Lời Nguyền Diều Giấy - Chương 3: Vết Sẹo Của Gió
Ngón tay trỏ rách toạc buốt nhói từng cơn theo nhịp đập nơi cổ tay. Khoa ngậm chặt vết thương vào miệng, vị máu mằn mặn lẫn mùi gỉ sắt ngập trong chân…
Nội dung chương
Ngón tay trỏ rách toạc buốt nhói từng cơn theo nhịp đập nơi cổ tay. Khoa ngậm chặt vết thương vào miệng, vị máu mằn mặn lẫn mùi gỉ sắt ngập trong chân răng. Thanh tre gãy gập nằm trơ trọi dưới nền đất nện ngoài sân, vệt ố xám hình móng vuốt chim vẫn đậm màu như bị đóng dấu bằng sắt nung. Tiếng rương gỗ lục cục trong buồng tối đã tắt lịm, nhường chỗ cho tiếng gió luồn qua khe liếp rít từng chập khô khốc.
Khoa bước qua ngưỡng cửa gỗ lim bóng loáng vết chân người qua nhiều thế hệ. Ngôi nhà ba gian hai chái lợp ngói âm dương của ông nội lúc nào cũng chìm trong thứ ánh sáng mờ đục, nửa tối nửa sáng. Mùi giấy dó ngâm nước vôi, mùi nhựa trám quét mép diều quyện với mùi bồ hóng lưu cữu hàng chục năm tạo nên một bầu không khí ngột ngạt.
Cậu đi vòng qua bộ phản gỗ gụ sang gian bên phải, nơi đặt chiếc bàn thờ tổ tiên sực nức mùi tàn nhang úa lạnh.
Bàn thờ gỗ mít đóng từ thời cụ cố đã sứt sẹo nhiều góc, lớp sơn son thếp vàng bong tróc từng mảng lớn để lộ thớ gỗ mốc xanh. Bát hương bằng đất nung thô kệch cắm đầy những chân nhang cũ phủ một lớp bụi xám dày. Đứng khuất sau lư đồng đen kịt là chiếc khung ảnh nhỏ bằng gỗ hương mắt chim. Trong khung kính ố vàng vì hơi ẩm vùng núi, gương mặt một người đàn ông trẻ tuổi nhìn thẳng về phía trước.
Đó là cha của Khoa.
Khuôn mặt trong ảnh có đôi mắt một mí sâu hoắm và vầng trán rộng gồ ghề giống hệt Khoa, nhưng bên khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười ngạo nghễ, một nét ngang tàng mà Khoa chưa từng thấy trên gương mặt khắc khổ, cẩn trọng của ông nội. Bức ảnh chụp vào đầu những năm tám mươi, thời điểm cha Khoa vừa tròn hai mươi tuổi, trước khi người ta tìm thấy thi thể nát vụn của ông dưới chân vách đá dốc Thác Bạc.
Khoa với tay xé một mảnh vải từ mép chiếc khăn lau đặt cạnh chân đèn dầu, quấn chặt lấy ngón tay đang rỉ máu. Vải thô cọ vào vết rách làm cậu rùng mình, nhưng đôi mắt vẫn dán chặt vào di ảnh.
Từ lúc biết nhớ, Khoa chưa bao giờ được nghe ông Vạn kể trọn vẹn một câu chuyện về cha. Lũ trẻ trong làng thỉnh thoảng xì xào sau lưng cậu rằng cha cậu chết vì dại dột, chết vì muốn làm con chim ưng bay qua đỉnh Vua của rặng Ba Vì. Người ta bảo ông ấy đã leo lên mỏm đá chót vót lúc nửa đêm mang theo một khung diều khổng lồ, rồi gió núi bẻ gãy cả người lẫn diều quăng xuống vực sâu. Mỗi lần Khoa gặng hỏi, ông Vạn lại vung cây roi mây quất lằn ngang bắp chân cậu, cấm tiệt không cho nhắc lại cái chết ấy.
Tiếng dép cao su lẹp xẹp vang lên từ phía chái bếp cắt ngang dòng suy nghĩ của Khoa.
Ông Vạn bưng một chiếc khay gỗ mộc bước vào gian chính. Trên khay đặt chiếc ấm tích bọc trong giỏ mây lót rơm ủ ấm và hai chiếc chén sành da lươn méo mó. Khói từ vòi ấm bốc lên nghi ngút, mang theo mùi nồng chát quen thuộc của nước nụ vối tươi hái từ bờ ao.
Ông Vạn đặt khay nước lên mặt tràng kỷ, đôi mày rậm bạc trắng nhíu chặt lại khi nhìn thấy bàn tay trái quấn vải lem luốc máu của đứa cháu nội. Ông không hỏi han, cũng không mắng mỏ, chỉ lẳng lặng kéo chiếc ghế đẩu lại gần bàn trà rồi ngồi xuống, lưng còng gập về phía trước như mang vác một tảng đá vô hình.
"Lại đây," giọng ông khàn đặc, trầm như tiếng đá lăn dưới đáy giếng cạn.
Khoa bước tới mép bàn, đứng sững trước mặt ông nội. Cậu không giấu bàn tay bị thương ra sau lưng như mọi lần phạm lỗi mà cố tình để lộ lớp vải thấm máu đỏ lòm.
"Cháu vót nan cánh diều," Khoa nói cộc lốc, ánh mắt găm thẳng vào đôi mắt đục ngầu của người thợ già. "Thanh cật tre già quá, uốn cong thì gãy. Máu cháu rớt vào cật tre bốc khói xám, rồi chiếc rương trong buồng ông kêu lên."
Bàn tay ông Vạn đang với lấy quai ấm tích bỗng dừng sững giữa không trung. Những khớp xương ngón tay gồ ghề, sần sùi như rễ cây cổ thụ khẽ run lên một nhịp rất nhẹ. Ông không nhìn vào ngón tay rách của Khoa, ánh mắt ông dạt về phía góc buồng tối, nơi đặt chiếc rương gỗ bọc đai sắt.
"Tao bảo mày cạo nan hình cánh trăng non," ông Vạn nói, giọng cố giữ vẻ bình thản nhưng hơi thở bắt đầu đứt quãng. "Mày lại cố tình gập góc nhọn mô phỏng móng chim. Thứ lòng dạ bướng bỉnh ấy sớm muộn cũng bẻ gãy xương khớp mày."
"Tại sao lại cấm cánh nhọn? Tại sao lại cấm chim ưng?" Khoa cao giọng, bước thêm một bước dồn dập. "Có phải ngày xưa cha cũng làm diều cánh nhọn nên mới rơi xuống vực không ông? Bác Thao đầu ngõ bảo cha cháu năm ấy làm ra con diều lớn nhất tổng này, bay qua cả đỉnh mây, rồi cha bị gió bẻ gãy cánh..."
"Câm mồm!"
Tiếng quát xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của căn nhà ba gian.
Ông Vạn chộp lấy chiếc chén sành da lươn vừa rót đầy nước nụ vối nóng hổi. Cơn giận dữ bùng phát quá nhanh khiến ngón tay già nua run rẩy kịch liệt. Chiếc chén tuột khỏi kẽ tay, rơi cạch xuống nền đất nện. Nước vối vàng sẫm bắn tung tóe lên ống quần chàm của ông lão, bã vối nát vụn văng ra xung quanh những mảnh gốm vỡ sắc nhọn.
Cả hai người cùng sững sờ.
Khoa tròn mắt nhìn đống mảnh vỡ dưới đất. Từ trước tới nay, dù giận dữ đến đâu, ông Vạn chưa từng đánh rơi bất cứ thứ gì trong tay. Bàn tay của người thợ dán diều lành nghề nhất vùng Ba Vì nổi tiếng với độ vững chãi thép nguội, có thể cầm dao tỉa từng nan tre mỏng tang như sợi tóc mà không run rẩy nửa ly. Vậy mà lúc này, hai bàn tay ấy đang đặt trên đầu gối, run lên từng đợt không thể kiểm soát.
Vết sẹo dài ngoằng chạy dọc từ thái dương xuống gò má trái của ông Vạn giật giật, chuyển sang màu đỏ ửng như một vết cứa tươi rói vừa rách miệng. Ông thở dốc, lồng ngực gầy guộc phập phồng dưới lớp áo nâu sồng đã bạc màu vai.
"Mày... mày biết cái gì về cha mày mà nói?" Giọng ông Vạn chùng xuống, nghẹn lại nơi cuống họng, chất chứa một nỗi kinh hoàng bị nén chặt qua hàng chục năm ròng. "Nó không phải ngã vì gió thường. Nó ngã vì nó dám nhìn vào thứ không được phép nhìn trên đỉnh núi kia kìa."
Khoa nuốt khan, bám lấy lời nói vừa buột ra của ông: "Thứ gì trên đỉnh núi? Có phải là con diều trong chiếc rương khóa sắt kia không? Ban nãy cháu nghe rõ ràng tiếng sáo rít lên từ đáy rương, nó gào hệt như tiếng người khóc!"
Ánh mắt ông Vạn bỗng trở nên trống rỗng. Ông nhìn trừng trừng vào đứa cháu mười bốn tuổi, đôi mắt đục ngầu co rút lại như đang nhìn thấy một bóng ma quen thuộc từ quá khứ hiện về đứng trước mặt. Nét ngang bướng, sự tò mò liều lĩnh và ánh nhìn rực lửa trong mắt Khoa lúc này giống người con trai đã khuất của ông đến từng chi tiết.
"Không có diều nào trong rương cả," ông Vạn nói dứt khoát, giọng lạnh tanh trở lại nhưng vẫn không che giấu được sự hụt hơi. "Đó là đồ tế tự của dòng họ từ thời cụ cố để lại, cấm tiệt con cháu động vào. Mày còn lải nhải chuyện hoang đường ấy một lần nữa, tao tống mày ra khỏi cái nhà này."
Ông lão đứng dậy, lấy mũi chân gạt những mảnh chén vỡ sang một góc dưới gầm phản. Ông không nhìn Khoa thêm một lần nào nữa, lẳng lặng bước tập tễnh ra phía hiên nhà, với lấy chiếc điếu cày dựng cạnh cột cái. Tiếng đóm nứa cháy xèo xèo rồi tiếng rít thuốc lào sòng sọc vang lên trong bóng tối ngoài sân, kèm theo từng luồng khói trắng đục bị gió núi xé toạc ngay khi vừa phả ra khỏi miệng.
Gian nhà trong lại chìm vào sự vắng lặng nặng nề.
Khoa đứng chôn chân giữa gian nhà, ngực phập phồng giận dỗi. Sự né tránh của ông nội không dập tắt được ngọn lửa tò mò mà càng biến nó thành một nỗi ám ảnh thiêu đốt. Cậu quay đầu nhìn lại bàn thờ. Di ảnh của cha vẫn im lìm sau làn khói bụi mờ ảo. Nụ cười ngạo nghễ nơi khóe môi người đàn ông như đang thách thức lòng can đảm của cậu bé mười bốn tuổi.
"Cha đã thấy gì trên đó?" Khoa thì thào một mình.
Nhìn quanh quất không thấy ông nội quay vào, Khoa với tay lấy chiếc chổi đót nhỏ cắm ở vách nứa và một mảnh giẻ sạch treo bên hông tủ chè. Ngày mai là ngày hội rằm tháng Ba, theo lệ làng, ban thờ phải được quét dọn sạch sẽ trước khi rước cỗ sáo đại ra bãi đình. Ông Vạn thường kỹ tính chuyện này, nhưng hôm nay vì cơn tức giận mà ông bỏ mặc việc dọn dẹp.
Khoa leo lên chiếc ghế đẩu bằng gỗ nghiến, đứng ngang tầm với mặt bàn thờ. Cậu cẩn thận quét sạch lớp bụi nhang bám trên chân đế bát hương, lau chùi chiếc lư đồng và hai cây đèn dầu bằng đồng thau hoen rỉ.
Cuối cùng, Khoa dừng lại trước di ảnh của cha.
Khung gỗ hương đóng mộng vuông vức đã phủ một lớp bụi xám xịt dày cộp. Mặt kính phía trước bám đầy những vệt khói đèn qua năm tháng, làm mờ đi ánh mắt của người trong ảnh. Khoa đưa tay nâng nhẹ khung ảnh lên để lau phần mặt đáy bàn thờ.
Khung ảnh bằng gỗ hương khá nặng, nhưng khi Khoa nhấc bổng lên, cậu cảm nhận được một sự lỏng lẻo bất thường ở mặt lưng. Tấm ván gỗ mỏng dùng để nẹp giữ bức ảnh phía sau dường như không được đóng đinh cố định mà chỉ cài tạm bằng hai mẩu then tre nhỏ xíu đã mủn mục.
Khoa đặt chiếc khăn lau xuống, dùng đầu ngón tay cái cạy nhẹ một mẩu then tre. Chốt tre khô gãy vụn rơi xuống mặt bàn thờ thành những hạt mùn cưa li ti.
Tấm ván lưng hơi xê dịch, để lộ ra một khe hở hẹp giữa lớp ván ép và mặt sau của bức ảnh chân dung.
Từ khe hở ấy, một góc giấy màu nâu vàng thò ra ngoài. Chất liệu của nó không mịn màng như giấy viết học trò thời nay, cũng không xốp mềm như giấy bản mua ngoài chợ huyện. Đó là loại giấy dó cổ xưa, dày dặn, các sợi xơ vỏ cây dướng đan cài chằng chịt, viền mép giấy đã sờn rách và cháy sém một góc như từng bị hơ qua lửa ngọn.
Tim Khoa đập dồn lên một nhịp. Cậu liếc mắt nhìn ra ngoài hiên. Bóng lưng còng của ông Vạn vẫn ngồi bất động trên chiếc chõng tre, từng ngụm khói thuốc lào bay lên mờ mịt giữa màn sương đêm đang tràn vào ngõ.
Bằng những ngón tay run rẩy, Khoa cẩn thận luồn hai ngón tay vào khe hở, kẹp lấy mép giấy dó rồi từ từ kéo ra ngoài.
Mảnh giấy gấp làm tư, nằm ép chặt sau lưng bức di ảnh suốt mười mấy năm qua nên đã phẳng lỳ và khô giòn. Khoa nín thở mở từng nếp gấp. Giấy kêu sột soạt khe khẽ, phả ra một mùi hương trầm ẩm mốc hòa lẫn mùi mực nho cổ quái xộc thẳng vào mũi.
Mảnh giấy không vẽ hình ảnh gì cụ thể, chỉ có những đường kẻ chỉ màu đen chằng chịt mô phỏng các luồng khí xoáy và những tọa độ kỳ dị đánh dấu các đỉnh núi của dãy Ba Vì: đỉnh Vua, đỉnh Tản Viên, đỉnh Ngọc Hoa. Nét mực đen đã phai nhạt theo thời gian, nhưng nổi bật trên nền giấy dó ố vàng là một dòng chữ viết bằng mực chu sa đỏ au, màu son nham nhở như được vẽ vội bằng ngón tay nhúng máu:
"Kẻ cưỡi gió đo long mạch ắt gãy cánh sa lầy."
Từng nét chữ son xiêu vẹo, gãy khúc dữ dội ở những nét móc, để lại những vệt mực kéo dài như vết cào cấu tuyệt vọng của một người đang rơi tự do giữa không trung. Ở góc dưới cùng của mảnh giấy, một dòng lạc khoản nhỏ xíu ghi lại ngày tháng: "Giờ Dậu, rằm tháng Ba năm Tân Dậu - Nguyễn Thức thủ bút."
Nguyễn Thức. Đó chính là tên của cha Khoa. Năm Tân Dậu chính là năm ông Thức bỏ mạng dưới vực Thác Bạc, cũng vào đúng dịp hội rằm tháng Ba.
Khoa đứng trơ như phỗng đá trên chiếc ghế đẩu, toàn thân ớn lạnh như bị ai dội một gáo nước suối mùa đông vào gáy.
Cưỡi gió đo long mạch? Long mạch nào nằm trên đỉnh Ba Vì? Tại sao cha cậu lại viết những dòng chữ này ngay trước khi chết, rồi giấu kín sau lưng bức ảnh thờ của chính mình?
Những câu hỏi quay cuồng, va đập chát chúa trong đầu óc non nớt của thiếu niên mười bốn tuổi. Cậu nhìn dòng chữ son đỏ quạch, rồi nhìn lại vết sẹo hình móng vuốt trên thanh nan cật tre ngoài sân, và âm thanh rít gào quái đản phát ra từ chiếc rương gỗ bọc sắt của ông nội ban nãy. Tất cả những thứ ấy không hề rời rạc. Chúng gắn liền với nhau bằng một sợi dây vô hình đen tối mà người lớn trong làng luôn cố công che giấu.
Tiếng húng hắng ho của ông Vạn từ ngoài sân vọng vào khiến Khoa bừng tỉnh.
Cậu vội vã gấp mảnh giấy dó lại theo đúng những nếp gấp cũ, nhét tọt vào túi trong của chiếc áo bà ba đang mặc. Cậu lắp lại tấm ván lưng khung ảnh, đặt ngay ngắn bức di ảnh của cha vào vị trí cũ sau bát hương, rồi nhảy tót xuống đất, vớ lấy chiếc chổi quét vội những hạt mùn tre vừa rơi vãi.
Khi ông Vạn lẹp xẹp bước chân qua ngưỡng cửa, Khoa đã đứng nghiêm chỉnh bên cạnh bàn thờ, chiếc khăn lau cầm ngay ngắn trên tay.
"Lau xong chưa?" Ông Vạn hỏi, giọng đã bình tĩnh lại nhưng ánh mắt vẫn lảng tránh nhìn vào di ảnh con trai.
"Cháu lau xong rồi ạ," Khoa đáp, giọng cố giữ cho không run rẩy.
"Xong rồi thì đi rửa chân tay rồi lên phản mà ngủ. Mai phải dậy từ canh năm để phụ khiêng cỗ sáo đại ra bãi đình. Đừng có lêu lổng ngoài đồng gió máy nữa."
Ông Vạn nói xong liền quay người đi thẳng vào gian buồng tối, cài chặt then cửa lại. Tiếng then gỗ trượt trên then cài vang lên khô khốc, khép kín mọi bí mật bên trong căn buồng có chiếc rương gỗ bọc đai sắt.
Khoa đứng một mình trong gian nhà chính mờ mịt ánh đèn dầu. Bàn tay cậu luồn sâu vào túi áo, siết chặt mảnh giấy dó khô ráp đang cộm lên bên sườn ngực. Dòng chữ viết bằng mực chu sa nham nhở như đang tỏa ra một luồng khí lạnh buốt, thấm qua làn vải thô cọ xát vào da thịt cậu.
Hội làng ngày mai, Khoa tự nhủ với đôi mắt rực sáng trong bóng tối, cậu nhất định sẽ tìm ra sự thật về con diều mà cha cậu từng cưỡi lên bầu trời Ba Vì năm xưa.