và rợn ngợp.

Trên hai cánh tay Khoa, con diều tre đen tuyền bỗng nhiên nặng trịch như một tảng đá. Hai đầu cánh hình chim ưng khẽ rung lên một nhịp ngắn ngủi, rồi đứng trơ trơ giữa bãi đất hoang, tựa hồ như nó đã nhìn thấu thứ gì đó đang chầm chậm trườn ra từ màn sương mù dày đặc trên đỉnh núi Ba Vì.

Chương khác

Xem thêm