Lời Nguyền Diều Giấy - Chương 2: Lưỡi Cạo Vót Nan

Sương sớm từ đỉnh Tản Viên tràn xuống thung lũng dày đặc, phủ một lớp màng trắng đục lên những rặng tre bao quanh xóm trại. Đêm kinh hoàng với tiếng sáo…

Nội dung chương

Sương sớm từ đỉnh Tản Viên tràn xuống thung lũng dày đặc, phủ một lớp màng trắng đục lên những rặng tre bao quanh xóm trại. Đêm kinh hoàng với tiếng sáo rít nghẹn ngào từ chiếc rương gỗ đã lùi lại sau giờ Dần, nhường chỗ cho cái lạnh căm căm của buổi sớm vùng bán sơn địa vào cữ cuối thu năm 1995. Trên mặt sân gạch Bát Tràng trơn tuột vì rêu ẩm, ông Vạn đã ngồi đó từ lúc trời còn nhá nhem mặt người.

Bên cạnh chân phản gỗ kê ngoài hàng hiên, ba cây tre đực đã hạ từ vụ đông năm ngoái nằm xếp lớp. Đốt tre ngắn, vỏ bóng loáng màu da đồng, thân nặng trịch vì được ngâm kỹ dưới bùn ao ba mùa mưa nắng rồi đem gác bếp cho ngấu khói. Thứ tre ấy dẻo quánh, thớ thịt đanh lại như sừng, mối mọt chê mà dằm tre sắc bén chẳng kém mũi dao bài.

"Ngồi xuống đây."

Ông Vạn lên tiếng, không ngẩng đầu nhìn đứa cháu nội. Ông cầm con dao nạo bản mỏng, lưỡi thép được mài sáng loáng lộ rõ đường chỉ tôi nước lạnh xanh lét. Chiếc tẩu thuốc lào bằng gốc tre đực gác bên mép chõng bốc lên mùi khét lẹt quen thuộc.

Khoa kéo chiếc đòn gánh con, ngồi thụp xuống đối diện ông. Cậu nhìn chằm chằm vào ngón tay cái thô ráp, nứt nẻ từng đường nẻ sâu hoắm của ông nội đang miết dọc sống một thanh nan cật. Vết sẹo dài ngoằng vắt ngang má ông vẫn mang màu đỏ bầm, dấu vết của cơn chấn động đêm qua còn đọng lại nơi khóe mắt trũng sâu thâm quầng.

"Cầm dao lên. Tay thuận nắm cán, ngón cái tì vào sống lưng dao để ghìm lực. Tay kia cầm ngọn nan, kéo từ gốc lên ngọn, không được đẩy ngược." Giọng ông Vạn khàn đặc, gắt từng tiếng như tiếng dùi đục nện vào gỗ mít. "Thanh cật này để làm nan cánh chính. Mày cạo phải đều tay, từng lớp cật mỏng như cánh ve sầu rụng xuống mới thôi. Cạo sâu một ly là hỏng độ dẻo, cạo nông một ly thì cánh nặng, gió đẩy không nổi."

Khoa đón lấy con dao cạo nhỏ bằng bàn tay đứa trẻ từ góc nong. Cậu chọn một dóng tre đã được chẻ sẵn to bằng ngón chân cái, bắt đầu tì lưỡi thép vào lớp cật xanh đen bóng nhẫy. Tiếng "xoẹt... xoẹt..." khô khốc vang lên đều đặn. Dăm tre mỏng tanh cuộn tròn lại, rụng lả tả xuống mặt sân gạch, tỏa ra thứ mùi ngai ngái nồng nồng của tre ngâm bùn sấy bồ hóng.

Lực tay của Khoa còn non, thỉnh thoảng lưỡi dao lại vấp phải một mắt tre chìm, làm bật lên tiếng "khục" khó chịu. Mỗi lần như thế, ông Vạn lại tặc lưỡi, cây thước gỗ gõ nhẹ một cái rõ đau vào mu bàn tay cậu.

"Vội cái gì? Làm diều là việc dưỡng tính. Mày thả tâm vào mây gió ngoài kia thì tay cạo hỏng gỗ ngay." Ông Vạn vừa nói vừa dùng bàn nạo miết một đường dài dứt khoát trên thanh nan của mình. Thanh cật tre dưới tay ông uốn cong lại nhẹ nhàng thành một vòng cung hoàn hảo, hai đầu cánh cân xứng không lệch một ly. "Người làng Nại này sống nhờ cánh diều, chết cũng gửi hồn vào tiếng sáo. Cái nan tre này là xương sườn của con diều, xương sườn mà vẹo vọ thì ruột gan lộn xộn, bay lên trời chỉ tổ đâm đầu xuống đất."

Khoa cắn môi, nén cơn đau rát ở mu bàn tay, cặm cụi gọt tiếp. Đôi mắt cậu liếc nhìn ra khoảng sân rộng, nơi có hàng chục chiếc khung diều sáo đã vào khung sẵn của đám thanh niên trong làng chuẩn bị cho hội đền sắp tới. Đa phần cánh diều của làng đều uốn theo thế cánh bầu, hai đầu cong vút về phía sau như mảnh trăng non ngày đầu tháng, đường lượn mềm mại và khoan thai.

Cậu buông một thớ dăm tre vừa cạo, buột miệng hỏi:

"Ông ơi, sao diều làng mình bao đời nay cứ phải uốn cánh hình trăng khuyết mềm xèo thế này hả ông? Hôm nọ cháu sang bên bãi sông, thấy người ta làm diều cánh vát nhọn hoắt như cánh con chim ưng. Hai đầu cánh sắc lẹm, chém gió vun vút, bay vút một mạch lên tận tầng mây cao mà không cần đợi gió lớn."

Bàn tay đang gọt dũa của ông Vạn khựng phắt lại giữa không trung.

Lưỡi dao thép cắm phập xuống mặt sàn nứa lát hiên nhà, phát ra tiếng động rợn người. Ông Vạn ngước mắt lên, cái nhìn sắc lạnh đăm đăm xoáy thẳng vào mặt đứa cháu trai mười bốn tuổi. Khoa giật bắn mình, rụt cổ lại, đôi tay đang cầm dao bỗng run lên bần bật. Cậu chưa bao giờ thấy ánh mắt của ông nội lại lộ rõ vẻ dữ tợn và hoảng loạn đến mức ấy kể từ sau trận gió lạ tối hôm qua.

"Ai bày cho mày nhìn thấy cái thứ quái thai ấy?" Tiếng ông rít qua kẽ răng, kèm theo luồng khói thuốc lào đặc quánh phả thẳng vào khoảng không buốt giá.

"Cháu... cháu thấy mấy người thợ trên thị xã đem về bãi cỏ chân đê..." Khoa ấp úng, hai ngón tay bấu chặt vào mép thanh tre cật. "Họ bảo cánh nhọn xé gió tốt hơn, đè được mọi con diều khác trên bãi..."

"Câm mồm!"

Ông Vạn quát lớn, bàn tay gầy guộc đầy gân guốc đập mạnh xuống mặt chõng tre làm bát nước chè tươi sánh đổ lênh láng.

"Lũ mất gốc! Lũ rước họa vào thân!" Đôi vai người thợ già run rẩy theo từng nhịp thở dốc. Ông vươn tay chộp lấy thanh cật tre cong vút đang uốn dở trên đùi Khoa, giơ thẳng lên trước mặt cậu. "Mày nhìn cho rõ đây. Cánh diều làng Nại là cánh trăng, là hình con thuyền chở trăng, đầu cánh tròn trịa để nương theo hơi thở của đất trời. Gió nâng cánh diều lên, cánh diều ôm lấy gió, hai bên thuận thảo thì tiếng sáo mới thanh thoát, người dưới đất mới được yên ấm mùa màng."

Ông ghé sát mặt lại, hơi thở sực mùi trầu không và thuốc lào cay nồng:

"Mày tuyệt đối không bao giờ được phép uốn nan thành hình cánh chim ưng. Đầu cánh nhọn hoắt chĩa lên trời là hình mũi tên khiêu khích thần núi Tản. Đuôi cánh sắc bén xé rách mây mù là điềm hung táng. Kẻ nào làm diều cánh chim ưng, kẻ đó mang dã tâm cướp đoạt luồng khí của trời cao. Cánh nhọn chém đứt mây thì gió độc sẽ tràn xuống, đoạt mạng người cầm dây đầu tiên!"

Khoa run rẩy nhìn vào đôi mắt đỏ ngầu của ông nội. Lời răn dạy của ông nghe nặng nề và u ám như một lời nguyền rủa từ ngàn năm trước còn sót lại. Cậu nhớ đến hình ảnh chiếc rương gỗ dưới gầm bàn thờ phụ đêm qua, nhớ đến âm thanh the thé rít lên từ đáy hòm sắt khi cơn gió lạ tràn qua khe liếp tre. Có phải bên trong chiếc rương bị khóa chặt kia cũng cất giấu một thứ khung cánh sắc nhọn như loài chim săn mồi hung tợn?

"Nhưng... người ta vẫn thả đầy ngoài bãi đấy thôi, có ai bị làm sao đâu ông..." Khoa lẩm bẩm trong miệng, cái tính tò mò và bướng bỉnh của tuổi mới lớn khiến cậu không chịu khuất phục hoàn toàn trước nỗi sợ vô hình.

"Mày biết cái gì!" Ông Vạn gằn giọng, ánh mắt lóe lên một tia thống khổ tột cùng. "Chúng nó chưa đến số thôi. Rồi gió sẽ đòi lại tất cả. Đất này dưới chân ngọn núi thiêng, từng luồng gió thổi qua thung lũng đều có mắt, có linh hồn. Kẻ kiêu ngạo muốn cưỡi lên đầu ngọn gió ắt sẽ có ngày bị gió dập cho tan xương nát thịt!"

Nói đoạn, ông giật lấy con dao nạo trong tay Khoa, cắm mạnh xuống đất cạnh đống dăm tre vụn.

"Ngồi đấy mà ngẫm cho kỹ. Cạo hết chỗ nan này thành hình cánh trăng non cho tao. Sai một đường lượn, tao bẻ gãy tay!"

Ông Vạn đứng phắt dậy, bước những bước chân tập tễnh nặng nề đi về phía gian nhà trong. Tiếng then cài cửa buồng va vào nhau nghe ken két rợn người, bỏ lại một mình Khoa giữa khoảng sân gạch mờ mịt sương muối và đống nan tre ngổn ngang.

Gió từ sườn núi Ba Vì lại bắt đầu thổi luồn qua hàng rào râm bụt, lay động những tàu chuối ngả vàng sau chái bếp. Khoa ngồi bệt dưới đất, lòng ấm ức xen lẫn nỗi hoang mang tột độ. Cậu nhặt con dao cạo lên, ngón tay mân mê lưỡi thép mỏng tanh sắc bén.

Lời cảnh báo của ông nội không dập tắt được sự thắc mắc đang sôi sục trong lồng ngực thiếu niên, mà ngược lại, nó như một mồi lửa ném vào đống rơm khô. Tại sao ông lại sợ cánh chim ưng đến thế? Tại sao mỗi lần nhắc đến bầu trời cao và những cánh diều lạ, sắc mặt ông lại biến đổi như nhìn thấy oan hồn hiện về?

Khoa cầm lấy một thanh cật tre khác, bắt đầu đặt lưỡi dao xuống. Thay vì cạo đều đặn để tạo độ cong hình trăng khuyết mềm mại theo lối cũ của ông, cậu thử tì mạnh góc dao ở phần ngọn thanh nan. Cậu muốn vót mỏng vát hẳn một bên mép cật tre, thử uốn thanh nan gập khúc theo một góc nhọn hoắt, mô phỏng lại dáng cánh chim săn mồi dũng mãnh mà cậu từng thèm thuồng nhìn thấy ở bãi sông ngoài thị xã.

Thanh tre già ngậm bùn đanh quánh, chống cự lại lực nén sai lệch của bàn tay non nớt. Thớ cật tre cong oằn lại dưới lực đè gượng gạo, tạo thành một góc gấp khúc căng cứng, run rẩy bần bật như một sợi dây cung chuẩn bị bung đứt.

"Xoẹt!"

Mắt tre ngầm bên trong thớ gỗ bất ngờ trồi lên. Lưỡi cạo thép trượt mạnh khỏi bề mặt cật tre nhẵn bóng, trượt thẳng một đường chéo sắc lẹm qua đốt thứ hai của ngón tay trỏ bàn tay trái đang ghìm giữ thanh nan.

Một cảm giác the buốt xộc thẳng lên tận óc.

Khoa giật nảy người, đánh rơi con dao xuống nền gạch kêu "keng" một tiếng chói tai. Cậu bặm môi, nhìn xuống ngón tay mình. Vết rách sâu hoắm toạc ra ngang khớp xương, máu tươi ứa ra ồ ạt, đỏ tươi và ấm nóng, nhanh chóng tụ lại thành một giọt máu tròn xoe, trĩu nặng nơi đầu ngón tay.

Trước khi Khoa kịp đưa ngón tay lên miệng mút để cầm máu, giọt máu tươi đậm đặc ấy đã trĩu nặng rồi rơi thẳng xuống giữa sống lưng của thanh nan cật tre đang uốn gập méo mó trên đùi.

"Xèo..."

Một âm thanh rất khẽ cất lên, giống hệt như tiếng mỡ gà rơi trúng tảng than hồng đang ủ dưới lớp tro bếp.

Khoa mở to mắt nhìn trừng trừng vào thanh tre, toàn bộ cơn đau đớn nơi ngón tay bỗng chốc biến mất, thay vào đó là sự lạnh ngắt chạy dọc sống lưng.

Ngay tại điểm giọt máu tươi vừa rỏ xuống, thớ tre cật già cỗi không hề thấm hút thứ chất lỏng màu đỏ như thông thường. Bề mặt thanh tre bốc lên một làn khói mỏng dính, mờ nhạt màu xanh xám, mang theo một mùi tanh nồng khét lẹt xộc thẳng vào mũi cậu - thứ mùi hệt như mùi tanh bùn đáy ao thối rữa và mùi bồ hóng ẩm mốc hòa lẫn vào nhau.

Giọt máu tươi sôi lục bục trên cật tre rồi nhanh chóng đổi màu, sẫm lại thành một vệt ố màu xám tro xịt, khô khốc và bám chặt lấy thớ gỗ như một vết chàm quái dị ăn sâu vào tận tủy tre.

Khoa hoảng hốt dùng vạt áo chàm cũ kỹ chà xát cật lực lên vệt ố màu xám. Cậu chà đến mức lớp vải ba thô ráp rách tươm, để lại những vệt xước xơ xác trên thân tre, nhưng vết loang xám xịt ấy vẫn trơ trơ ra đó, không hề phai nhạt nửa phân, thậm chí còn từ từ lan rộng ra thành hình một chiếc móng vuốt chim sắc nhọn in hằn trên bề mặt cật tre bóng loáng.

Tiếng gió núi sau lưng bỗng gầm lên một tiếng ngắn qua khe nẹp mái hiên.

Cùng lúc ấy, từ trong gian buồng tối om của ông Vạn, tiếng ho sù sụ cất lên dồn dập, tiếp sau đó là âm thanh lục cục khẽ khàng phát ra từ chiếc rương gỗ bọc đai sắt dưới chân bàn thờ phụ, như thể vật nằm bên trong vừa nhận được một tín hiệu quen thuộc từ trần gian.

Khoa ôm lấy bàn tay đang rỉ máu, tim đập thình thịch từng cơn nghẹn ứ, ánh mắt dán chặt vào vệt ố xám hình móng vuốt trên thanh nan vừa bị gãy gập làm đôi.

Chương khác

Xem thêm