Lời Nguyền Diều Giấy - Chương 5: Lòng Kiêu Kỵ Của Tuổi Mười Bốn
Cơn gió độc từ đỉnh Ba Vì trườn qua bãi đình rồi đột ngột tan biến vào các vạt rừng kẽ kẽ sau khi con diều đại bị kéo ghì xuống đất. Dưới chân gốc gạo cổ…
Nội dung chương
Cơn gió độc từ đỉnh Ba Vì trườn qua bãi đình rồi đột ngột tan biến vào các vạt rừng kẽ kẽ sau khi con diều đại bị kéo ghì xuống đất.
Dưới chân gốc gạo cổ thụ, đám cỏ mật bị giày xéo nát bét, bốc lên mùi ngai ngái nồng nặc hòa lẫn mùi bùn khô nứt nẻ. Sợi chão tre néo cánh diều của giáp Đông nằm sóng soài trên mặt đất, những thớ nan cọ xát đến tưa chỉ, rỉ ra lớp nhựa nâu sẫm dính nhớp nháp trên từng đốt tay chai sần của nhóm tráng đinh. Không khí hội thi vừa lúc nãy còn náo nức tiếng hò reo, tiếng trống khẩu giòn giã thúc liên hồi, bấy giờ chùng hẳn xuống, ngột ngạt và nặng trĩu mùi trầm hương giải hạn mà cụ Tiên đang vội vã rảy khắp bốn góc bãi tế.
Khoa buông lỏng hai tay, ống suốt gỗ quấn dây cước nặng trịch trượt khỏi bắp đùi, rơi đánh "bộp" xuống bãi đất pha cát. Lòng bàn tay cậu rát bỏng, da thịt hằn sâu những lằn đỏ tía do lực giằng xé của sợi cước ban nãy. Nhưng vết rát trên da thịt chẳng thấm vào đâu so với nỗi bẽ bàng đang dâng nghẹn ứ nơi cổ họng.
Cánh diều đại mang niềm kiêu hãnh của ông Vạn, con diều mà cả giáp Đông đặt trọn kỳ vọng để giật giải năm nay, đã phải hạ cọc trong cơn hỗn loạn. Đáng sợ hơn, lúc con diều chao đảo giữa tầng mây xám, người ta chỉ lo khấn vái tạ tội với thần núi thay vì tìm cách giữ thăng bằng cho cánh đóm.
Cách đó mươi bước chân, đám con trai giáp Đoài và giáp Nam đang xúm xít quanh chiếc xe thồ chở xác con diều gãy nan của nhà chúng. Tiếng xì xào to nhỏ bắt đầu rộ lên, ban đầu còn ngấm ngầm dè dặt, rồi nhanh chóng biến thành những tràng cười cợt nhả hướng thẳng về phía Khoa.
Thằng Thao, con trai thợ chuốt sáo gỗ giáp Đoài, đứng nghênh ngang giữa đám bạn. Nó lớn hơn Khoa một tuổi, vóc người hộ pháp nhờ ngày nào cũng phải quai búa đẽo gỗ gõ giúp cha. Thao nhổ toẹt bãi nước bọt xuống đống rơm khô, đưa tay chỉ thẳng vào mặt Khoa:
"Chúng mày thấy tao nói có sai đâu! Cứ tưởng tay nghề cụ Vạn đệ nhất xứ Đoài thế nào, hóa ra gió núi mới quẫy nhẹ một cái đã vội vàng kéo sụp xuống đất van lạy. Mà cái thằng cu Khoa cũng ra vẻ nghệ nhân con cơ đấy, đứng ôm ống suốt mà mặt cắt không còn hột máu!"
Mấy đứa loi choi trạc tuổi Khoa lập tức phụ họa, cười rộ lên khoái chí:
"Thằng cu ôm ống suốt! Cả đời chỉ biết chạy sau đít người lớn bê đồ chứ biết thá gì về luồng gió!"
"Cha nó ngày xưa cũng thế đấy thôi! Nghe người già kể lại, ông Thức ngày xưa cũng tự phụ đòi cưỡi gió ngược trên đỉnh Thác Bạc, rốt cuộc gãy cánh cắm đầu xuống vực đá tan xương nát thịt. Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh, ngữ thằng Khoa thì muôn đời chỉ đủ sức thả diều giấy bồi cho lũ con nít chăn trâu!"
Từng lời nói cay độc của đám bạn đồng lăng xỉa xói vào tai Khoa như những mũi kim nhọn hoắt. Hai hàm răng cậu nghiến chặt vào nhau phát ra tiếng ken két khô khốc. Máu nóng dồn ngược lên thái dương, làm hai tai Khoa lùng bùng, đỏ gay gắt. Cậu co chặt nắm đấm, định lao bổ về phía thằng Thao để nện cho nó một quả đấm vào giữa cái bản mặt vênh váo, nhưng một bàn tay thô ráp đầy sẹo đã kịp thời đè chặt lên vai cậu.
Đó là chú Năm, thợ phụ của giáp Đông. Chú Năm thở dài, lắc đầu kéo giật Khoa lại:
"Kệ xác chúng nó, Khoa. Đừng có gây sự lúc này. Hội làng năm nay đụng phải luồng gió chướng, các cụ đang chuẩn bị làm lễ yên đất, mày mà nhảy bổ vào đánh nhau là bị đuổi khỏi bãi đình đấy."
"Nhưng tụi nó dám xúc phạm cha cháu!" Khoa gằn giọng qua kẽ răng, lồng ngực phập phồng dữ dội.
"Cha mày chết mười mấy năm rồi, người sống cãi nhau với miệng lưỡi thiên hạ làm sao được." Chú Năm tặc lưỡi, cúi xuống nhặt ống suốt gỗ của Khoa ném lên thùng xe cải tiến. "Thu dọn đồ đạc mà về thôi. Cụ Vạn giao hẹn phải dọn xong bãi trước giờ Thân. Bầu trời hôm nay có ma khí, người làng Nại không ai được nán lại ngoài bãi sau lúc mặt trời khuất bóng."
Khoa trừng mắt nhìn thằng Thao. Thằng nhóc giáp Đoài vẫn nhếch mép cười khinh bỉ, ngón tay cái chúc ngược xuống đất làm điệu bộ sỉ nhục. Sự khinh miệt trần trụi ấy cào xé dữ dội lòng tự trọng non nớt của đứa trẻ mười bốn tuổi.
Khoa không phải một đứa con nít chỉ biết ôm ống suốt. Từ năm lên mười, cậu đã thuộc lòng từng thớ tre bánh tẻ, biết cách dùng miểng chai gọt nan cánh sao cho mỏng đều như cánh chuồn chuồn, biết lắng tai nghe tiếng gió rít qua khe cửa để đoán xem hôm sau là gió nam hay gió chướng. Cậu khao khát một lần được tự tay vót nan, dán giấy, tự mình cầm sợi dây néo giữa bãi đất rộng thênh thang, đưa một cánh diều xé toạc tầng mây đen ngòm trên đỉnh núi thiêng kia cho cả làng phải ngước nhìn thán phục. Cậu muốn chứng minh cho lũ người hèn nhát kia thấy rằng cha cậu không hề sai, dòng họ Nguyễn của cậu không phải những kẻ sợ gió.
Bàn tay Khoa thọc sâu vào túi áo bà ba, những đầu ngón tay chạm vào góc nhọn khô ráp của mảnh giấy dó cũ kỹ. Dòng chữ son đỏ au của người cha quá cố như đang cựa quậy dưới lớp vải mỏng: "Kẻ cưỡi gió đo long mạch ắt gãy cánh sa lầy."
Cha cậu đã thất bại, nhưng điều đó không có nghĩa là cánh diều không thể bay. Càng bị cấm đoán, ngọn lửa kiêu hãnh âm ỉ trong huyết quản cậu càng bùng cháy điên cuồng.
Lợi dụng lúc dân làng đang nháo nhác phụ khiêng cánh diều đại lên kiệu gỗ để rước về nhà tiền tế, Khoa lùi dần về phía sau bụi dứa dại. Cậu quay ngoắt người, co cẳng chạy một mạch ra khỏi bãi đình.
Gió chiều thổi ngược chiều chạy của cậu, quất rát mặt rát mày. Khoa không chạy theo đường cái quan nơi có đám đông dân làng, mà chọn lối mòn men theo dòng sông Tích. Bờ sông mùa này bạt ngàn cỏ may khô khốc, hoa cỏ găm đầy vào ống quần vải nâu, cào rách những vệt dài trên bắp chân trần nhưng cậu không hề thấy đau.
Trong đầu Khoa lúc này chỉ luẩn quẩn những hình ảnh chắp vá: vết sẹo móng vuốt trên nan cật tre của ông nội, bóng đen ma quái dằn trên lưng con diều đại ban trưa, và chiếc rương gỗ bọc sắt luôn phát ra những tiếng cào cấu nghẹt thở trong buồng tối. Tất cả những bí mật mà ông nội cố công chôn giấu, tất cả những nỗi sợ hãi đang bóp nghẹt ngôi làng cổ này, hẳn đều nằm trọn bên trong chiếc rương ấy.
Mặt trời bắt đầu chìm dần sau lưng ba ngọn núi Ba Vì. Ánh hoàng hôn năm 1995 không mang sắc đỏ ấm áp của những buổi chiều hè thanh bình, mà nhợt nhạt, lạnh lẽo, nhuộm một màu vàng vọt như nước đồng hun lên khắp các mái rạ xóm Tây. Sương mù từ các hẻm núi bắt đầu túa ra, bò lan trên mặt ruộng lúa đang trổ đòng đòng.
Khoa về đến ngõ nhà mình khi trời vừa nhá nhem mặt người. Ngôi nhà năm gian lợp ngói vảy cá của ông Vạn nằm nép mình dưới bóng hai cây ngọc lan cổ thụ, rợp mát nhưng bao giờ cũng ẩm tối.
Cổng ngõ bằng tre khép hờ. Bình thường vào giờ này, ông Vạn sẽ ngồi trên chiếc chõng tre trước sân, vừa rít thuốc lào vừa tỉ mẩn gọt dũa những chiếc còi sáo bằng gỗ mít. Nhưng hôm nay, sân gạch vắng hoe. Không có đốm lửa đóm, không có tiếng róc rách của nước điếu, cũng không có mùi thuốc lào Tiên Lãng quen thuộc.
Khoa rón rén bước qua ngưỡng cửa cổng, chân trần dẫm nhẹ lên lớp rêu xanh mướt không phát ra tiếng động.
Từ gian buồng phía đông, nơi đặt bàn thờ tổ nghề dán diều của dòng họ, một vệt sáng vàng vọt hắt qua khe cửa gỗ lim. Ánh sáng bập bùng, chập chờn theo từng cơn gió lọt qua kẽ liếp, kèm theo mùi hương trầm thơm nồng nhưng ngột ngạt đến khó thở.
Khoa nín thở, nép sát thân mình vào bức tường đất nứt nẻ ngoài hiên. Cậu lần từng bước chậm rãi đến bên vách gỗ, ghé một con mắt qua lỗ mọt đã bị khoét rộng trên cánh cửa then cài.
Trong gian buồng tối tăm, chỉ có một ngọn đèn dầu hỏa duy nhất đặt trên chiếc đôn gỗ cạnh bệ thờ. Ánh lửa hạt đỗ tù mù soi rõ bóng lưng còng rạp của ông Vạn.
Ông lão không mặc bộ quần áo nâu sồng lao động thường ngày, mà khoác trên mình chiếc áo lương the đen dài thụng, đầu đội khăn xếp ngay ngắn. Ông đang quỳ gối trên chiếc chiếu cói trải giữa nền đất nện, hai bàn tay gầy guộc chắp chặt trước ngực, trán dập sát xuống đất theo từng nhịp lạy nặng nề.
Trước mặt ông Vạn không phải bài vị thông thường. Tấm ván gỗ mít ghi tên tiên tổ đã bị đẩy dạt sang một bên. Chiếm trọn vị trí trung tâm dưới bệ thờ là chiếc rương gỗ lim đen nhánh, bốn góc nẹp đai sắt hoen gỉ, nằm im lìm như một cỗ quan tài thu nhỏ.
"Lạy tổ nghề... lạy hương hồn thằng Thức..."
Tiếng ông Vạn lầm rầm vang lên, giọng khàn đặc, run rẩy và đứt quãng như thể từng từ ngữ đều phải rút ra từ lồng ngực cạn kiệt sinh lực.
"Năm nay long mạch lại động. Gió núi lại đòi nợ. Thằng Thức nó chết chưa yên, oán khí mười bốn năm qua vẫn bám theo đường dây cước mà tìm về bãi làng... Con có tội, con không giữ nổi con trai, suýt nữa hôm nay lại để cái giống diều ma ấy cướp nốt mạng thằng Khoa..."
Khoa giật nảy mình sau vách liếp. Lưng cậu lạnh toát.
Con diều ma? Cướp mạng cậu?
Khoa cố mở to mắt, trân trối nhìn qua khe hở. Ông Vạn sau khi dập đầu ba lạy liền run rẩy đứng dậy. Tuổi tác và cơn chấn động ban trưa khiến hai đầu gối ông run bần bật, phải chống tay lên mép rương gỗ mới gượng dậy nổi.
Từ trong ngực áo, ông Vạn rút ra một xâu kim loại. Đó là một chùm chìa khóa bằng đồng thau đen xỉn, dài ngoằng, gắn liền với một chiếc then sắt to bản có khắc những đường vạch chéo kỳ dị.
Ông Vạn bước tới cửa nách thông ra gian thờ tổ. Cánh cửa này vốn luôn đóng kín quanh năm, người trong nhà chỉ biết đó là nơi cất giữ gỗ quý và khuôn diều cổ. Nhưng lúc này, Khoa thấy ông cẩn thận luồn chiếc then sắt qua hai tai khóa đúc liền vào khung bao cửa. Chiếc then sắt trượt vào ngàm nghe một tiếng "cạch" khô khốc, lạnh tanh.
Chưa dừng lại ở đó, ông Vạn lấy từ trên bàn thờ xuống một bát mực chu sa đỏ au. Ông nhúng đầu ngón tay trỏ vào bát mực, rồi bằng những động tác dứt khoát pha lẫn sợ hãi, ông vẽ một đường phù chú ngoằn ngoèo vắt ngang qua khe nối giữa cánh cửa và then sắt. Màu mực đỏ tươi nổi bật trên nền gỗ lim đen sì, trông tựa một vệt máu tươi vừa bị bắn lên mặt gỗ.
"Khóa lại... phải khóa chặt lại..." Ông Vạn thở dốc, tự lẩm bẩm một mình, giọng nói như kẻ mất hồn. "Hết kỳ hội làng mới được mở. Tuyệt đối không để con gió nhìn thấy nó. Tuyệt đối không để con cháu dòng họ Nguyễn đụng vào vết xe đổ của thằng Thức..."
Làm xong mọi việc, ông Vạn cúi đầu vái thêm một vái dài trước cánh cửa vừa bị niêm phong. Sau đó, ông quay người lại bệ thờ, cẩn thận nhét chùm chìa khóa đồng thau vào bên dưới đế chiếc lư hương bằng đồng cổ - nơi sâu nhất, khuất nhất mà mắt thường không thể nhìn thấy nếu chỉ đứng nhìn từ bên ngoài.
Ông Vạn thổi tắt ngọn đèn dầu. Gian buồng lập tức chìm vào bóng tối đen như mực. Tiếng bước chân lẹp xẹp của ông lão kéo lê trên nền đất, rồi tiếng then cửa chính ken két mở ra.
Khoa vội vàng trườn người ra phía sau bể nước mưa, nín thở thu mình vào khoảng tối giữa vại sành và bụi chuối tiêu. Cậu nhìn thấy bóng dáng gầy guộc của ông nội bước ra sân, dáng đi xiêu vẹo như một cái cây khô trước cơn bão. Ông Vạn đứng tần ngần giữa sân gạch một hồi lâu, ngửa mặt nhìn lên vòm trời Ba Vì lúc này đã hoàn toàn bị mây đen nuốt chửng, buông một tiếng thở dài thườn thượt rồi chậm rãi bước về phía gian nhà ngang.
Tiếng cánh cửa nhà ngang khép lại, then cài cẩn thận. Ngôi nhà lại rơi vào sự tĩnh mịch chết chóc.
Khoa từ từ đứng thẳng dậy từ sau bể nước. Gió đêm từ sườn núi Ba Vì tràn xuống, thổi qua tán cây ngọc lan xào xạc từng chập. Không khí lạnh buốt thấm qua lớp áo bà ba mỏng dính, nhưng bên trong lồng ngực Khoa, máu đang sôi sục.
Cậu không hề sợ hãi. Lời cảnh báo về cái chết của cha, về sự nguy hiểm của con diều bị nguyền rủa, và cả hình ảnh quỳ lạy van xin của ông nội ban nãy không thể dập tắt sự ngạo mạn đang gào thét trong lòng cậu thiếu niên mười bốn tuổi.
Trái lại, nó như một mồi lửa ném thẳng vào đống rơm khô.
Bên trong gian thờ tổ bị niêm phong bằng then sắt và phù chú chu sa kia, chắc chắn đang cất giấu con diều ghê gớm nhất mà trần đời từng biết tới. Một con diều có thể khiến cả hội làng đảo điên, khiến các bậc nghệ nhân già nua phải quỳ gối kinh sợ, và khiến cha cậu - người thợ làm diều tài ba nhất vùng - chấp nhận đánh cược cả sinh mạng để cưỡi gió bay lên.
"Mày chỉ là thằng cu ôm ống suốt..."
Tiếng cười nhạo của thằng Thao lại văng vẳng bên tai, đay nghiến, buốt nhói.
Khoa nhìn chằm chằm vào khung cửa sổ gian buồng thờ tổ. Ánh trăng mờ đục rọi xuống lớp then sắt vừa bị niêm phong, vệt chu sa đỏ quạch sáng lên lấp lóa trong đêm đen. Cậu chạm tay vào mép bức di ảnh trong ngực áo, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười ngang ngạnh.
Cậu sẽ mở chiếc rương đó ra. Cậu sẽ cho cả làng Nại thấy, đứa con của Nguyễn Thức biết cách thuần phục ngọn gió Ba Vì.