Lời Nguyền Diều Giấy - Chương 6: Chiếc Rương Gỗ Khóa Chặt
Tiếng mõ cầm canh điểm ba tiếng trầm đục từ phía điếm tuần đầu làng vọng lại, tan loãng vào màn sương đêm ẩm ướt trườn xuống từ vách núi Ba Vì. Khoa nép…
Nội dung chương
Tiếng mõ cầm canh điểm ba tiếng trầm đục từ phía điếm tuần đầu làng vọng lại, tan loãng vào màn sương đêm ẩm ướt trườn xuống từ vách núi Ba Vì.
Khoa nép mình sau tấm rèm vải thô ngăn cách giữa chái bếp và gian nhà trên. Chân cậu không mang dép, mười đầu ngón chân bấu chặt lấy nền đất nện lạnh ngắt. Đêm tháng Ba ở vùng chân núi mang theo cái rét nàng Bân căm căm luồn qua từng khe liếp nứa, quất từng luồng buốt giá vào da thịt trần của thằng bé mười bốn tuổi. Bên ngoài, những bụi tre đằng ngà cọ vào nhau kẽo kẹt dưới sức đẩy của những luồng gió quẩn từ đỉnh núi dội về, tạo ra thứ âm thanh rền rĩ, ai oán hệt như tiếng khóc than ban chiều ngoài bãi hội.
Từ gian nhà ngang, tiếng ngáy của ông Vạn đều đặn vang lên, thỉnh thoảng ngắt quãng bởi một tràng ho khan kéo dài và tiếng cựa mình lục cục trên chiếc chõng tre ọp ẹp. Cơn mệt mỏi cùng sự kinh hoàng sau biến cố đứt dây diều ban trưa đã vắt kiệt sức lực của người thợ già. Mùi dầu tràm xoa bóp lẫn mùi bồ kết nướng cay nồng phảng phất từ căn buồng của ông bay sang, át đi phần nào mùi ẩm mốc của gian bếp.
Khoa nín thở, chờ đợi cho tràng ho của ông dứt hẳn. Khi nhịp thở đều đều nặng nhọc của người già lại cất lên, cậu mới nhấc nhẹ gót chân bước ra gian chính.
Bóng tối trong nhà dày đặc quánh đặc lại như mật mía. Cả gian nhà ba gian hai chái ngập chìm trong một màu đen sì, chỉ có vệt sáng mờ nhạt le lói hắt qua khe cửa sổ con soi rọi những hạt bụi lơ lửng trong không khí. Khoa đã sống ở đây từ tấm bé, từng thớ gỗ xẻ, từng vết nứt trên cột cái hay vị trí từng viên gạch mòn vẹt trên lối đi đều in sâu vào lòng bàn chân cậu. Cậu đi lướt qua bộ tràng kỷ trắc gụ mà không hề phát ra một tiếng động nhỏ, hai bàn tay giơ ra phía trước dò dẫm trong khoảng không mờ mịt.
Bàn thờ tổ họ Nguyễn sừng sững ở gian giữa, toát ra mùi hương bài trầm mặc và mùi sơn ta cổ kính đã qua hàng trăm năm thử lửa.
Khoa đứng trước bệ thờ, ngửa cổ nhìn lên. Tấm màn nhiễu đỏ rủ xuống che khuất các bài vị tiền nhân. Dưới chân bệ thờ là chiếc lư hương bằng đồng thau chạm nổi hình lưỡng long tranh châu nặng trịch, bốn chân quỳ vững chãi bám chặt vào mặt gỗ lim. Tàn hương của tuần nhang ban chiều cắm dày đặc, đầu que tàn uốn cong như những ngón tay khô quắt rũ xuống lòng bát đồng.
Cậu nuốt nước bọt ực một tiếng, cổ họng khô khốc. Lời dặn dò nghiêm khắc và ánh mắt thất thần của ông nội trưa nay bỗng chốc hiện rõ mồn một. Ông đã dập đầu lạy tổ tiên, đã van vái xin đừng để cái giống diều ma quỷ cướp nốt mạng cậu.
Nhưng hình ảnh cha cậu - ông Nguyễn Thức - với nụ cười ngạo nghễ trong tấm ảnh hoen ố kẹp chặt nơi ngực áo lại thúc giục cậu tiến bước. Thằng Thao ban trưa đã cười nhạo cậu trước mặt cả làng. Nó bảo cha cậu chết vì tham lam, còn cậu chỉ là thằng ranh con ôm ống suốt không bao giờ dám ngửa mặt đón gió lớn.
Cơn uất ức dồn lên tận thái dương, đánh bạt mọi nỗi sợ hãi mơ hồ.
Khoa bước lên mép phản gỗ, nhón gót với tay lên bệ thờ. Bàn tay cậu run rẩy chạm vào bề mặt kim loại lạnh ngắt của chiếc lư hương đồng. Lớp bụi tro mịn màng bám đầy kẽ tay. Cậu luồn những ngón tay gầy guộc xuống khoảng trống bên dưới đáy lư hương, lần mò từng phân đất tối tăm nơi góc khuất nhất.
Đầu ngón tay trỏ chạm phải một vật thể bằng kim loại cứng ráp và lạnh buốt.
Khoa cắn chặt môi dưới, cẩn thận nhấc từng chút một để chiếc lư hương nặng hàng chục cân không phát ra tiếng va chạm nào với mặt gỗ. Cậu móc ra một chùm chìa khóa. Tiếng kim loại va vào nhau khẽ vang lên "lách cách" một âm thanh giòn tan, nhưng giữa sự tĩnh mịch của đêm khuya, âm thanh ấy nghe chói tai đến mức làm tim cậu đập dồn dập như gõ trống trong lồng ngực.
Cậu đứng sững người, mắt dán chặt về phía gian nhà ngang, toàn thân cứng đờ như tượng gỗ.
Một con thạch sùng trên xà nhà tặc lưỡi vài tiếng khô khốc. Ngoài sân, một cơn gió núi Ba Vì lại ùa qua làm tàu lá chuối đập phành phạch vào tường hoa. Tiếng thở của ông Vạn bên kia vẫn đều đặn, chỉ có tiếng chiếu cói sột soạt khi ông trở mình.
Khoa thở phào một hơi nhẹ bẫng. Cậu siết chặt chùm chìa khóa trong lòng bàn tay, cảm nhận những gờ răng cưa góc cạnh và lớp rỉ đồng ram ráp cứa vào da thịt. Đó là chùm chìa bằng đồng thau đen xỉn, gắn kèm với một chiếc then sắt to bản có khắc những đường vạch chéo hình mạng nhện - chiếc chìa mở cánh cửa nách dẫn vào gian thờ tổ cấm kỵ.
Khoa lách người men theo dãy cột quân, tiến về phía cánh cửa nách nằm khuất sau bức bình phong gỗ.
Cánh cửa lim dày nặng đóng im ỉm. Trên then sắt cài ngang, vệt mực chu sa đỏ au mà ông Vạn vẽ chiều nay đã khô cong lại, tạo thành một lớp vảy màu nâu sẫm vắt ngang qua khe nối. Mùi chu sa nồng gắt pha lẫn mùi mực tàu xộc thẳng vào cánh mũi Khoa, mang theo vị tanh lờ lợ kỳ quái.
Cậu nâng chùm chìa khóa lên, áp sát mắt vào ổ khóa ngầm gắn liền trên khung bao. Cậu chọn chiếc chìa dài nhất, có những khía răng cưa ngoằn ngoèo kỳ dị đưa vào miệng khóa.
Chiếc chìa vừa khít.
Khoa dùng cả hai tay, gồng hết sức bình sinh vặn mạnh sang bên phải. Lớp rỉ đồng bám chặt khiến then khóa cứng ngắc. Cậu nghiến chặt răng, dồn trọng lượng toàn thân vào hai bàn tay, xoay một vòng dứt khoát.
"Tách!"
Tiếng lẫy lò xo bật ra đanh gọn. Cùng lúc đó, vệt mực chu sa niêm phong bị lực kéo xé toạc, vỡ vụn thành những hạt bụi đỏ li ti rơi lả tả xuống mu bàn chân trần của Khoa. Cậu vội vàng rút then sắt ra, đặt nhẹ xuống góc tường, rồi đẩy nhẹ cánh cửa gỗ lim vào bên trong.
Bản lề không phát ra một tiếng rên rỉ nào, dường như đã được tra lớp mỡ trâu dày đặc từ trước. Một khoảng không gian u tối sâu hun hút mở ra trước mắt cậu.
Khoa bước qua ngưỡng cửa gỗ cao ngang bắp chân. Gian thờ tổ này vốn là nơi cất giữ những vật dụng linh thiêng nhất của phường diều họ Nguyễn qua nhiều đời. Không khí ở đây đặc quánh, ngột ngạt và mang một mùi vị rất riêng biệt: mùi của những nan tre ngâm bùn hàng chục năm, mùi nhựa bồ đề nấu lẫn vỏ tràm dùng để dán giấy, và mùi của lớp tro rơm ủ ấm các giàn sáo cổ.
Ánh trăng mờ đục rọi qua chấn song cửa sổ trên cao, hắt xuống những dải sáng xám xịt cắt ngang căn phòng.
Hai bên vách tường treo lủng lẳng hàng chục bộ khung diều cũ kỹ. Có những con diều cánh muỗm, diều cánh cốc đã rách bươm giấy dó, trơ ra những chiếc nan tre cong vút như xương sườn của những con quái thú thời tiền sử. Trên xà ngang, hàng chục ống sáo bằng gỗ mun, gỗ gụ hay đốt trúc già nằm im lìm trong bụi bặm, miệng sáo khoét sâu hoắm như những con mắt mù lòa nhìn trừng trừng xuống kẻ đột nhập.
Khoa không bận tâm đến những thứ đó. Ánh mắt cậu dồn thẳng về góc tối sâu nhất của gian phòng, nơi kê một chiếc bệ đá thấp bằng phẳng.
Nằm chình ình trên bệ đá là một chiếc rương gỗ lim to lớn khác thường. Chiếc rương dài hơn hai mét, bề ngang rộng chừng ba gang tay, được phủ kín bằng một lớp rơm nếp mục nát và những tàu lá chuối khô xơ xác. Lớp rơm này dày đến mức biến chiếc rương thành một ụ đất hoang phế nằm nép mình vào bóng tối, nếu không quan sát kỹ từ buổi chiều qua khe liếp, Khoa không tài nào phát hiện ra được.
Cậu quỳ xuống trước chiếc rương, hai tay run rẩy gạt phăng lớp rơm mục sang hai bên.
Bụi rơm bốc lên mù mịt, xộc vào cuống họng khiến Khoa phải đưa tay áo lên bịt chặt miệng để ngăn một cơn ho đang chực bùng phát. Cậu cào lớp rác rưởi phủ ngoài, để lộ ra bề mặt gỗ lim đen bóng láng mịn nhưng lạnh như băng. Mặt nắp rương không chạm khắc hoa văn mây rồng hay hoa sen như đồ thờ thông thường, mà khắc chìm những đường rãnh ngoằn ngoèo hình cánh chim cách điệu, uốn lượn sắc nhọn tựa như những nhát chém găm sâu vào thớ thịt gỗ.
Chính giữa nắp rương là một chiếc khóa then đồng hình bán nguyệt khổng lồ. Ổ khóa này đen sì vì thời gian, to bằng cả bàn tay người lớn, hai đầu then gài cắm sâu vào hai tai sắt đúc liền với thân rương.
Khoa cầm chiếc chìa khóa thứ hai trên xâu chìa - chiếc chìa có thân rỗng hình ống lục giác, trên thân khắc chìm ba dấu chấm tròn thẳng hàng. Cậu tra chìa vào lỗ khóa ở đáy ổ đồng.
Khớp chìa ăn sâu vào trục sắt bên trong.
Trái tim Khoa đập dồn dập đến mức hai màng nhĩ lùng bùng. Cậu biết rõ hành động này vượt qua mọi giới hạn của đạo làm con cháu trong nhà. Nếu ông Vạn tỉnh giấc và bắt quả tang, có lẽ trận đòn roi mây nặng nhất đời sẽ giáng xuống lưng cậu. Thậm chí, cậu có thể bị đuổi ra khỏi họ tộc vì đã cả gan mạo phạm đồ phong ấn của tổ tiên.
Nhưng bàn tay cậu không dừng lại. Nỗi ám ảnh về cái chết bí ẩn của cha trên đỉnh núi Tản mười năm trước, cùng tiếng sáo ai oán ban chiều đang thúc giục một sức mạnh ngông cuồng bên trong huyết quản cậu.
Khoa nín thở, hai tay nắm chặt chuôi chìa khóa đồng, dồn lực bẻ gập chốt lẫy.
"Rắc! Cạch!"
Một chuỗi âm thanh kim loại khô khốc vang lên từ sâu bên trong ổ khóa. Khối then đồng nặng trịch rung lên bần bật rồi trượt mạnh sang một bên, để lộ ra khoảng hở giữa nắp rương và thân gỗ.
Khoa đưa hai tay bám vào mép nắp rương bằng gỗ lim dày đến hai đốt ngón tay. Cậu lấy thế, chuẩn bị dùng sức nhấc bổng chiếc nắp nặng nề lên.
Ngay khi mép gỗ vừa hé mở chừng một kẽ hở nửa đốt ngón tay, một luồng khí hàn buốt xộc thẳng ra ngoài, tạt rát rạt vào mặt, vào cổ họng Khoa.
Luồng khí lạnh ấy buốt giá đến tê dại, không giống với cái rét của gió núi Ba Vì đêm sương, mà là cái lạnh ẩm ướt của tầng đất sâu chôn cất lâu năm dưới đáy vực. Đi kèm với luồng gió buốt là một mùi hương nồng nặc đến buồn nôn: mùi bùn non ẩm mốc tanh lợm quện chặt với mùi máu tanh của loài thú săn mồi và vị mặn chát của nhựa cây rừng bị thiêu đốt.
Khoa rùng mình ớn lạnh, da gà trên cánh tay nổi lên từng lớp ráp rụa.
Trước khi cậu kịp định thần để nâng nắp rương lên cao hơn, toàn bộ khối gỗ lim nặng hàng tạ trên bệ đá bỗng nhiên khẽ rung rinh.
Từ tận đáy sâu của chiếc rương gỗ, bên dưới những tấm ván đáy áp sát mặt đá lạnh lẽo, truyền lên những chấn động nhịp nhàng, lục bục như có một vật thể gì đó đang chuyển động. Kèm theo sự rung chuyển ấy là một âm thanh the thé, nghẹn ngào luồn qua khe hở nắp gỗ - âm thanh tựa như tiếng gió hú bị bóp nghẹt giữa hai vách đá dựng đứng, rền rĩ và ai oán cào xé vào màn đêm tĩnh mịch của ngôi nhà cổ.